“Chúng ta sẽ không bao giờ vào được qua cổng Santa Ana. Đó là nơi được canh gác rất nghiêm ngặt và chỉ những người được phép của Vatican mới có thể ra vào.”
Dicanti và Fowler đã bí mật nghiên cứu tất cả những lối vào Tòa thánh từ một khoảng cách kín đáo và an toàn.
Mỗi người lần lượt thăm dò một lối vào để tránh sự chú ý. Chỉ còn chưa đến năm mươi phút nữa buổi lễ novena ở thánh đường Saint Peter sẽ bắt đầu.
Mới trước đó nửa tiếng, khi cái tên của Francis Casey, như một tiếng sét kinh hoàng đánh ngang tai, hiện ra trên tấm thẻ cầu nguyện của Đức mẹ Đồng trinh Carmen, hai người đã cuống cuồng kiểm tra trên Internet. Từ các trang báo điện tử, họ đã nhanh chóng xác định được thời gian và địa điểm mà Casey sẽ xuất hiện, tất cả đều được cung cấp đầy đủ cho bất kỳ ai muốn chiêm ngưỡng vị hồng y hành lễ.
Và bây giờ họ đã ở đây, trong quảng trường Saint Peter.
“Chúng ta sẽ phải vào qua cửa chính.”
“Không ăn thua. Đó là một cái bẫy phễu kinh điển. An ninh đã được thắt chặt ở tất cả mọi nơi, trừ đúng chỗ cửa chính, nơi công chúng có thể tự do ra vào. Và họ sẽ chờ sẵn chúng ta ở đó. Hơn nữa, dù có vào trong được thì chúng ta cũng không thể lại gần bàn thờ. Casey và người cùng ông ta tổ chức buổi lễ sẽ vào thánh đường từ phòng để đồ thánh. Từ đó trở ra thánh đường sẽ không có ai hết. Họ sẽ không dùng bàn thờ chính, vì đó là nơi dành riêng cho Giáo hoàng, mà dùng một bàn thờ phụ, nhưng ngay cả với bàn thờ phụ thì cũng có ít nhất là tám trăm người tham dự buổi lễ này.”
“Liệu Karosky có thực sự dám ra tay giữa từng ấy người không?”
“Tiến sĩ ạ, vấn đề của chúng ta là không biết ai đảm nhận vai gì trong vở kịch này. Nếu Liên minh Thần thánh muốn Casey phải chết, họ sẽ không cho phép chúng ta ngăn ông ta tổ chức buổi lễ. Còn nếu họ quyết tâm bắt Karosky, thì họ cũng không để chúng ta đánh động vị hồng y đâu. ông ta là mồi nhử ngon lành nhất của họ. Tôi tin chắc là, dù thế nào chăng nữa, đây cũng sẽ là màn cuối của vở bi kịch này.”
“Nhưng đến phần này của vở kịch thì không có vai nào cho chúng ta. Đã gần 11 rưỡi rồi.”
“Không đúng. Chúng ta sẽ tìm được đường vào thánh đường, né tránh các nhân viên của Cirin, và lẻn vào phòng để đồ thánhải ngăn chặn Casey tổ chức buổi lễ .
“Thế chúng ta sẽ làm cách nào đây, đức cha?”
“Chúng ta sẽ vào bằng một lối mà Cirin có nằm mơ cũng không nghĩ ra đâu.”
Bốn phút sau họ đã đứng ở cửa trước một tòa nhà năm tầng trông rất trang nghiêm. Paola biết Foler đã không nói quá . Có lẽ cả đời Cirin cũng không bao giờ nghĩ rằng Fowler lại tự mình gõ cửa Bộ Giáo lý Đức tin (hậu thân của Tòa án Dị giáo khét tiếng thời Trung cổ). Hay còn được gọi là Sant' Uffizio.
Một trong những lối vào thánh đường Saint Peter được bố trí giữa tòa nhà trụ sở của Sant’ Uffizio và Hàng cột Bernini. Lối vào này có một hàng rào chắn và một trạm gác. Thông thường bao giờ cũng có hai lính Cận vệ Thụy Sĩ đứng gác. Nhưng hôm nay có đến năm người, cộng thêm một sĩ quan cảnh sát Vatican. Trên tay anh ta là một cặp hồ sơ, bên trong có ảnh của Fowler và Dicanti, đây là điều mà cả hai người đều không ngờ tới. Tay cảnh sát Vigilanza này đã để ý thấy một cặp có vẻ giống như trong ảnh đang đi qua khoảng trống ngay trước mặt mình. Anh ta chỉ thoáng thấy họ trong giây lát trước khi cả hai biến mất, nên cũng không thể tuyệt đối chắc chắn đó chính là họ. Do không được phép rời bỏ vị trí, nên anh ta cũng không cố đuổi theo và xác định lại cho chính xác. Nhiệm vụ của anh ta là báo cáo lên cấp trên trong trường hợp có những người như vậy tìm cách thâm nhập vào Vatican, và giữ họ lại, có thể dùng vũ lực nếu cần thiết. Viên cảnh sát cũng ý thức được rằng đây là hai nhân vật được quan tâm đặc biệt. Anh ta nhấn nút máy bộ đàm và báo cáo vắn tắt những gì vừa thấy.
