Chủ nhật, ngày 10 tháng 4 năm 2005, 8:41 sáng.
Lần này đến lượt Fowler choàng tỉnh giữa mùi cà phê mới pha thơm ngào ngạt.
“Xin mời đức cha.”
Ông liếc nhìn cô, bối rối vì câu mời khách sáo. Cô bình thản nhìn lại ông, và ông chợt hiểu. Bao hy vọng đã tan biến cùng ánh sáng bình minh trong trẻo đang tràn ngập căn phòng. Ông không nói gì và cô cũng chẳng kỳ vọng điều gì hết. Ông chẳng có gì cho cô ngoài nỗi đau và niềm tuyệt vọng. Dù vậy ông vẫn cảm thấy thoải mái hơn, một cảm giác nhẹ nhõm khi biết rằng cả hai người đã vượt qua được nỗi đau, đã biết tìm sức mạnh từ điểm yếu của chính mình. Rất dễ nghĩ rằng Fowler đã lạc bước khỏi thiên hướng của mình, nhưng không phải như vậy. Sự thật lại hoàn toàn khác: vị linh mục thấy cảm kích vì cô đã thuần phục được những con quỷ trong lòng ông, dù chỉ là trong một thời gian ngắn ngủi.
Cô cũng thấy hạnh phúc vì ông đã hiểu. Cô ngồi bên mép giường, mỉm cười dịu dàng. Đó chẳng phải là một nụ cười gượng gạo, vì trong những giờ qua cô đã vượt qua một trở ngại tưởng chừng như cô vọng. Buổi sáng tươi tắn đã không mang đến điều chắc chắn, nhưng ít nhất thì nỗi hoang mang trong lòng cô cũng đã vơi bớt đi rất nhiều.
Có thể cô đang tìm cách giữ khoảng cách với ông chỉ để cho nhẹ lòng, để đỡ phải chịu đựng thêm những nỗi đau mới. Nhưng ngay cả điều tưởng chừng như hiển nhiên này cũng không đúng hoàn toàn: cô hiểu Fowler, biết rằng ông luôn giữ lời hứa của mình và sẽ không bao giờ từ bỏ cuộc thập tự chinh đơn độc.
“Tiến sĩ, tôi có chuyện này phải nói với cô, cũng không dễ chịu lắm đâu.”
“Ông cứ nói đi, đức cha ạ.”
“Nếu sau này cô có thôi làm chuyên gia tâm lý tội phạm, thì cũng đừng có mở quán cà phê,” - ông vừa nói vừa làm ra vẻ nhăn nhó chỉ về phía tách cà phê cô vừa mang đến.
Cả hai cùng bật cười, trong trong giây lát tất cả trở nên thật hoàn hảo và dễ chịu.
Nửa giờ sau, khi đã tắm táp sạch sẽ và sảng khoái, hai người tiếp tục đi sâu vào chi tiết của vụ án. Fowler đứng bên cửa sổ trong phòng Paola, còn cô thì ngồi bên bàn làm việc của mình.
“Cha biết không? Trong ánh sáng ban mai như lúc này, giả thuyết của chúng ta rằng Karosky là một sát thủ làm theo mệnh lệnh của Lnh thần thánh nghe càng có vẻ kỳ quặc và không thực thế nào ấy.”
“Có lẽ vậy thật. Mặc dù vậy, trong ánh sáng ban mai, việc giết và cắt xẻo thi thể của ba vị hồng y cũng như Pontiero, vẫn là có thật. Và nếu tôi không lầm, chỉ có chúng ta mới có thể ngăn chặn được Karosky.”
Chỉ những lời đó cũng đủ làm mất đi vẻ lấp lánh ấm áp của khoảnh khắc bình minh. Trong lòng Paola lại nặng trĩu cảm giác bứt rứt và căng thẳng. Hơn lúc nào hết cô ý thức được trách nhiệm của họ là phải tóm bằng được con quái vật này. Vì Pontiero, vì Fowler, và vì chính cô. Và khi tóm được hắn trong tay, cô chỉ muốn tra hỏi hắn xem ai là người đứng đằng sau chỉ đạo và mưu toan tất cả những chuyện này. Trong tâm trạng lúc này, cô không sao kiềm chế nổi mình.
