Gã tóc điểm bạc là người Pháp, vả chăng, toàn thân gã đều một mầu muối tiêu: Da mặt, sơmi, quần, và cả giầy nữa. Từ đêm qua chưa lần nào gã mở miệng. Khi có người hỏi, gã trả lời bằng nụ cười mỉm, hoặc bằng cái gật đầu thay cho “ừ” hoặc “không” tùy cái gật theo chiều dọc hay chiều ngang. Điều duy nhất Arthur biết: tên gã là Jeannot.
Sặc mùi bọn “Liên Vận Pháp”.
Arthur dám thề độc: gã là chuyên viên hóa học.
Các nhà hóa học người Pháp được tất cả bọn buôn lậu ma túy toàn Nam Mỹ ưa chuộng. Không một ai khác lọc nổi Cocain với độ tinh khiết có khi đến 93 phần trăm như họ.
Thật trớ trêu. Bên châu Âu cảnh sát đóng vai khách hàng đói thuốc mua Cocain mang về xét nghiệm. Họ sục tới tất cả các điểm nóng vẫn cung cấp ma túy cho dân nghiền, từ Amsterdam đến Munich từ Rome đến Pari và Luân Đôn. Kết quả phân tích các lô hàng làm mọi người sửng sốt: thuốc của bọn bán dạo chỉ chứa có 4 phần trăm Cocain.
Qua mỗi chặng của đường dây phân phối, chúng pha loãng đi một ít và thu lời kinh khủng đủ để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, và tặng cho những kẻ khờ dại để biến họ thành môn đồ và khách hàng mới.
Jeannot lên ngồi ghế cạnh Arthur. Luz Botero và Enrique ngồi ghế sau. Hai vệ sĩ có hạng của Botero cùng bốn tên cầm tiểu liên AK47 loại đời cuối của Liên Xô co ro phía đuôi máy bay.
Trời rất quang mây. Dù bay trên bất cứ vùng nào của Colombia cũng không bao giờ nhìn thấy đường sá.
Lý do rất đơn giản: hoàn toàn không có đường.
Tuy vẫn huênh hoang đưa lời tuyên chiến chính thức chống bọn buôn lậu ma túy, nhưng các Bộ trưởng quốc phòng nối tiếp nhau vẫn cự tuyệt việc Chính phủ Mỹ bỏ tiền xây dựng mạng đường sá ở đây. Có vị còn phát biểu với một ký giả Tây Ban Nha qua cặp mắt trơ trẽn: “Để làm gì cơ chứ? Các bạn cho rằng bọn Mẽo phá hoại nền kinh tế của chúng tôi còn chưa đủ sao?”. Dĩ nhiên “nền kinh tế” vị đó nói đến để ám chỉ nguồn thu nhập chủ yếu của chính quyền: công nghiệp chế biến bột gốc thành Cocain nguyên chất.
Enrique vỗ nhẹ vai Arthur.
Hắn khoát tay ra hiệu lái hơi chếch về hướng nam. Arthur đoán biết mình đang ở tọa độ nào. San Jóse del Guaviare đã tụt lại phía sau bên trái.
Enrique bảo.
— Bắt đầu xuống.
Arthur đẩy mạnh cần lái ra đằng trước. Năm phút sau anh trông thấy đường băng thẳng tắp lọt gọn giữa biển cây rậm rì người không thể vượt qua.
Chưa đến 7 giờ sáng. Arthur rời máy bay sau cùng. Ban tiếp đón gồm mấy gã Indiens, vài con la, và một gã cao lớn tóc vàng mặc bộ áo liền quần kaki. Phía xa có chiếc trực thăng núp kín dưới bóng cây. Botero nhét một tệp đôla vào tay gã trông có vẻ là thủ lĩnh toán Indiens. Rồi quay sang tay tóc vàng:
— Đi chứ?
Gã gật đầu, đi tới trực thăng.
Botero đi theo, phía sau là hai tên vệ sĩ.