Ngay phía bên kia góc phố cắt với Porta Cavalleggeri, cách trạm gác nơi người cảnh sát đang đứng nghe chỉ thị có hai chục mét là lối vào trụ sở của Bộ Giáo lý và Đức tin, Sant’ Uffizio. Cánh cửa chính đang đóng chặt, nhưng bên ngoài có gắn chuông. Fowler kiên nhẫn để tay dính chặt trên nút bấm cho đến khi nghe thấy tiếng mở khóa lách cách phía bên trong cánh cửa. Khu mặt của một linh mục già hiện ra qua khe cửa.
“Các người muốn gì?” Ông ta làu bàu bằng một giọng không giấu vẻ khó chịu.
“Chúng tôi đến gặp Giám mục Haner.”
“Ông là ai?”
“Cha Fowler.”
“Không biết cái tên này.”
“Tôi là một người bạn cũ.”
“Giám mục Haner đang nằm nghỉ. Hôm nay là chủ nhật và tòa nhà đóng cửa rồi. Chúc vui vẻ.”
Ông ta vừa nói vừa xua tay như xua ruồi.
“Xin ông làm ơn cho tôi biết là tôi có thể tìm giám mục ở bệnh viện hay nghĩa trang nào được không?”
Vị linh mục già sững sờ.
“Ông bảo gì cơ?”
“Giám mục Haner đã bảo tôi rằng ông ấy sẽ không bao giờ nghỉ ngơi chừng nào ông ấy còn chưa bắt tôi phải trả giá cho những tội lỗi của mình, nên chắc bây giờ ông ấy đang ốm nặng hoặc qua đời rồi cũng nên. Chẳng còn cách giải thích nào khác cả.”
Nét mặt vị linh mục già thoáng chút thay đổi, từ sự thờ ơ bực bội chuyển sang cáu kỉnh, thù địch.
“Có vẻ như ông biết Giám mục Haner. Hãy chờ bên ngoài.”
Ông ta đóng sập cửa ngay trước mặt họ.
“Làm sao ông biết là cái ông Haner này vẫn ở đây?”
“Giám mục Haner chưa bao giờ nghỉ bất kỳ ngày chủ nhật nào trong suốt cả cuộc đời. đáng buồn nếu hôm nay lại là một ngoại lệ.”
“Ông ta là bạn ông à?”
Fowler hắng giọng.
“Thực ra ông ta căm ghét tôi hơn bất kỳ ai khác trên đời. Gonthas Haner giám sát công việc hàng ngày của các giáo sĩ. Ông ta là một tu sĩ dòng Tên già người Đức có nhiệm vụ giám sát Santa Alianza khi những điệp vụ ở nước ngoài của tổ chức này vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Đại loại cũng giống như Bộ Nội vụ ở các chính phủ thông thường ấy mà. Ông ta đã đưa tôi ra xét xử. Ông ta thực sự ác cảm với tôi vì tôi kiên quyết không hé một lời về những điệp vụ mà họ đã cử tôi đi.”.
“Nhưng ông vẫn được xóa tội cơ mà?”
“Thì cơ bản là vậy. Nhưng ông ta cho tôi biết ông ta đã chuẩn bị sẵn một tờ lệnh rút phép thông công có ghi tên tôi trên đó, và sớm hay muộn thì Giáo hoàng sẽ ký vào đó.”
“Một tờ rút phép thông công à?”
“Chính xác là một sắc chỉ rút phép thông công vĩnh viễn. Haner biết điều tôi thực sự e sợ trên đời này là một ngày nào đó nhà thờ mà tôi đã cống hiến trọn đời lại cấm cửa tôi bước vào thiên đường sau khi chết.”
Dicanti ném cho vị linh mục một cái nhìn khó hiểu.
“Nếu vậy thì chúng ta đến đây làm gì vậy, đức cha?”
“Tôi đến để nói hết lời thú tội.”