Gian phòng giống hệt một ngôi chợ Ả Rập tan hoang sau trận bom. Những chiếc ghế gỗ dài để kiểm tra hành lý mất hút dưới đống vali mở ngỏ, sắc mở phanh và núi quần áo giầy dép, gói đồ linh tinh đủ thứ rơi cả xuống đất.
Cách đây một tiếng máy bay đã từ Bangkok về tới. Tất cả các chuyến từ những điểm nóng như châu Á, Thái Lan, Hà Lan, Ấn Độ hoặc Pakistan tới đều bị đội "lưu động" kiểm tra rất chặt. Đội gồm có mười tám người đặc biệt thính nhậy. Mỗi năm có hàng mấy triệu khách đáp xuống phi trường New York.
Vấn đề của đội là phát hiện được kẻ tình nghi. Hoặc kẻ có lai lịch không khớp với dáng vẻ hiện tại. Nhân viên của đội kín đáo ra hiệu, lập tức có nhân viên hải quan mặc chế phục áp giải hắn qua lối đi ngoắt ngoéo giữa những quầy bàn thấp nhẵn bóng vì cơ man hành lý đã cọ sát lên mặt. Tại đó, ở cuối phòng giao hành lý, phần lớn bọn buôn lậu đã bị vạch mặt.
Một số tên, tê liệt vì khiếp sợ, đành cam phận đứng chờ điều không thể tránh thoát: thứ chúng định lén lút nhập lậu bị khui ra dù được dấu kín ở những nơi khó tưởng tượng nổi - xe lăn của người tàn tật, nạng rỗng, đế tượng, ống kem đánh răng, tóc giả, lần lót quần áo, lớp bột bó cánh tay vỡ gẫy, bong bóng nhựa làm giả bụng chửa, vú giả và những hài nhi ủ trong tã lót đính những túi cocain...
Dan Shenod rỉ tai đồng nghiệp: "Này Perry! Khi máy bay của JAL từ Tokyo tới, cậu đến ngay cửa số 5... Sếp đã báo tớ thay chân cậu."
— Đợi tí, mình đang chờ kết quả X-quang.
Trước đó mười phút anh ta vừa để ý một bà to béo quốc tịch Đức. Da mặt xanh tái hơi quá mức: bệnh béo phì và cuộc hành trình mệt nhọc chưa đủ lí giải. Bà ta từ Bangkok tới. Khám người không thấy gì, cả một dãy vali của bà ta cũng không có gì.
Vậy mà Perry vẫn linh cảm có điều gì đó không ổn. Phía sau phòng hải quan có phòng y tế. Perry yêu cầu bà tới đó chiếu X-quang.
— Còn một gã người Pakistan nữa. Kìa, bên tay phải. Tên bận tấm sari vàng, thấy chưa?
Dan liếc mắt. Người đàn ông đó đứng yên như hóa đá, nhưng mồ hôi đang chảy ròng ròng trên mặt mà gã không buồn chùi.
— Cậu khám chưa?
— Không thấy gì. Nhưng hắn có đấy! Tớ thề là hắn có!
Để dễ làm việc, nhân viên đội "lưu động" không bận chế phục. Họ chẳng khác gì hành khách ngoài khẩu colt 45 đúng quy chế đeo kín đáo sau lưng quần Jeans.
Cửa phòng hé mở. Perry ngửng đầu, kín đáo ra hiệu cho Dan.
— Canh chừng gã bận sari, tớ quay lại liền.
Anh ta biến vào phòng hải quan, đi đến cuối phòng mở cánh cửa thông sang phòng y tế, bác sĩ đang quỳ trên người bà béo nằm sóng soài dưới sàn.
— Nhìn mụ ngốc này xem.
— Mụ làm sao?
— Một trăm lẻ một túi cocain trong dạ dày! Anh có tin được không?