Arthur lưỡng lự không biết nên đi theo chúng hay ở lại cùng máy bay, mấy con la, tốp Indiens và những kẻ đeo vũ khí này. Botero chợt đứng lại.
— Thấy thác Niagara bao giờ chưa?
— Rồi, Arthur đáp.
— Đẹp không?
— Đẹp.
Botero cười lớn.
— Nhầm to rồi! Như cục cứt. Ở Colombia có cái đẹp hơn nhiều. Đi với bọn tôi.
Tất cả lèn chặt chiếc trực thăng.
Phi công nổ máy.
Có thể nói dòng sông cuồn cuộn máu. Nước chảy nhanh chóng mặt xuyên qua những hẻm đá hẹp nhô cao có chỗ đến năm trăm mét trên mặt sông. Nước đỏ ngầu hùng hổ lao xuống lòng đá hoa cương bị dòng sông cắn xé từ bao thiên niên kỷ để mở đường chảy qua. Đôi chỗ, những mỏm đá cao vút che lấp hẳn mặt sông.
Cảnh đẹp làm Arthur kinh dị, anh đưa mắt nhìn Enrique có ý hỏi. Gã này quay sang Botero tìm kiếm sự chấp thuận và được ban một cái nháy mắt thích chí.
— Sông Guabavero, Enrique nói.
— Sao đỏ thế.
— Rong. Rong đỏ.
Phi công xuống thấp sát sạt các bức tường đá. Arthur thầm cầu nguyện đừng có gió. Chỉ một luồng gió nhẹ cũng đủ tạt máy bay đâm vào núi.
— Thấp nữa, Botero ra lệnh.
Phi công nhào thẳng. Arthur nghiến chặt răng. Máy bay lọt vào một vùng tối sẫm màu lam chưa từng có ánh mặt trời rọi tới. Các bức tường khép lại giam chặt máy bay trong nhà tù bằng đá kín bưng. Đôi chỗ hẻm đá thu hẹp đến nỗi mút cánh quạt chỉ cách vách núi có một mét. Vậy mà tay phi công lại tỏ vẻ khoái như điên. Dám liều mạng như vậy, hẳn người hắn đã nhồi chặt Cocain. Hoặc hắn điên thật. Arthur bất giác nhìn mặt Botero mong tìm được câu trả lời trên đó. Nhưng anh thấy ngay tên này cũng điên nốt. Vẻ mặt hắn căng thẳng mà xa vời, đúng vẻ mặt của kẻ quen tìm khoái lạc trong sự thách thức tử thần.
Đột nhiên các vách hoa cương dãn ra rất nhanh. Đỉnh vách đang cao vút bỗng tụt xuống tận mặt con sông đang trải rộng giữa những bãi đá xám khổng lồ.
Arthur chợt trông thấy con thác.
Giây phút tuyệt vời đến nỗi Arthur tiếc không có người nào thân thiết ở đây để cùng chia sẻ với anh niềm thán phục thoáng qua này. Hàng triệu mét khối nước đỏ ngầu đổ xuống khoảng không tạo thành chiếc cầu vồng kỳ lạ bằng bọt nước cuồn cuộn lao xuống sâu hai trăm mét rồi vỡ tan trong tiếng gầm thét ngày tận thế.
Trực thăng treo lơ lửng trên ngọn thác. Botero nhìn với vẻ giễu cợt Arthur đang há hốc mồm. Rồi ra lệnh:
— Vamos.
Trực thăng vọt thẳng lên, lấy độ cao bay trở lại đường cũ men theo dòng sông Guavabero. Hai phút sau, những khe hẻm hoang dã dường như dịu bớt. Bờ sông là những tảng đá phẳng ép dòng nước trong một thứ xifong cực mạnh khiến nước vẫn lao đi vùn vụt. Phi công ngoặt gấp sang phải, thả máy bay rơi như hòn đá, nửa chừng hãm lại làm máu mọi người dồn ứ lên đầu, rồi nhẹ nhàng đỗ xuống bãi rộng của ngôi làng có độ dăm chục nóc nhà.
