Peter O'Toole đẩy mạnh cánh cửa đồn cảnh sát. Không khỏi nghĩ bụng: mình vẫn đều đặn mở cánh cửa này suốt mười bốn năm đằng đẵng, cả ban ngày lẫn ban đêm.
Đồn của anh, trụ sở Đội Hollywood ở số 1538 đường North Wilcox cũng như các đồn khác ở Los Aigeles có chừng một trăm người, gồm sáu chục cảnh sát viên cơ sở bận cảnh phục và khoảng bốn mươi thám tử bận thường phục. Tất cả đặt dưới quyền đồn trưởng có một phụ tá giúp việc, chỉ huy các trung đội, mỗi trung đội mười người do một đại úy phụ trách, trung đội lại chia thành hai đội, mỗi đội bốn cảnh sát viên do một trung úy chỉ huy.
Từng đội có nhiệm vụ rất cụ thể và có quyền hạn rõ rệt. Các đơn vị tuần tra cơ giới hóa của SWAT (Special Weapon Advanced Team) sẵn sàng can thiệp khi có trọng án xảy ra; trong đó có một trung đội đặc nhiệm ngồi xe sơn kí hiệu "K9" mang theo chó. Các đội đều được ưu tiên xin chi viện người, vũ khí, máy bay lên thẳng của Bộ chỉ huy ở Dowutowu.
Đội Bom chuyên trách gỡ các dụng cụ gây nổ. Ngoài ra có bốn đội khác: đội Tệ nạn, đội Án mạng, đội Tàu điện ngầm và đội Ma túy. Trên lý thuyết, để trấn áp mọi hành vi phạm tội làm mất trật tự an ninh trong một siêu đô thị trên mười hai triệu dân.
O’Toole đi qua phòng tiếp dân không đáp lại ba cảnh sát bận cảnh phục đang cuống quýt ra hiệu cho anh, hai người ngồi sau quầy, người thứ ba sau máy vi tính. Dù có làm gì đi nữa, bao giờ anh cũng chậm chân trước lời gọi khẩn cấp. Anh rảo bước đi qua phòng trung tâm, vẫn làm như không trông thấy các đồng nghiệp đang cố tìm mọi cách làm anh chú ý, liếc mắt qua bên phải nhìn vào dãy tám gian xà lim giam giữ các tội phạm nhẹ: cả tám xà lim đều có người. Trong một gian có gã khổng lồ bận áo pull sọc đang mím môi cố bẻ chấn song.
O’Toolo nhún vai bước vào phòng làm việc, sập cửa thật nhanh.
— Peter!
— Khoan đã.
Anh đến máy tự động rót một li nước mát uống cạn rồi hỏi.
— Baobab thế nào?
— Lee và Dick vừa điện về, vẫn bám đuôi.
— Phường nào?
— Cách đây vài bước chân. North Hollywood. Họ vừa tới đại lộ Lankershim.
— Ở Kioskitos đấy. Phen này ta sẽ nện thẳng vào mặt.
— Này Marc! Anh cử sáu người đến phục xung quanh Kioskitos, sẵn sàng khám xét mọi chỗ theo lệnh tôi.
— Rõ, thưa trung úy.
Marc nhấc điện thoại.
O'Toole hỏi Harry:
— Có gì mới?
Viên đội Harry Bloch gãi đầu tựa hồ muốn kiểm kê số tóc còn sót và đáp:
— Bình thường.
Anh ta đọc tờ giấy trước mặt.
— Bọn nghiền ma túy ẩu đả trên đại lộ Hollywood. Một tử thương vì đâm chém. Một tên khác trèo lên nóc ngôi nhà trên đường số 3, dọa đâm đầu xuống...
— Cho nó đâm, O’Toole gật gù.
— Tôi cũng nghĩ thế. Khốn nỗi nó đang bế trên tay một thằng nhóc... Xin lỗi.
Anh cúi xuống chiếc máy có đèn đỏ nhấp nháy:
— Alpha... Alpha...
