Thứ bảy, ngày 9 tháng 4 năm 2005, 3:17.
Andrea Otero vẫn còn chưa hết sợ hãi.
Không, thưa ngài, cô tự nhủ, tôi không sợ, phải nói là tôi chết khiếp thấy mẹ luôn.
Điều đầu tiên cô làm khi vào đến sảnh khách sạn là mua một lúc ba bao thuốc lá. Sau khi rít hết bao đầu tiên, cô đã thấy khá hơn. Lúc này cô đang tiêu diệt nốt bao thứ hai, mọi chuyện đã có vẻ tươi sáng hẳn lên. Cô có cảm giác lâng lâng như người say sóng, một chút mơ màng, nhẹ nhõm.
Cô ngồi bệt hẳn xuống sàn phòng, dựa lưng vào tường, hai tay ôm vòng xuống chân, miệng rít thuốc liên tục Chiếc máy tính xách tay đã đóng sập xuống, nằm chỏng chơ phía bên kia phòng.
Tính đi tính lại thì cô đã hành động đúng. Sau khi xem được bốn mươi giây trong đoạn phim của Victor Karosky - nếu đó là tên thật của hắn - cô chỉ chực nôn thốc nôn tháo. Andrea chưa bao giờ là người có thể kìm được cơn buồn nôn, thế là cô vội vàng lao ra thùng rác gần nhất, một tay bụm miệng và tống sạch những mớ bầy nhầy toàn pho mát mà mì ống, bánh sừng bò trong bữa sáng và cả thứ gì đó cô không nhớ là mình đã ăn nhưng có lẽ đó là bữa tối qua. Cô tự hỏi liệu nôn ọe ngay trong Tòa thánh như thế này có phải là điều báng bổ không, và cũng tự rút ra kết luận là chắc không sao.
Khi thế giới xung quanh có vẻ đã ngừng chao đảo, cô loạng choạng quay lại cửa phòng họp báo băn khoăn tự hỏi là mình vừa phạm một tội ác tày trời, kiểu gì chẳng có người phát hiện ra rồi. Chắc chắn là lúc này đã có hai người lính Cận vệ Thụy Sĩ sẵn sàng bắt giữ cô vì tội vi phạm luật thư tín, hay bất kỳ thuật ngữ nào mà họ có thể nghĩ ra cho việc mở một phong bì không gửi cho mình. Mà thực ra thì quả thật là chẳng có phong bì nào đề tên người nhận là Andrea Otero cả.
OK, thưa ngài Cảnh sát, tôi cứ tưởng đó là một quả bom thưà tôi đã hành động hết sức dũng cảm còn gì. Cứ bình tĩnh. Tôi vẫn sẽ chờ ở đây trong khi các ngày đi lấy huân chương.
Nói như thế có vẻ không thuyết phục cho lắm. Hoàn toàn không thuyết phục. Nhưng cô nàng phóng viên cũng không việc gì phải tìm kiếm lời giải thích đối với những người bắt giữ mình vì rốt cuộc chẳng có ai cả. Andrea bình tĩnh thu nhặt đồ đạc của mình, chậm rãi rời khỏi Vatican như không có chuyện gì xảy ra, mỉm cười đong đưa với những người lính Cận vệ Thụy Sĩ gác ở Cổng Vòm chuông, lối ra vào dành cho các nhà báo, trước khi đi ngang qua Quảng trường Saint Peter, sau nhiều ngày chật cứng bây giờ đã vắng hoe. Chỉ đến khi ra khỏi ta xi để vào khách sạn cô mới không còn có cảm giác đang bị những người lính Cận vệ Thụy Sĩ theo dõi. Thậm chí nửa tiếng sau cô mới rũ bỏ được nỗi nghi ngờ rằng họ vẫn đang bám theo cô.
Và đã không ai bám theo cô, cũng chẳng có ai nghi ngờ điều gì. Cô đã tống chín phong bì chưa mở vào một thùng rác ở Piazza Navona. Cô không muốn họ tóm được mình với tất cả bằng chứng phạm tội rành rành. Sau đó cô đi thẳng lên phòng mình, không quên ghé qua quầy bán thuốc lá.
Khi đã cảm thấy dễ chịu hơn, sau khi tỉ mẩn kiểm tra lọ hoa khô trong phòng lần thứ ba xem có ai đặt máy quay phim hoặc ghi âm bí mật không, cô cho chiếc đĩa vào máy tính xách tay và bắt đầu xem lại bộ phim.