Điều bất ngờ, gần như không thể có được: ngay giữa làng có chiếc bàn bida. Loại bida lỗ, màu lá cây đã phai trông như nhặt ra từ cảnh trí miền Tây xa xôi hồi thế kỷ trước.
Quanh bàn có một đám Indiens đứng lặng ngắt, không ai buồn quay nhìn chiếc trực thăng ồn ào tiếp đất trong bụi mù.
Ngay lúc đó Arthur trông thấy cái đặt trên bàn. Xác một người đàn ông.
— Thế ra cậu là vua Arthur đấy?
— Chính thị.
— Mình đã nghe nói nhiều về cậu. Mình là Marvin.
Gã tóc vàng chìa tay, mặt nhăn nheo nụ cười.
— Chúc mừng cậu tới giang sơn của mình.
— Cảm ơn.
— Lần đầu phải không?
— Phải.
— Đừng chấp nhặt chuyện ban nãy. Mình không chào cậu. Vì cậu cũng biết tính Botero. Lúc nào hắn cũng nghi ngờ mọi người ngoặc nhau chống lại hắn. Vậy mà có những hai tên Puerto Rico cùng một lúc! Cậu thấy chưa? Có thể nổ ra một cuộc đảo chính thực sự!
Một gã Indiens bỏ tốp đông đi theo Botero vào trong lều, với hai tay vệ sĩ bám chặt như hình với bóng. Arthur ngồi tách ra một chỗ trên xúc gỗ, châm thuốc hút. Marvin đến bên.
— Cậu làm mình mất vía vì những trò nhào lộn trên hẻm sông.
Marvin cười lớn.
— Đúng là cậu chưa từng ở Việt Nam!
— Chẳng ai đi khắp mọi nơi được, Arthur nói ngắn gọn tỏ ý cáo lỗi.
Rồi chỉ vào toán Indiens đang lẩm nhẩm cầu kinh:
— Chúng làm trò gì vậy?
— Chôn cất một tên trong bọn.
— Sao mà chết?
— Dân bộ lạc này đều chết giống nhau. Chết đuối.
Arthur nhìn gã, không hiểu.
— Cậu chưa biết à? Công việc của chúng là chuyển côca sang bên kia bờ. Mỗi tháng ít ra có hai tên bỏ mạng.
— Không có đường khác sao?
— Không! Không đường sá, không lối mòn, núi đút nút bốn bề.
— Thế bàn bida từ đâu đến?
— Chẳng ai biết. Nó ở đây có lẽ đã hàng trăm năm nay.
— Mang tới bằng cách nào?
— Cậu tìm mà hiểu. Chúng dùng làm bàn thờ người chết từ đời tám hoánh nào rồi ấy. Ở đây lắm chuyện kỳ cục lắm.
— Ví dụ?
— Làng này không có tên. Chỉ biết đây là ngô: làng kế cận Randal, thế thôi, không ai biết gọi là làng gì. Vậy mà cậu nhìn kia.
Gã giơ tay chỉ dãy phên kéo dài ngút tầm nhìn, phía trên có mái lợp lá chuối.
— Đây là trung tâm làm bột gốc lớn nhất thế giới.
Hàng ngàn tấn lá côca từ Peru, Bolivia, Paragoay, Nicaragoa chở tới. Phơi nắng thật khô rồi đốt. Trải tro lên những tấm phên dài một trăm năm chục mét đặt trên vô vàn cọc đỡ phủ kín tro bằng lá nhôm, đốt lửa bên dưới sấy cho chóng khô.
— Cậu quê đâu? Arthur hỏi.
— Minnesota.
— Có về quê luôn không?
Marvin nhìn anh với vẻ ngạc nhiên thích thú.
— Cậu đùa chắc?