Bác sĩ lay mạnh mụ béo. Mụ nằm ngay đơ, chỉ riêng cái đầu ngật ngưỡng như rời khỏi cổ. Bác sỹ điện quang vành mi mắt lên.
— Hết rồi.
Perry tròn mắt nhìn bác sĩ.
— Mụ giữ của nợ này trong chạn đồ ăn của mụ suốt mười lăm tiếng đồng hồ bay. Dịch vị làm thủng một túi. Chết tức thì.
Perry chồm lên.
— Báo ngay cho Star.
— Ai? Bác sĩ hỏi.
— Trung úy O'Toole! Phân khu Hollywood, Wilcox!
Anh chạy bổ ra ngoài. Không giải thích đôi hồi gì cho Dan, anh túm cổ áo gã Pakistan lôi chạy theo về phòng hải quan, huých gã bắn vào trong phòng, đóng sập cửa. Rồi chỉ vào xác chết mụ hành khách nằm lù lù một đống mềm oặt.
— Nhìn đây! Một túi bị bục trong dạ dày... Khai đi!
Mặt nhễ nhại mồ hôi, xám ngoét vì sợ, gã kia cố kìm giữ cặp môi đang co giật liên hồi.
— Khai ngay, giấu chỗ nào?
Cửa mở, Dan đưa mắt nhìn hết cảnh tượng trong phòng. Anh ta kinh ngạc đến nỗi chỉ lắp bắp nói ra một cách máy móc điều anh ta định đến nói.
— Perry! Sếp đợi cậu ở cửa số 5.
Không hề chú ý đến Dan, Perry thẳng tay tát giữa mặt gã Pakistan và gầm lên:
— Thế nào, thằng khốn kiếp? Mày giấu ma túy chỗ nào?
Nước mắt gã Pakistan ứa ra. Thân hình gã như vón lại, gã nói trong một tiếng nức nở khản đặc:
— Trong lỗ đít.
Kostia rất ngạc nhiên khi thấy không hề có ban tiếp nhận nào. Anh ta vẫn đinh ninh: Khi xuống thang máy bay sẽ có cớm chực sẵn dẫn mình về một văn phòng để thẩm vấn. Nhưng không, chẳng một người nào đả động đến anh. Đã có khá đông hành khách qua mặt anh ra cửa số 5. Sau lưng, một tốp nhà kinh doanh Nhật rất trật tự và yên lặng, người nào cũng chìa sẵn hộ chiếu và phiếu nhập cảnh.
Viên cảnh sát đứng kiểm tra giấy tờ nói:
— Người tiếp theo.
Kostia bước qua vạch sơn vàng, bước chân đầu tiên trên đất Mĩ. Đi hai bước nữa, đến trước mặt người bận cảnh phục.
Không nói không rằng, anh xuất trình tờ thông hành của đại sứ quán Hoa Kỳ ở Tokyo. Viên cảnh sát chăm chú đọc, nhìn mặt Kostia rồi ra hiệu cho một gã cao lớn tóc vàng bận quần Jeans sơmi trắng đang có vẻ phiền muộn vì chờ đợi ai đó. Viên cảnh sát đưa tờ giấy và thì thầm:
— Này Perry, làm gì đây?
Trong lúc Perry xem giấy, anh ta quay sang Kostia.
— Anh có hộ chiếu không?
— Không.
— Có giấy tờ căn cước gì khác?
— Không.
— Tiền?
— Không.
— Hành lý?
Kostia chỉ túi du lịch.
— Thế thôi?
— Vâng.
— Trong thời gian lưu lại Hoa Kỳ, anh sinh sống bằng cách nào?
— Chưa biết.
— Có địa chỉ nào không?
— Không.
— Định ở đây bao lâu?
— Chừng nào còn được ở.
Viên cảnh sát phân vân nhìn gã tóc vàng. Gã nói:
— Thưa ông Vlassov, ông có thể qua.
