Câu trả lời của Fowler về một lời thú tội khiến Paola há hốc miệng. Nhưng cô chưa kịp nói lời nào thì cánh cửa của Sant' Uffizio đã mở toang. Thay cho vị linh mục già cau có đã chào đón họ trước đó, trước mặt họ lúc này là một vị giám mục. Mảnh dẻ, với mái tóc và bộ râu quai nón cũng một màu vàng óng, trông ông như chỉ khoảng ngoài năm mươi tuổi. Ông ta khinh bỉ cất giọng với Fowler bằng một thứ tiếng Italia pha khẩu âm Đức rất nặng, nhất là với những chữ r.
“Chà, chà. Xem ai xuất hiện trước cửa của ta sau bao nhiêu năm kìa. Vì sao ta lại có vinh dự bất ngờ này nhỉ?”
“Giám mục Haner, tôi có một việc cầu xin ông.”
“Cha Fowler, tôi e là ông không có tư cách để cầu xin điều gì hết. Mười hai năm trước tôi đã yêu cầu ông một việc và suốt bao ngày ông không chịu hé răng lấy một lời. Suốt bao nhiêu ngày liền! Ủy ban điều tra khi đó có thể đã cho rằng ông vô tội, nhưng ta thì không. Xin hãy ra khỏi đây ngay lập tức.”
Ngón tay trỏ của vị giám mục chỉ thẳng về phía Porta Cavalleggeri.
Paola có cảm giác với ngón tay dứt khoát và lạnh lùng của mình, ông ta có thể làm cho Fowler phải tuyệt vọng.
Fowler buộc phải tung ra con bài chủ chốt.
“Ông vẫn chưa biết tôi sẽ đổi lại bằng cái gì mà.”
Vị giám mục bình thản khoanh tay trước ngực.
“Tiếp tục đi, Fowler.”
“Rất có thể sẽ xảy ra một vụ giết người trong Thánh đường nửa giờ nữa. Tôi và Thanh tra Dicanti đi cùng đây đang cố gắng ngăn chặn điều đó. Đáng tiếc là chúng tôi không sao vược bên trong. Camilo Cirin đã cấm cửa chúng tôi. Tôi xin ông hãy để chúng tôi vào qua tòa nhà này đến bãi đỗ xe, từ đó chúng tôi có thể vào trong thánh đường mà không ai để ý.”
“Và đổi lại?”
“Tôi sẽ trả lời tất cả những câu hỏi của ông về El Aguacate. Ngày mai.”
Haner quay sang nhìn Paola.
“Cho tôi xem giấy tờ chứng minh.”
Paola không còn tấm phù hiệu cảnh sát vì Troy đã yêu cầu cô nộp lại cho ông ta. Thật may mắn, cô vẫn còn giữ lại tấm thẻ ra vào trụ sở UACV. Cô bèn trịch thượng chìa nó ra trước mặt vị giám mục, thầm cầu mong ông ta sẽ đồng ý.
Haner cầm tấm thẻ từ tay Dicanti. Ông chằm chằm nhìn mặt cô rồi so sánh với bức ảnh in trên thẻ, biểu tượng của UACV, thậm chí cả dải từ in kèm.
“Căn cứ vào tấm thẻ này thì cô có thể vào trong. Cha Fowler, ta phải nói rằng, ngoài vô số tội lỗi xấu xa mà ông đã phạm vào, còn phải kể thêm tội ham mê nhục dục nữa.”
Paola quay mặt qua một bên để vị giám mục không nhìn thấy nụ cười tinh quái đang nở trên môi cô. Cô nhẹ cả người khi thấy Fowler làm vẻ nghiêm nghị đáp lại ánh nhìn xoi mói của vị giám mục. Haner hắng giọng, không hề giấu giếm vẻ khinh bỉ.
“Fowler, ở đâu ông đến là ở đó có máu đổ và chết chóc. Những gì ta đã nghĩ về ông chưa bao giờ thay đổi. Ta không hề muốn để ông vào.”
Vị linh mục đang định đáp lời Haner, nhưng ông ta đã không để ông kịp lên tiếng.