“Vigilanza thì coi như không ăn thua gì rồi, tôi rất hiểu điều đó. Nhưng còn lực lượng Cận vệ Thụy Sĩ thì sao?”
“Quân phục đẹp đấy, nhưng thực ra họ cũng vô dụng. Có khi thậm chí họ còn không biết đã có ba hồng y đã bị giết. Tôi không đánh giá cao lực lượng này cho lắm, chẳng qua họ chỉ là cảnh sát giao thông.”
Paola bực bội xoa cổ, lắc lắc đầu.
“Vậy chúng ta phải làm gì bây giờ?”
“Tôi không biết. Chúng ta không có manh mối về việc Karosky sẽ tấn công ở đâu, và từ hôm qua đến giờ hắn hoàn toàn có thể ra tay dễ dàng hơn nhiều”
“Ý cha là sao?”
“Các hồng y đã bắt đầu buổi lễ novena để nguyện cầu cho linh hồn của Giáo hoàng. Buổi lễ này bao giờ cũng được tiến hành trong chín ngày liền sau khi có một vị giáo hoàng qua đời.”
“Ông không định nói là
“Chính thế đấy. Buổi lễ sẽ được tổ chức ở Rome, tại San Giovanni ở Laterno, Santa Maria Maggiore, San Pietro, San Paolo fuori le Mura...Các hồng y chia thành nhóm hai người, có mặt ở năm mươi nhà thờ quan trọng nhất của thành Rome. Đó là truyền thống, và tôi cho rằng họ sẽ không bao giờ thay đổi, dù có thế nào chăng nữa. Nếu như Santa Alianza có liên quan đến vụ này thì đây sẽ là thời khắc lý tưởng cho việc ra tay ám sát. Câu chuyện vẫn chưa đến tai công chúng, và nhiều khả năng là các hồng y sẽ phản đối nếu Cirin tìm cách ngăn họ tổ chức lễ novena. Không, tôi dám chắc những buổi lễ sẽ vẫn diễn ra như thường, bất chấp tất cả. Và tình hình có thể trở nên rất tệ, hoàn toàn có khả năng một hồng y nữa đã vừa bị giết mà chúng ta còn chưa biết.”
“Mẹ kiếp, tôi phải hút điếu thuốc mới được.”
Paola lục lọi khắp ngăn kéo bàn và sờ soạng quanh áo khoác để tìm bao thuốc của Pontiero. Cô thọc tay vào túi ngực, ngón tay cô chạm vào vật gì đó nhỏ nhắn và rất cứng.
“Cái gì thế nhỉ?”
Cô rút ra một tấm thẻ dài khoảng 5cm, một bên in hình ảnh của Đức mẹ Đồng trinh Carmen. Đó chính là tấm ảnh mà tu sĩ Francesco Tomas đã trao cho Paola trước khi cô rời khỏi nhà thờ Santa Maria ở Traspontina. Tất nhiên đó là Karosky, hung thủ giết người, dưới vỏ bọc là một tu sĩ dòng Carmelite. Hóa ra cô đang mặc đúng chiếc áo khoác đen cô đã mặc hôm thứ ba tuần trước, và bức ảnh cứng vẫn nằm nguyên trong đó.
“Làm sao tôi có thể quên mất nhỉ? Đây chính là bằng chứng.”
Fowler lại gần với ánh mắt tò mò.
“Một tấm thẻ cầu nguyện, có hình Đức mẹ Đồng trinh Carmen. Đằng sau có viết gì kìa.”
Fowler đọc to lên. Đó là một đoạ viết bằng tiếng Anh.
If your very own brother, or your son, or your daughter,
Or the wife, or your closest friend secretly entices you,
Do not yield to him or listen to him. Shov him no pity
Do not spare him or shield him
You must certainly put him to death.
Then all Israel will heard and afraid,
And no one among you will do such a wicked thing again.