Lần thứ nhất cô cố gắng trụ được khoảng sáu mươi giây. Lần thứ hai, cô gần như xem trọn vẹn. Cuối cùng thì lần ba cô cũng xem hết một mạch, nhưng vẫn phải chạy vào trong phòng tắm để ợ ra cốc nước mà cô vừa uống lúc lên phòng, cùng tất cả những mật xanh, mật vàng còn lại trong người. Lần thứ tư, cô đã có đủ bình tĩnh để thuyết phục bản thân mình rằng đây là chuyện có thật, chứ không phải là một cuốn băng nhại theo bộ phim kinh dị The Blair Witch Project. Nhưng, như chúng ta đã thấy, Andrea là một phóng viên rất sắc sảo, bình thường thì đây vừa là điểm mạnh cũng là điểm yếu của cô. Bản năng săn tin của cô đã mách bảo ngay từ lần đầu tiên rằng bộ phim là cảnh quay thật. Có thể một nhà báo khác đã khinh bỉ khi nhìn những hình ảnh trong phim, và khăng khăng nó là đồ giả. Nhưng Andrea vốn đã tìm kiếm Hồng y Robayra suất nhiều ngày qua, và cô nghi ngờ còn những hồng y khác cũng đang mất tích. Cái tên của Robayra được nhắc đến trong bộ phim đã khiến những mối nghi ngờ của cô hoàn toàn được xác định.
Cô xem bộ phim lần thứ năm, chỉ để quen dần với những hình ảnh trong đó. Rồi xem lại lần thứ sáu, để ghi chép, chỉ đơn giản là những nét nguệch ngoạc trên quyển sổ tay. Cô đóng chiếc máy tính xách tay lại, ngồi tránh xa nó một quãng an toàn cách hẳn một chiếc bàn và chiếc máy điều hòa đứng trong phòng. Đó là lúc cô bắt đầu đáp lại sự quyến rũ của chất nicotine vừa mua.
“Rõ ràng đây đâu phải lúc đoạn tuyệt với thuốc lá cơ chứ!” Những hình ảnh này thực sự là một cơn ác mộng. Ban đầu cảm giác thù hận mà chúng gợi lên, sự nhầy nhụa bẩn thỉu trong từng khuôn hình khiến cô tê dại như người mất hồn suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đã quen dần với cú sốc và đầu óc đã có thể suy nghĩ trở lại, cô bắt đầu sắp xếp lại những gì mình đang có trong tay. Cô lấy ra quyển sổ và viết ra ba điểm chính đóng vai trò như đề cương chính của bài báo sắp thực hiện.
1. Một kẻ giết người hàng loạt đang sát hại các hồng y của Tòa thánh Công giáo.
2. Tòa thánh Công giáo đang bí mật liên kết với cảnh sát Italia để bưng bít chuyện này.
3. Đáng chú ý, Hội nghị bầu giáo hoàng, với vai trò quan trọng của các hồng y, sẽ bắt đầu sau tám ngày nữa.
Ban đầu cô định viết là chín nhưng rồi lại sửa thành tám. Bây giờ đã là thứ bảy rồi.
Nhất định cô phải viết một bài phản ánh tuyệt cú mèo. Một bài phản ánh hoàn chỉnh, dài hẳn ba trang, với những nét khái quát, những câu trích nguyên văn, chú giải, và một hàng tít thật hấp dẫn. Cô không thể gửi trước bất kỳ hình ảnh nào cho tòa soạn vì không nghi ngờ gì nữa, họ sẽ ngay lập tức loại cô ra khỏi câu chuyện này. Chắc chắn tay tổng biên tập sẽ lôi Paloma ra khỏi giường bệnh để câu chuyện có thêm trọng lượng xứng đáng. May ra thì họ chỉ đề cập đến Andrea trong một dòng chú thích nhỏ ở đầu hoặc cuối bài báo. Nhưng nếu cô gửi một bài hoàn chỉnh về tòa soạn, dàn trang đâu ra đấy và sẵn sàng gửi đi in luôn, thì ngay cả chính tổng biên tập cũng không thể thay tên cô đi được. Chuyện đó sẽ không thể xảy ra, vì trong trường hợp này Andrea cũng sẽ gửi một bản fax cho tờ El Pais và một tờ nhật báo khác với toàn bộ bài viết và những bức ảnh trước khi chúng được xuất bản. Mặc xác cái quy định chết tiệt về việc độc quyền, công việc của cô cũng không còn là điều mà Andrea quan tâm lúc này.
“Như ông anh trai Miguel Angel vẫn nói, - “Chúng ta ai chẳng làm tình, nếu không thì gái điếm để cho ai.”
Đó không hoàn toàn là một cách so sánh phù hợp với một cô gái trẻ như Andrea Otero, nhưng chẳng có ai xía vào mà khăng khăng rằng cô là một cô gái trẻ. Có cô gái tử tế nào lại đi bóc trộm thư từ của người khác như cô đã làm, nhưng việc đếch gì phải bận tâm chứ. Cô bắt đầu hình dung ra mình đang viết cuốn best-seller : Tôi bắt được kẻ giết hồng y. Hàng trăm nghìn bản sách mang tên cô trên bìa, những cuộc phỏng vấn khắp nơi trên thế giới, những hội thảo bàn cãi sôi nổi xung quanh điều mà cô tiết lộ. Vụ ăn cắp trắng trợn này xét cho cùng vẫn là việc đáng làm đấy chứ.