— Có thấy thiếu không?
— Mãi cũng quen. Điều rắc rối là không biết tiêu tiền vào việc gì.
Arthur không nén được mỉm cười.
— Đúng thế. Một vấn đề hóc búa.
— Cậu tưởng mình phịa chắc? Mình đã làm thuê cho đầu sỏ Sanchez. Sáng nào cũng như sáng nào, với số tiền kiếm được trước khi ăn lót dạ hắn cũng đủ sức mua đứt tòa Bạch ốc. Có bữa hắn nhận được bưu thiếp từ Pháp in cảnh thể thao mùa đông, trong đó có hình khách sạn “Núi Arbois”. Khoái quá, hắn cho lùng bằng được các bản thiết kế và bắt xây y hệt một tiệm như thế giữa rừng sâu. Bãi để xe của hắn có hàng đống Rolls và độ hai chục Ferrari xếp xó. Lại mê tàu bè nên hắn tậu khoảng mười chiếc kiểu “Điếu Thuốc” lắp máy 1000 sức ngựa. Khốn nỗi chỗ hắn ở lại không có nước.
Arthur cười ầm. Marvin tiếp:
— Cậu biết không? Trước tư dinh hắn xây hai chiếc cột rồi đổ bê tông gắn hẳn một chiếc cessana mới toanh trị giá một triệu rưỡi đô làm cổng. Cho đẹp mắt!
— Botero có khùng như hắn không?
— Xin lỗi cậu! Botero khác hẳn. Tuy đầu hắn được treo giải, nhưng không vì thế mà hắn không ra vào đất Mỹ bằng đủ cách và bất cứ lúc nào hắn muốn.
Arthur giật mình, thì thầm.
— Coi chừng, hắn kia kìa.
Chúng chết đuối là điều chẳng đáng ngạc nhiên. Trên dòng chảy xiết ghê rợn này bất cứ vật gì bị nước cuốn đi đều không thoát khỏi mõm những con xoáy điên dại để rồi vỡ tung nơi vách đá.
Cảnh tượng thật lạ lùng.
Arthur sửng sốt nhìn những chiếc độc mộc bọn Indiens đang sửa soạn để vượt sông.
Những thân cây dài bốn mét, khoét một đoạn vừa đủ chỗ cho một người và kiện hàng chừng 50, 60 ký côca.
— Không được ngủ gật trên bơi chèo, Marvin lẩm bẩm bình luận.
Đống bao trên bờ mỗi lúc một to.
Bột gốc gói kỹ trong lớp giấy dầy phủ nhựa trong suốt. Bên ngoài bọc nilông chằng buộc rất chắc. Chỉ huy bọn Indiens ra lệnh bốc hàng lên thuyền. Thuyền bập bềnh trên một vùng nước tương đối lặng, do tay người níu giữ.
Một tiếng hô khàn khàn. Thuyền thứ nhất lao vút như điên, biến mất tăm sau cột sóng. Gã Indiens trên thuyền cong người chèo lái chỉ hiện ra cách chỗ xuất phát ba chục mét, cố sức chống lại dòng nuớc lăm le nghiến nát gã.
Nhiều chiếc độc mộc lao theo.
— Chào cậu, Marvin nói.
— Sao lại chào? Arthur ngạc nhiên.
— Mình phải quay lại trên kia. Nhận bộ phận thay thế vào trực thăng sáng sớm mai.
Arthur nhìn không hiểu.
Không có trực thăng, sang bờ bên kia bằng gì đây?
Anh không có thì giờ thắc mắc lâu hơn.
— Vamos, tiếng Botero gào to.
Hắn chỉ cho Arthur một gã Indiens móm đang níu chặt vào thuyền.
— Đi với thuyền kia.
Lúc đi ngang qua chỗ anh, hắn vỗ nhẹ lên vai. Rồi tụt xuống dốc, nhảy xuống chiếc thuyền làm nó dập dềnh và ra hiệu cho anh, tỏ vẻ sốt ruột.