(Khi anh em một mẹ với ngươi, hay là con trai, con gái ngươi, vợ yêu mến, hoặc bạn hữu thân thiết của ngươi, xúi giục ngươi, thì chớ chịu theo nó, chớ khá nghe nó. Mắt ngươi đừng thương tiếc nó; chớ động lòng xót xa mà che chở cho nó. Ngươi hẳn phải giết nó. Vậy, cả Israel sẽ hay điều đó và sợ hãi, chẳng còn làm một việc ác dường ấy tại giữa ngươi nữa.)
“Tôi nghĩ đây là một câu trích trong sách Deutoronomy” ([1]) chương 13, câu 7.”
“Mẹ kiếp!”
Paola rít lên qua kẽ răng nghiến chặt. “Nó nằm trong túi tôi suốt cả tuần vừa rồi. Lẽ ra tôi phải chột dạ khi thấy nó được viết bằng tiếng Anh chứ.”
“Đừng tự trách mình nữa. Một tu sĩ đưa cho cô tấm thẻ cầu nguyện. Và với người thờ ơ tôn giáo như cô, việc cô quên bẵng nó đi là chuyện hoàn toàn bình thường.”
“Đồng ý là thế, nhưng ngay sau đó chúng ta đã biết tu sĩ đó thực sự là ai. Lẽ ra tôi phải nhớ ngay đến việc hắn đã đưa cái này cho tôi. Thế mà tôi cứ đi vắt óc nhớ bộ mặt của hắn mà tôi chỉ thấy loáng thoáng trong bóng tối. Ngay c...”
Ta đã cố giải thích từ đó cho ngươi, ngươi còn nhớ chứ?
Paola tức giận đến ngạt thở. Fowler quay người lại với tấm thẻ trên tay.
“Nhìn này Paola, đó chỉ là một tấm thẻ cầu nguyện hàng ngày. Hắn đã dán một mẩu băng dính lên phía sau...”
Đức mẹ Đồng trinh Carmen.
“Để đánh dấu đoạn văn hắn trích. Sách Deuteronomy là...”
Cô nhớ luôn mang theo mình.
“Một nguồn trích dẫn không bình thường đối với một tấm thẻ cầu nguyện như thế này, cô có thấy thế không? Tôi cho rằng...”
Nó sẽ giúp cô tìm ra con đường đi đúng đắn trong những giây phút khó khăn nhất.
“Nếu tôi bóc một góc của mẩu băng dính này, tôi sẽ gỡ được nó ra...”
“Đừng có bóc!” Paola chụp lấy tay Fowler để ngăn ông.
Fowler giật mình lùi lại, mở tròn mắt. Ông đứng cứng đờ người để cô lấy lại tấm thẻ từ tay mình.
“Tôi xin lỗi vì đã quát lên với ông.” - Paola nhẹ nhàng nói, cố gắng bình tĩnh lại. “Tôi vừa chợt nhớ ra là Karosky đã bảo tôi rằng tấm thẻ này sẽ giúp tôi tìm được đường đi trong những thời khắc khó khăn. Tôi nghĩ đó có thể là một thông điệp, và hắn cho vào đây để trêu ngươi chúng ta.”
“Có thể. Hoặc có khi đó chỉ là một thủ đoạn nhằm đánh lạc hướng chúng ta.”
“Điều duy nhất mà chúng ta biết chắc lúc này là chúng ta còn thiếu quá nhiều mảnh ghép để giải đáp câu đố này. Có thể ở đây sẽ có đầu mối.”
Cô lật mặt kia của tấm thẻ lại, giơ ra chỗ sáng là ngửi mùi giấy.
Không có gì.
“Câu trích từ Kinh thánh có thể là đầu mối. Nhưng hắn định nói gì nhỉ?”
“Tôi không biết, nhưng tôi nghĩ chắc phải có gì đó ở đây, mà chỉ nhìn qua thì không thấy được. À, tôi vừa nghĩ là chúng ta đã có một dụng cụ rất lý tưởng cho công việc này rồi.”
Dicanti lục lọi hồi lâu trong một góc chứa đồ gần đó.