Perry biết đây là một người di tản vì chống đối, có thời hạn lưu trú là một tháng và một tuần để tới gặp các nhà chức trách chuyên lo chuyện nhập cảnh để họ xem xét trường hợp anh ta. Bọn từ phía Đông tới thường gây rắc rối, không biết nên giải quyết như thế nào. Chúng là tình báo chăng? Hay là phản gián? Gián điệp đôi? Gián điệp ba?
Hoặc chỉ là những gã bình thường, bỏ đi vì đã chán ngấy cộng sản? "Chậc, bọn FBI phải lo, Perry nghĩ bụng. Cóc phải chuyện của mình".
Gã trả giấy tờ cho Kostia kèm theo nụ cười tươi trẻ:
— Welcome to America!
*
* *
Thật ngốc nghếch, nhưng từ khi còn ở Leningrad anh đã thề sẽ thực hiện điều này: vừa ra khỏi máy bay anh liền quì gối hôn lên mảnh đất Hoa Kỳ. Một gã đen bận chế phục ngồi đợi sẵn sau tay lái chiếc xe ca phá lên cười. Từ mười hai năm nay anh ta mỗi ngày sáu chuyến làm con thoi từ trung tâm thành phố ra phi trường nhưng đây là lần đầu tiên thấy một thằng điên hôn lên nhựa đường.
— Này cậu kia! Nó có mùi vị gì?
— Mùi vị của tự do, Kostia tủm tỉm đáp.
— Cậu từ đâu tới?
— Leningrad.
Gã tài xế trợn mắt:
— Người Nga?
— Ừ.
Kostia đến dựa vào cửa xe đã mở rộng cho hành khách lên.
— Làm cách nào sang đây được?
— Chạy thật nhanh.
— Này! Định đi đâu vậy?
— Manhattan.
— Vừa may. Mình cũng về đấy. Lên xe!
— Miễn phí à?
Gã lái xe sa sầm nét mặt.
— Cậu đúng không phải dân New York.
— Mình không có tiền.
— Sáu đôla thôi.
Kostia dang tay tỏ dấu hiệu bất lực, nhếch mép cười buồn thiu rồi tránh ra khỏi cửa xe.
— Này! Không có lấy sáu đôla sao?
— Một cũng không.
Xe đã đầy, lái xe nhún vai, mở khóa điện, nổ máy, đảo mắt nhìn xung quanh.
Đứng lặng trên lề, tay xách túi vải màu xanh lá cây, Kostia nhìn lên, không nói. Gã tài xế bảo:
— Lên đi!
Kostia không đợi bảo lần thứ hai.
Cửa tự động đóng lại. Gã tài xế ra vẻ bí mật:
— Nếu tay soát vé đòi kiểm tra, tớ không biết cậu là ai đâu nhé, cậu lên xe lúc nào tớ không biết, hiểu chưa?
— Ok, Kostia đáp.
Xe lăn bánh trong làn khói đen mù mịt.
Trời nắng chói chang. Kostia ngẩng đầu nhìn lên. Tầm mắt mất hút trên đỉnh cao tòa nhà hãng Pan Am.
Anh xuống xe ở đại lộ Park. Đứng dựa vào một bức tường, anh háo hức cảm nhận đám đông và tiếng ồn New York. Cách anh mười mét, bên chiếc đĩa đặt trên hè một chú nhóc lên tám người Nhật đang kéo violon bản Concerto số 3 của Mozart với tài hoa kỳ diệu. Nhiều khách bộ hành dừng lại lắng nghe. Mắt nhắm nghiền tản hồn theo suối nhạc từ những ngón tay bé xíu trào ra, em chơi cho mình thưởng thức, hoàn toàn thờ ơ trước những đồng tiền đặt dưới chân em.
Có cái gì đó thật thần diệu trong sự pha trộn giữa sắt thép, thủy tinh, không gian, cách sống sôi động trong ánh sáng và bóng tối giữa các tòa nhà chọc trời với những nốt nhạc tinh khiết dường như được sáng tạo từ hai thế kỷ trước chỉ là để tạo nhịp điệu cho tiếng ầm ĩ của thành phố. Tất cả đều là sức mạnh.