— Marc! O’Toole gọi.
Marc là thám tử, hai sáu tuổi, mới bổ sung về Hollywood, trong đội Ma túy của O’Toole. Anh ta khâm phục gần như mê tín sếp đồn trưởng của mình với biệt danh "Sao Sáng" một phần vì cái tên, phần vì ngôi nhà riêng rất lộng lẫy, phần nữa vì các chiến tích của sếp trên hiện trường. Trong con mắt Marc, sếp O’Toole không phải cớm. Mà là Chúa. Do đó thấy Harry - hai chục thâm niên - dám gọi Chúa bằng tên tục, Marc không khỏi bàng hoàng.
— Trung úy gọi?
Cửa bật mở. Một cớm mặc cảnh phục báo cáo:
— Thưa trung úy! Lee gọi điện.
O'Toole bóp nát chiếc cốc giấy uống nước, nhảy hai bước ra cửa. Harry gọi với:
— Peter! Vừa tìm thấy xác một bé gái.
Nhưng O’Toole không nghe. Anh lao nhanh ra xe. Linh tính bảo cho anh biết thời cơ phá án tới. Không một cái gì cứu được con mồi thoát khỏi tay anh.
Ngay từ khi mười bốn tuổi José Urego đã bước vào nghề bán ma túy với chân "đẩy hàng". Hắn đón giờ tan học, bán cho bọn học sinh trai gái cùng lứa tuổi những gói Cocain nhỏ do các anh hắn giao.
Hắn được lệnh đóng vai bạn tốt, tặng không lấy tiền những gói đó nếu thấy khách hàng kém vồ vập. Hoặc biếu thêm hai cữ cho những đứa mua một lúc ba cữ, kèm theo lời hứa của khách không được hở ra, nếu không sẽ "cắt đứt thương vụ".
Bằng cách đó, bọn thiếu niên mắc tròng rất nhanh, trở thành khách hàng thường xuyên rồi thành nhưng tín đồ mới. Còn José được các ông anh thưởng cho liều thuốc hàng ngày: hắn dùng từ hồi mười một tuổi. Càng ngày hắn càng nghiền nặng. Khốn thay, cả hai ông anh đều không còn đó để ra tay tế độ mỗi khi thằng em lên cơn. Một gã đã nhận bốn viên đạn vào đầu. Vì tuồn thuốc quá nhạt cho một tên chuyên bán lại. Gã thứ hai bị ném qua cửa sổ tầng thượng một nhà kho, vì những lý do bí ẩn.
Hồi đó, chúng sống với người mẹ trên vỉa hè, cùng với mười lăm nghìn kẻ mất gốc không việc làm chen chúc trên đường Dowutowu nằm trong khu nhà đổ nát một bề năm một bề mười khối nhà, giữa phố số 3 và đường Tower.
Nhà là túp lều bằng hộp giấy kẹp giữa hai bức tường một con hẻm. Giấc mơ chung của cả nhà giống hệt giấc mơ của tất cả những kẻ nhập cư bất hợp pháp người Bolivia, Colombia hoặc Peru: trở về nước kiếm một tí Cocain giấu kín dưới bộ đồ rách rưới và vượt biên sang đây. Lập tức giầu to! Mà chẳng có gì đáng sợ.
Các nhà tù Mỹ đầy ứ bọn tội phạm. Nếu bị bắt, chúng sẽ được thả ngay vì hết chỗ, quá lắm thì bị dẫn độ là cùng.
Hàng xóm láng giềng đều là những kẻ trôi dạt che thân bằng báo cũ; bọn cầu bơ cầu bất, nghiện rượu, nghiện ma túy sắp xuống lỗ.
Người mẹ phải nghĩ đủ mưu mẹo mới có được món frichti trên bếp dầu. Dĩ nhiên phải dậy thật sớm.