Lát sau cô lôi ra một chiếc hộp bám đầy bụi bặm. Cô thận trọng đặt nó lên bàn.
“Từ hồi còn học đại học đến giờ tôi chưa dùng lại nó. Đây là quà tặng của bố tôi đấy.”
Cô nhẹ nhàng mở chiếc hộp với vẻ thành kính. Cô vẫn còn nhớ như in lời quảng cáo đi kèm với món đồ này, về giá trị của nó và những chú ý khi sử dụng. Cô lấy nó ra và đặt lên mặt bàn. Đó là một chiếc kính hiển vi thông thường: Paola đã sử dụng vô số thiết bị phóng đại còn đắt tiền hơn chiếc kính hiển vi này hàng ngàn lần hồi học đại học, nhưng không có chiếc nào được cô đối xử một cách trân trọng và tình cảm như nó. Paola thích cảm thấy rằng chiếc kính hiển vi là một mối liên kết chặt chẽ giữa cô và bố. Cô quyết định sẽ lưu giữ những kỷ niệm ấm áp về ông còn hơn là đau khổ mãi với câu hỏi đầy cay đắng rằng tại sao Chúa lại cướp ông đi quá sớm.
Chiếc kính hiển vi vẫn sạch sẽ như mới, không một hạt bụi vì được bọc cẩn thận trong một lớp giấy dầu và có nylon bên ngoài. Cô đặt tấm thẻ bên dưới ống kính và bắt đầu điều chỉnh. Tay trái cô từ từ dịch chuyển tấm thều màu sặc sỡ chăm chú săm soi từng góc một trên hình ảnh Đức mẹ Đồng trinh. Chẳng có gì khác thường.
Cô lật mặt kia của tấm thẻ lên.
“Chờ chút... Hình như ở đây có gì đó.”
Paola để Fowler nhìn qua ống kính. Sau khi phóng to mười lăm lần, những con chữ trên tấm thẻ trông giống như những quân cờ vua đen sì. Xung quanh một chữ cái có một vòng tròn trắng nhỏ xíu.
“Trông như là vết kim châm vậy.”
Đến lượt Paola nhìn vào ống kính.
“Tôi cũng nghĩ đây là vết châm bằng kim nhọn. Hình như là có chủ ý. Vòng tròn trông rất đều nhau.”
Vòng tròn đầu tiên xuất hiện ở đâu?”
“Ở chữ f trong từ if.”
“Tìm kiếm tiếp xem sao. Xem xung quanh những chữ cái khác có vết kim châm nào nữa không.”
Paola kiểm tra từng chữ cái một trong dòng đầu tiên.
“Có thêm vòng nữa này.”
“Tiếp tục đi, tiếp tục đi.”
Sau tám phút căng mắt tìm kiếm, Paola đã tìm thấy cả thảy mười hai chữ cái được khuyên bằng một vòng tròn bằng vết kim châm.
If your very own brother, or your son, or your daughter,
Or the wife, or your closest friend secretly entices
You must certainly put him to death.
Then all Israel will heard and afraid,
And no one among you will do such a wicked thing again.
Sau khi chắc chắn không còn thêm vết khuyên tròn nào nữa, Paola viết ra giấy những chữ cái trên theo thứ tự xuất hiện trong câu trích. Những gì hiện ra trước mắt làm cả hai sững sờ. Và Paola bắt đầu chắp nối các mảnh lại với nhau.
Khi anh em một mẹ với ngươi xúi giục ngươi: Những buổi điều trị tâm thần.
Mắt ngươi đừng phương tiếc nó; chớ động lòng xót xa mà che chở cho nó: Những lá thư gửi cho các gia đình nạn nhân mà Karosky đã lạm dụng tình dục.
Ngươi hẳn phải giết nó.
Cô nhận ra cái tên liên quan đến tất cả những chuyện này.
FRANCIS CASEY.
❀ ❀ ❀
[1] Quyển thứ năm trong Kinh Cựu ước, lặp lại 10 điều răn của Chúa trời và Luật Moses.