Nó tỏa ra từ vỉa hè, bầu trời, từ đám đông. Kostia đứng đó như chôn chân xuống đất mà vẫn thấy nó rung động trong người. Tuy anh đang cần đi gọi điện và biết rõ phải gọi cho ai, nhưng trước hết phải hít thỏa thuê bầu không khí này đã, để tin chắc mình đã thành công. Thứ không khí đặc biệt, tươi tắn, dịu dàng, đượm mùi nhựa đường, biển cả và mùi xăng.
Không khí New York.
Vẫn còn tiếc rẻ, anh rời bức tường hòa vào đám đông.
Góc phố 59 có cabin điện thoại. Anh bước vào, đặt xắc xuống đất, máy móc thò tay vào túi, sực nhớ chẳng có đồng nào, anh nhếch mép cười rồi đi ra.
Lúc còn ở Leningrad, anh đã nghiên cứu bản đồ New York rất nhiều lần nên cảm thấy gần như quen thuộc. Người anh định gặp làm việc ở gần Broadway. Suy tính một lát, anh đi vào đường 59. Cuối khối nhà là Lexington. Sau đó rẽ trái thì tới phố 43. May ra bạn anh ta vẫn còn ở đó.
Kostia vừa khuất sau góc phố 59, một người thấp béo bước vào cabin, bỏ một đồng tiền vào khe máy, quay số, nói vài tiếng rồi gác máy.
Anh ta bước vào cabin tay không. Lúc trở ra, mang theo chiếc xắc thể thao xanh lá cây.
*
* *
Không phải bất cứ ai cũng được Vladimir Naritsa nhận vào học. Mỗi ngày hai cô phụ tá Faye và Marilyn gạt đi hàng chục người đến xin học, cả nam lẫn nữ. Trong lần sàng lọc đầu tiên, Marylin và Faye trước hết lựa ra những con ngựa nòi thuần chủng, có bộ mặt và thân hình khả dĩ cho lên đầy khuôn ảnh, bộ mặt có thể làm cho ống Camera cũng ngất ngây. Sau đó, bắt làm một vài thử nghiệm.
Cuối cùng, khi biết chắc là đã tìm ra con chim hiếm xứng đáng hưởng sự dậy dỗ của thầy, hai phụ tá mới dẫn đến ra mắt Vladimir Naritsa. Qua một cái chớp mắt, hoặc thầy vất thí sinh trở ra bóng tối ngoài trường quay, hoặc thầy chấp nhận cho ngồi vào chiếc ghế phụ trong nơi thiêng liêng nhất của đền thờ Salomon: Trường học của thầy.
Phải thừa nhận rằng anh ta đã đào tạo được một số diễn viên xuất sắc trong mấy năm gần đây.
Điều này được tất cả mọi người trong nghành biết rõ, các hãng Columbia, Fox, Paramount và Warner Bros vẫn đều đặn kêu gọi Vladimir mỗi khi gặp phải trường hợp khó xử trong phân vai hoặc chỉ đạo diễn viên. Anh thường đến ở tại Hollywood, và được các ông trùm điện ảnh tiếp đãi như ông hoàng, ở trong những dãy phòng đẹp nhất của Beverly Hills hoặc Wilshire.
Tất nhiên không ai dám bất lịch sự đến mức tính tiền anh ta. Ngoài ra còn phải trả công cho các dịch vụ chính đáng của Vladimir. Họ tham khảo ý kiến anh. Lời phán bảo của anh là lời thánh truyền.
Đã thế anh còn có bộ mã đặc sắc. Tóc đuôi ngựa, dái tai phải tòn ten khuyên vàng, mũ lưỡi trai Potemkine úp chặt trên đầu và một chú cún nòi Yorkshire tên là Crunch lúc nào cũng nằm trên ngực. Giới kinh doanh điện ảnh đều biết: cần phải làm vừa lòng chú Crunch, chính chú tác thành hay phá vỡ các sự nghiệp đang hình thành.