Arthur nuốt nước bọt. Ghi nhận lần cuối cùng toàn bộ quang cảnh xung quanh. Lão Indiens móm, những con thuyền độc mộc vững chãi như những cọng rơm, mắt nhìn chằm chằm của Botero, dòng sông hung tợn, bóng Marvin leo dốc quay về làng, bầu trời xanh có đôi kền kền xoay vòng rất cao trên cảnh tượng điên rồ này. Anh làm ra vẻ không sợ hãi buông mình gọn trong lòng thuyền. Thuyền chòng chành dễ sợ. Anh không kịp duỗi đôi chân dài ngoẵng cài vào mũi thuyền thành hai ống giác mút chặt.
Lão Indiens đã đẩy mạnh thuyền lao thẳng giữa tiếng gào thét váng tai của con sóng sủi bọt đỏ ngầu. Arthur bị ngay một cú kinh khủng thúc vào sườn, vọt lên như mũi tên tận đỉnh cơn sóng, đầu như bị dứt khỏi thân, thân dứt khỏi khúc cây, khúc cây dứt khỏi dòng thác.
Bờ sông lùi xa với tốc độ ác mộng.
Arthur biết mình sắp chết đến nơi. Trước đây vẫn nghĩ sẽ chết trên không. Kỳ cục thật. Hóa ra sẽ chết dưới nước.
Sau lưng anh, lão Indiens vừa cao giọng lảm nhảm vừa chiến đấu bằng mái chèo. Dòng thác cuồn cuộn gầm thét dâng nước mấp mé mạn con thuyền đang lao thẳng vào những mỏm đá sắc như dao, đến tích tắc cuối cùng mới tránh thoát như bằng phép lạ.
Sóng điên cuồng dựng những bức tường đục ngầu xông tới. Arthur thoáng trông thấy Botero.
Hắn đã lấy bơi chèo từ tay gã Indiens một mình giao chiến với dòng Guabavero. Thoắt cái, cả hắn và con thuyền bị sóng nuốt chửng.
Arthur liếc nhìn lão Indiens. Lão chưa móm hẳn. Ở hàm trên còn sót lại một mẩu đen sì tụt sâu trong lợi. Nhìn được nó, Arthur biết lão đang cười với anh. Có khi lão đã đoán được anh đang sợ, nỗi sợ làm sơmi dán chặt vào người, làm tay anh biến thành vuốt nhọn cắm sâu vào thớ gỗ mềm cố gắn chặt thân hình với thuyền.
Anh nhắm nghiền mắt, mặc kệ muốn ra sao thì ra.
— Senior
Thuyền đứng im.
Chắc nó đã chìm nghỉm.
— Gã kia!
Tiếng Botero. Anh mở mắt.
Bọn Indiens ban nãy đứng trên bờ bên kia địa ngục anh đã trông thấy, lúc này đang bình tĩnh xếp các bao Cocain lên những phiến đá hoa cương. Vậy là đã vượt qua sông dữ! Suýt nữa anh ôm hôn lão lái thuyền. Nói lời kính trọng lão, mến phục lão, tỏ tình với lão.
— Adios, lão già nói.
— Adios, Arthur chào lại.
Botero đã lên yên. Arthur cũng nhảy lên lưng một con la. Không những chân tay đều rã rời, mà anh còn thấy say lử. Lúc ngồi trên trực thăng, anh đã để ý và xác định được rằng bờ con sông đỏ cách nơi anh đỗ máy bay chừng mười kilômét. Nếu cưỡi la phải đi chừng một hoặc hai giờ tùy theo địa hình. Phía trước hai gã Indiens cho thuê la mở đường. Đằng sau, đoàn la đã xếp hàng xong, lưng con nào cùng võng xuống dưới chồng bao nhựa.
— Vamos, Botero ra lệnh.
Đoàn người ngựa cất bước.