Sáng nào cũng vậy ngay từ tinh mơ 4 giờ, tòa thị chính phái những đội lái máy húc mang theo vòi chữa cháy đến dẹp các chỗ trú ngụ khốn khổ gây mất trật tự và nhung nhúc chuột. Dù sao cuộc sống ngoài trời kiểu này cũng có nhiều cái lợi: không phải đi học, không làm nghĩa vụ công dân, được hưởng tự do và hạnh phúc ngoài đường. Hơn nữa, không bao giờ chết đói. Hễ kiến bò bụng, chỉ cần chịu đựng trong một giờ những lời thuyết giáo của một gã điên đến cắm cây thánh giá cao ba mét giữa bãi đất hoang, bầy ra mười hàng ghế, diễn thuyết, rồi phát bánh mỳ với cà phê. Hoặc nếu cần có mười đôla thì ngay lúc tờ mờ sáng nhảy lên chiếc xe tải vẫn đi nhặt đám cầu bơ cầu bất chở đi làm các thứ việc linh tinh vớ vẩn. José tuy đã thành đạt nhưng không lần nào bỏ lỡ dịp tạt qua phường cũ để hồi tưởng lại thời niên thiếu.
Thật kỳ cục: mọi thứ vẫn y nguyên, chẳng có gì thay đổi, vẫn những mưu toan ấy, những hy vọng ấy, và sự đồi bại ấy.
Bây giờ có thể nói José đã có cuộc sống của người có danh vọng. Hắn đã mang kinh nghiệm của mình ra phục vụ một băng bỏ mối ma túy của bọn đồng hương Colombia Tình đoàn kết thân hữu giữa những kẻ cùng một nước, tài bán hàng và các đức tính vốn có của José - không bao giờ hé răng hỏi han - đã phát huy tác dụng. Hắn được đồng hương trả công hậu hĩ để thổi hàng cho bọn khách chọn lọc gồm diễn viên, tư sản, nhà buôn. Tiếp xúc với những người đáng kính nể như thế tạo cho hắn cảm tưởng không thể bị trừng phạt, thêm vào đó mỗi ngày được hít hai gram càng khiến hắn tự tin hơn, đến mức có lúc José còn cho rằng không ai đụng được vào lông chân hắn.
Đã 4 giờ chiều. Còn phải giao hàng cho ba người nữa. Người thứ nhất: cô thợ sửa móng tay da đen đợi hắn ở Vine, chỗ ga xe buýt. Thứ hai, một diễn viên nổi tiếng hẹn hắn ở một xí nghiệp mai táng. Cuối cùng là một diễn viên múa, người đã có lần ca tụng hắn "José, nhờ cậu nên mỗi lần lên sân khấu tớ đều bay bổng".
Vậy đó, với ý thức mình là người ban phát hạnh phúc cho thiên hạ, José không chút lo ngại đỗ xe gần Kioskitos để gặp người bỏ mối cho hắn.
*
* *
Thời buổi thật khắc nghiệt. Người ta vẫn chết trong niềm vui như trước còn những kẻ sống sót thì trở nên keo kiệt hơn. Họ mặc cả dài dòng giá từng cỗ quan tài - có tất cả mười chín loại phù hợp với mọi túi tiền, loại xoàng nhất năm trăm đôla bằng gỗ thông, loại một nghìn năm trăm đôla có quách bằng thép hun đậy nắp thủy tinh điều khiển từ xa, chở trên xe Rolls. Sau khi chọn xong, khách còn đòi giảm giá nữa, kì kèo về số hoa tươi trên vòng hoa phúng, hễ không được thỏa mãn là lập tức dọa đi thuê hãng khác. Sự cạnh tranh thật ghê gớm. Các công ty mai táng giành giật nhau từng xác chết một cách hung tợn.
Thân nhân người quá cố có khi được các công ty tặng thưởng một khoản tiền mặt nếu nhanh chân báo tin có người nhà yêu quý từ trần ngay sau khi thở hơi cuối cùng được mười phút. Thành ra có những trường hợp gã thân nhân ranh ma báo cho nhiều công ty biết cùng một lúc, gây cảnh tượng nhiều cỗ xe đòn tới tấp hùa nhau cùng phóng đến nhà người chết.