“Mặc dù vậy, ta biết ông là người trọng danh dự. Ta chấp thuận lời cầu xin của ông. Ngày hôm nay cả hai người được phép vào thánh đường, nhưng ngày mai ông sẽ phảp ta, và ông sẽ cho ta biết toàn bộ sự thật.”
Nói xong, ông ta lặng lẽ tránh qua một bên. Fowler và Dicanti bước vào trong tòa nhà. Hành lang được bài trí rất trang nhã và giản dị với những bức tường sơn màu kem, hoàn toàn không có tranh tượng hay phù điêu trang trí nào. Trong một ngày chủ nhật yên tĩnh như thế này, tòa nhà toát lên một vẻ rờn rợn, u tịch, Paola bất giác nghĩ có lẽ Haner là người duy nhất có mặt ở đây, dẻo dai và bền bỉ như một thanh trường kiếm. Có lẽ ông ta tự coi mình là một người thực hiện công lý của Chúa trời. Cô chợt rùng mình khi nghĩ đến việc một vị giám mục với đầu óc cuồng tín đảm nhiệm cương vị như thế này sẽ còn đáng sợ đến đâu nếu ông ta sống trong thời kỳ tăm tối cách đây khoảng bốn thế kỷ.
“Mai tôi sẽ gặp ông, cha Fowler ạ. Và chắc chắn tôi sẽ rất lấy làm vinh hạnh được cho ông thấy một tài liệu mà tôi vẫn giữ chờ ông đấy.”
Fowler dẫn Paola đi dọc hành lang dẫn xuống một tầng hầm phía dưới, không thèm ngoái đầu lại. Có lẽ ông sợ bắt gặp hình ảnh Haner vẫn đứng đó, bên cánh cửa, chờ đợi ông quay lại vào ngày mai.
“Kể ra cũng kỳ quặc thật, thưa Đức cha. Người ta thường ra khỏi Nhà thờ qua Sant' Uffizio, chứ không phải đi vào như thế này.”
Gương mặt Fowler lộ vẻ châm biếm và cay đắng.
“Tôi hy vọng là việc chúng ta tóm được Karosky không đồng nghĩa với việc chúng ta đang cứu mạng vị Giáo hoàng tương lai, người sẽ ban tặng tôi một tờ sắc lệnh rút phép thông công.”
Họ bước đến lối thoát hiểm. Có một cửa sổ trông thẳng ra bãi đỗ xe. Fowler ấn thanh tay cầm ở giữa cửa và thản nhiên thò đầu ra ngoài như không có chuyện gì xảy ra. Cách đó ba mươi mét, những người lính gác Thụy Sĩ vẫn đang chăm chú theo dõi đường phố. Ông đóng cửa sổ
“Chúng ta phải nhanh chân lên, phải tiếp cận Casey và giải thích tình hình trước khi Karosky có thể ra tay kết liễu ông ta.”
“Chúng ta sẽ đến đó bằng cách nào đây?”
“Chúng ta sẽ ra khỏi bãi đỗ xe và tiếp tục đi, men càng sát tường càng tốt, thành hàng một. Ra khỏi bãi đỗ xe tức là chúng ta sẽ đứng trước tòa nhà nơi Giáo hoàng thường tổ chức thuyết giảng trước công chúng. Chúng ta sẽ tiếp tục đi, men sát chân tường cho đến góc nhà kia. Nhớ là phái nhanh chóng đi cắt ngang bãi đỗ xe kia nhé. Quay mặt về bên phải, vì không biết ở khu vực đó có ai đang đề phòng chúng ta không. Tôi sẽ đi trước, còn cô bám ngay sau, thống nhất thế nhé?”
Paola gật đầu và khẩn trương rảo bước bám theo vị linh mục. Hai người đến được phòng để đồ thánh một cách êm đẹp như kế hoạch.
Gọi là phòng nhưng thực chất đó là cả một tòa bảo tàng đồ sộ, nằm sát một bên của thánh đường. Trong này có một bảo tàng lớn, quanh năm suốt tháng mở cửa chào đón khách du lịch tham quan, chiêm ngưỡng những kho báu giá trị nhất của Thiên Chúa giáo.
Fowler nhẹ nhàng bước về phía cửa chính.
Cánh cửa đang he hé mở.