Tất nhiên là, cô tự nhủ, thỉnh thoảng cũng phải thận trọng xem mình cướp của ai. Bởi vì là thông điệp đó đâu có được gửi từ các nhân vật cao cấp của một tờ báo. Nó được gửi bởi một kẻ giết người hàng loạt, chắc lúc này hắn đang sốt ruột tính từng giờ chờ đợi lúc thông điệp của hắn được truyền đi khắp thế
Cô bình tĩnh cân nhắc các lựa chọn của mình. Bây giờ đã là thứ bảy. Tất nhiên là cho dù ai gửi cái đĩa đi nữa thì cũng phải đến hết sáng nay mới biết được rằng nó đã không đến được tay người nhận. Nếu như dịch vụ chuyển Phát nhanh làm việc cả thứ bảy, điều này thì cô rất nghi ngờ, tên giết người hẳn đã sẽ nhanh chóng truy tìm cô, có lẽ là chỉ đến 10 hay 11 giờ sáng là hắn sẽ tìm được.
Nhưng cô không tin là người đưa bưu phẩm kịp đọc tấm thẻ tên cô đeo trên cổ lúc đó. Có vẻ như anh ta còn bận tâm hơn với những cái nằm ngay phía dưới, bên trong áo sơ mi của cô. Trường hợp lý tưởng nhất, nếu dịch vụ này đóng cửa đến tận thứ hai, cô còn có hai ngày. Trường hợp tệ nhất, chỉ còn vài tiếng.
Đúng là Andrea đã học được rằng lúc nào cũng vậy điều tồi tệ nhất lại dễ xảy ra nhất. Vì vậy kiểu gì cô cũng phải nhanh chóng hoàn thành câu chuyện. Ngay sau khi tổng biên tập tờ báo quyết định cho đăng, cô sẽ phải nhuộm tóc, lẩn trốn sau cặp kính râm to sùm sụp, và bay ra khỏi khách sạn như một con ong.
Cô đứng bật dậy và tự khích lệ mình phải mạnh mẽ lên.
Cô bật máy tính và mở chương trình lên ma két in của tờ báo. Cô bắt đầu viết vào các template và cảm thấy dễ chịu hơn khi thấy từng câu chữ xuất hiện trên màn hình.
Phải mất gần một tiếng đồng hồ cô mới chuẩn bị xong đề cương chi tiết cho bài báo ba trang của mình. Đúng lúc đó thì điện thoại di động của cô đổ chuông.
Ai mà lại gọi cho mình vào số này nhỉ, lại vào lúc ba giờ sáng cơ chứ?
Chỉ tòa soạn mới có số này . Cô chưa hề cho ai số này cả, thậm chí cả gia đình cũng không. Thế chắc là ai đó ở ban biên tập, chuyện khẩn cấp đây. Cô đứng d và lục tung túi để tìm điện thoại. Cô nhìn màn hình, những tưởng sẽ nhìn thấy một dãy số dài dằng dặc của một thuê bao gọi đến từ Tây Ban Nha, nhưng những gì cô chứng kiến lại là một màn hình trống hoác phần số người gọi đến. Thậm chí nó còn không hiển thị cả câu Unknow Caller (Không rõ người gọi).
Cô áp điện thoại vào tai.
“Alô”
“Âm thanh duy nhất ở đầu kia là tín hiệu bận.
Cô ngắt máy.
Nhưng có gì đó trong đầu cô mách bảo rằng đó là một cú điện thoại cực kỳ quan trọng và cô không còn nhiều thời gian. Cô tiếp tục với bàn phím máy tính, gõ nhoay nhoáy, nhanh hơn bao giờ hết. Những lỗi đánh máy cô cũng bỏ qua - dù sao thì cô vẫn là một người đánh vần cực tốt, ngay từ năm lên tám. Để ban biên tập ở tòa soạn sửa hộ cũng được. Không hiểu sao cô lại hối hả hoàn thành bài báo nhanh khủng khiếp.
Mất trọn vẹn bốn tiếng đồng hồ cô mới hoàn thành toàn bộ bài báo của mình; tốn thêm bao nhiêu thời gian tìm kiếm thông tin và ảnh của các hồng y, tin tức, tiểu sử, và cái chết của họ. Trong đó có cả những hình ảnh được trích từ bộ phim của Karosky. Kể cả những hình ảnh mà ngay chính cô vẫn còn thấy kinh tởm. Thật kinh khủng. Cứ để Ban biên tập xem xét và quyết định có cắt hay để nguyên.
Cô đang viết dở những dòng cuối cùng để kết thúc bài báo thì có tiếng gõ cửa.