Điều còn tệ hại hơn: tín nhiệm của các doanh nghiệp mai táng bị đe dọa. Nhiều kẻ ngoài nghề đã nhận thấy: kinh doanh cái chết, cùng với kinh doanh món đốp và lỗ chôn là những thứ kinh doanh không bao giờ ế ẩm, nên họ đầu tư ồ ạt vào việc xây cất và duy tu nghĩa địa, thành lập các công ty hỏa táng, đào tạo những bà khóc mướn có thẻ công đoàn, chuyên trách việc tỏ ra đau khổ thay cho những kẻ đáng lẽ phải đau khổ. Điều phải xảy ra đã xảy ra: Trong một bô rác công cộng ở Thung Lũng Mặt Trời, người ta đã phát hiện được một tấn rưỡi tro hài cốt.
Vụ này vỡ lỡ do một khách hàng đệ đơn kiện. Ông ta thuê hãng Hải Vương hỏa táng đứa cháu và mang tro lên máy bay trực thăng rải ngoài khơi Thái Bình Dương gần đảo Catalina. Trong hợp đồng thuê khoán còn có các khoản: nhân viên của hãng tưởng niệm, mục sư làm lễ, một nhà trí thức soạn thảo và đọc điếu văn. Nhưng thực tế chẳng có gì được thực hiện. Hai anh em người chủ hãng, có hẳn một đoàn xe riêng các kiểu Ferrari, Porsche và Meccedes, một du thuyền dài hai mươi tám mét, một máy bay riêng và nhiều dinh cơ khác nữa, chẳng buồn trốn tránh. Viên thám tử tư được thuê điều tra vụ án không mất nhiều thì giờ để phanh phui công việc mờ ám của hãng Hải Vương.
Sau khi hỏa táng, họ đổ tro vào bô rác công cộng.
David vẫn còn nhớ rõ khi biết câu chuyện đó anh ta đã phẫn nộ như thế nào.
Là người chuyên hóa trang và tẩm ướp, có lương tâm nghề nghiệp và tài năng rất cao, anh vẫn thi thố tay nghề với nhiệt tình của nhà giáo chức, làm vẻ vang cho hãng Fierce Anh và Em.
Anh bước lùi lại ngắm kỹ tác phẩm của mình: thực quả vô cùng đẹp! Ngay lúc này anh ta đã cảm nhận trước ánh mắt khâm phục lát nữa sẽ lóe lên trong mắt khách mời.
Anh chỉ tiếc rẻ một điều duy nhất: tất cả các nhân vật được anh ta chăm sóc đều không còn khả năng cất tiếng khen ngợi tài ba kiệt xuất của anh ta. Mà chẳng thể nào khác được!
*
* *
Dick và Lee bình thản ngồi kéo một điếu ma túy trong chiếc xe đồng nát không tên đỗ bên hè gần Kioskitos, tiệm ăn người Colombia ở số 6001 đại lộ Laukershim.
Bộ tịch cả hai người cũng lố lăng càn rỡ như chiếc xe của họ. Quần jean sờn, tóc xõa tận cổ, áo pull cộc tay vẽ cảnh thôn dã để lộ hình xăm nhằng nhịt trên bắp. Dick đội chiếc mũ lưỡi trai của cầu thủ bóng chày. Lee quân chiếc khăn Indiens đỏ rực ngang trán. Tuy vậy trông họ không có vẻ lạc điệu với quang cảnh chung quanh.
Phường bắc Hollywood thực ra không phải là khu dân cư. Đầy rẫy bọn nghiền ma túy, du thủ du thực, côn đồ, đĩ điếm bận áo đônimô[1] da đen và da trắng đón khách trên vỉa hè.
— Coi chừng, nó tới! Dick thì thầm.
Bất giác tay anh sờ vào chìa khóa xe. Cửa tiệm ăn vừa mở ra rồi đóng sau lưng một gã nhỏ thó ngăm ngăm đen đang băng qua đường sau khi đảo mắt nhìn quanh.