Ba trường hợp mẫu: Thí sinh mới tới không ngó ngàng gì đến con cún, chỉ nói về bản thân. Naritsa đuổi ngay không cần giải thích.
Thí sinh mới tới đưa tay định vuốt ve lập tức bị cún ngoặm cho một miếng, cậu ta nhăn nhó tỏ ý khó chịu hoặc đau đớn: đuổi.
Thí sinh mới tới vuốt ve, chú cún nằm im: ra khỏi cửa.
— Cậu không hiểu! Naritsa nói, - không hiểu tí gì!
Trên sân khấu mini, nơi các diễn viên tập sự vẫn lên biểu diễn, anh chàng gầy gò dài ngoẵng đang thử một cảnh bỗng khựng lại.
— Quá mức, cậu diễn tả quá mức!
Cậu này cũng là một trường hợp. Bữa tới gặp lần đầu, cậu ta bảo Vladimir: "Tôi ít khi được thấy một chú Yorkshire hài hòa đến thế!" Từ "hài hòa" làm Vladimir xúc động.
Hình như chú Crunch hiểu được ý nghĩa của nó, nhẩy luôn khỏi vòng tay ông chủ. Cậu thí sinh cúi đầu: Crunch không cắn mà tự nhiên lè lưỡi liếm mặt cậu ta. Cảnh chưa từng có.
— Mong các em đều theo dõi kỹ diễn xuất của cậu ta. Naritsa bảo học viên, - cậu ấy làm đúng điều ngược lại với điều phải làm!
Một luồng khoái cảm làm tất cả các môn đồ rùng mình. Cả bọn ngồi xúm xít trên dãy ghế xếp hình bán nguyệt, giấu mặt trong bóng tối, mê mẩn trước những lời bậc thầy ứng khẩu mỗi khi thầy biểu diễn môn thể thao ưa thích: hành hình một người trong bọn họ.
— Thầy yêu cầu cậu ấy diễn tả niềm xúc động khi thấy hiện ra người bạn thân thiết mà cậu ấy cho là đã chết... Đây, thầy làm lại cái cậu ta đã làm!
Thầy nhẩy hai bước vọt lên sân khấu giữa ánh đèn pha. Những tiếng cười hèn hạ nổi lên trong phòng. Naritsa hào hứng vẽ bức biếm họa: môi run bần bật, hàm dưới sập xuống vì kinh ngạc, mắt trợn tròn hai tay dang rộng.
Tất cả học viên bật cười.
— Một niềm xúc động quá mãnh liệt, lên đến cực điểm, đến cao trào thì không bao giờ lộ ra! Không bao giờ! Đáng lẽ em phải...
Thầy chợt ngừng lại: cánh cửa cuối phòng vừa rít lên. Mọi người quay xuống nhìn. Môi bậm chặt trước tội phạm thượng không thể tha thứ này, Naritsa đưa tay lên che mắt để nhìn rõ tên tội phạm.
Nhân viên ánh sáng trắng trợn chiếu một chiếc đèn pha về phía cửa.
Cửa đã hé mở.
Trong khuôn cửa một gã trẻ tuổi tóc vàng, khuôn mặt bị ánh đèn chói chang khắc họa từng nét.
Mọi cặp mắt đổ dồn về phía Naritsa: Thầy sẽ trừng phạt sự hỗn xược này ra sao? Nhưng sự việc tiếp theo thật lạ lùng, tất cả những người chứng kiến sẽ không bao giờ quên: môi Naritsa run bần bật, hàm dưới sập xuống vì kinh ngạc, mắt trợn tròn hai tay dang rộng. Rồi thầy khó nhọc cất tiếng gọi:
— Kostia!...