— Nó vẫn đeo xắc, Lee nói.
— Dào, chẳng có cóc khô gì trong ấy. Dick càu nhàu - Thuốc nó bỏ trong túi áo.
Gã nhỏ bé ngăm ngăm ném xắc vào cốp chiếc xe Oldsmobile to đùng méo mó sơn mầu da cam, trèo lên nổ máy. Lee lấy chiếc bộ đàm Motorolla đang kẹp ở đầu gối. Loại máy ti hon này rất hiện đại, trực tiếp nằm trong mạng ba mươi nhăm làn sóng của cảnh sát Los Angeles truyền qua vệ tinh nhân tạo.
— Alpha... Alpha..., Lee gọi.
— Alpha... tiếng trả lời rõ mồn một tưởng chừng trong xe có người thứ ba đang nói.
— Cobra - Baobab. Mười, bốn... Lee dài giọng.
— Năm trên năm. Mười, bốn...
— Nào! Lee ra lệnh. Rogers!
Các băng má túy trả giá vàng, hoặc dùng cách đút lót để có được những phương tiện tối tân của cảnh sát. Nhưng còn phải biết giải mã các cuộc điện đàm. "Alpha" là cảnh sát, đội Ma túy, "Tăn" là giám sát. "Cobra" là hành động. Còn "Mười bốn" nghĩa là tôi nghe, và "Rogers" là hết. Cuối cùng Baobab là mật danh của chiến dịch đang triển khai.
Dick đã len vào dòng xe cộ bám theo chiếc Oldsmobile. Gã bị bám đuôi tên là José Urego. Hai người đã theo dõi hắn suốt bốn tuần qua và đã hàng trăm lần có thể bắt hắn quả tang.
Nhưng họ chưa bắt, chỉ ghi nhận tất cả những chỗ hắn giao hàng và được các đồng nghiệp tiếp sức ngày đêm, họ lần theo đường dây từng mối một. Tất cả các đầu mối đều tập trung về Kioskitos.
Theo chỉ thị sếp, Lee vừa phát lệnh hạ con mồi. Lúc này hẳn cảnh sát đã ùa vào tiệm ăn để tìm các chỗ cất giấu, nhất định tiệm chưa mở cửa lại vì còn quá sớm.
— Gọi "Sao Sáng". Dick vừa bảo Lee vừa nguyền rủa chiếc xe tải lạng ra khỏi hàng chặn giữa xe anh ta và xe Oldsmobile.
Lee chỉnh tần số.
— Alpha... Alpha... Baobab... Trăn.
— Năm trên năm... Mười, bốn...
O’Toole đáp: Các cậu ở đâu?
— Vừa ra khỏi Lankershim. Nó đi về Hoàng Hôn.
— Đừng để lọt.
— Nói thì dễ ợt! Dick cằn nhằn, vọt qua vạch vàng để vượt xe tải.
— Lee này!
— Thưa trung úy?
— Mở máy liên tục, báo cáo vị trí của cậu. Tôi ở Wilslure góc đường Robertson... Tôi bám theo các cậu... Trước khi tôi tới, không được nhúc nhích.
— Tôi đến Vine... Băng qua Hoàng Hôn.
O’Toole cắt ngang:
— Một phút nữa tôi sẽ liên lạc với cậu.
Dick đưa mắt sang Lee.
— Chắc có con ong chui vào quần lót trung úy.
— "Sao Sáng" không bao giờ mặc quần lót.
— Sao cậu biết? Đã thọc tay vào rồi chắc?
— Một phụ nữ bảo mình thế.
— Mẹ cậu.
— Đồ ngu! Dick bật cười, vượt luôn đèn đỏ ở Melrose.
Anh ta giữ cho lúc nào cũng chỉ có ba xe chạy giữa chiếc Oldsmobile và anh. Phải rất chú ý đèn: trong thành phố, chẳng ai có vẻ đi tới một nơi nào nhất định, chẳng ai vội vàng. Có khi đèn xanh đã bật nhưng một bà nào đó lại dừng xe tô điểm phấn son, thế là cuộc bám đuôi đi đứt luôn.
— Alpha... Baobab... O'Toole gọi.
— Alpha... Baobab... Lee đáp.
— Đã xét tiệm Kioskitos. Bắt tám tên. Thu tám ký cocain nguyên chất. Giá một triệu đôla.
— Thấy chưa? Tớ đã bảo là hai đứa mình chọn nhầm việc đấy thôi. Dick rít qua kẽ răng.
— Cậu nói sao? O’Toole hỏi.
— Không ạ, thưa trung úy. Lee vừa bảo tôi chú ý một hiện tượng.
— Chắc cậu ấy vừa cho ra một điều ngu xuẩn.
— Đúng thế thưa trung úy. Dick phì cười, ồ, hắn dừng xe!
Urego vẫn ngồi sau tay lái, dường như đang hỏi thăm đường một cô gái Đen trẻ tuổi bận chiếc áo bó mầu lá cây. Cô ta đứng trước chỗ đỗ xe buýt, tay xách chiếc đẫy.
— Kìa! Nó dúi một gói cho con bé...
Phải là cớm mới trông thấy cử chỉ rất nhanh đó. Chỉ trong nháy mắt, gói hàng đã từ cốp chiếc Oldsmobile trượt sang đẫy cô gái Đen.
— Địa điểm? O’Toole gầm lên.
— Góc Vine và Santa Monica. Con bé đi trên hè! Cứt quá, Urego cũng lại lăn bánh rồi. Trung úy! Chúng tôi làm gì bây giờ?
— Bám theo Urego!
— Thế con bé kia?
— Mặc nó. Tôi sẽ báo các đội tuần tra... Nó thoát sao nổi.
Liên lạc bị cắt.
— Lee này!
— Gì?
— Châm cho tớ một cữ.
*
* *
Khối nhà gồm ba căn nhỏ một lầu. Căn thứ nhất chứa các bộ phận hành chính. Căn thứ hai giống một phòng triển lãm trưng bầy tất cả các phụ tùng đám ma, vòng hoa, tượng, vật tạ ơn, hoa cườm, đồ trang trí, quan tài và cả một loạt các kiểu xe đòn gắn máy lạnh đời mới nhất. Mé tay phải là căn cuối cùng toàn mầu trắng và mầu xám láng bóng, có một phòng lớn lát gạch men trắng đen kiểu bàn cờ thông sang hai bàn thờ nhỏ có thể đồng thời tiến hành hai tang lễ. Bốn góc bàn thờ có bốn cột giả cẩm thạch, để sẵn nhiều ghế xếp, ở góc trong cùng bên trái là tiệm bán đồ lễ theo mọi nghi thức để khách tùy ý chọn.
Trước đấy mười lăm phút, David đã chở tác phẩm của anh bằng thang máy từ dưới hầm lên. Anh điều chỉnh ánh sáng thật cẩn thận, thử hệ thống trang âm, đốt hương, la mắng các phụ tá về tội làm quá nặng tay, sau đó đuổi tất cả ra khỏi thánh đường để ngắm nghía kỹ hơn tác phẩm của mình.
Lúc này anh chỉ còn lại một mình, đối diện với công trình đã sáng tạo nên và sẽ biến mất sau chưa đến một giờ nữa. Anh chụp nhiều pô ảnh mầu theo nhiều góc độ khác nhau, lùi lại, rên lên vì sung sướng rồi buột mồm nói to:
— Lạy Chúa! Sao mà đẹp thế! Thật đáng tiếc! Thật đáng tiếc!
Tiếc rẻ David ấn chiếc nút phía sau bàn thờ. Người giúp việc hiện ra, bệu xị, nhợt nhạt, vẻ lo sợ. David không buồn để mắt, dùng tay ra hiệu và nói với giọng khinh miệt của đức vua nói với đầy tớ:
— Cho họ vào!
❀ ❀ ❀
[1] Áo dài khoác ngoài có mũ.