Hướng đông nam, Botero nói.
Arthur đã lượn trên đường băng hai vòng, lập tức chuyển hướng bay. Hỏi:
— Tôi đã tới đó lần nào chưa?
— Chưa.
Bình minh ló rạng. Đêm qua anh ngạc nhiên thấy Carmen chỉ rúc vào lòng anh, vùi đầu trong vai anh.
Ngủ ngoan như trẻ thơ, nụ cười trên môi, tay bíu chặt bên hông anh. Lúc năm giờ anh phải đánh thức. Cô choàng dậy chạy vội vào bếp pha cà phê, vắt hai trái bưởi.
Lúc từ biệt cô trên bực cửa, cô vén suối tóc đen tuyền, mân mê đôi hoa tai anh tặng và nói với vẻ nghiêm trang thật ngây thơ:
— Em không bao giờ rời chúng.
Xe nổ máy, Arthur ngoái nhìn lại. Carmen đứng lặng. Thân hình không động đậy, cô giơ tay vẫy lần cuối cùng.
Arthur thăm dò:
— Chắc tới San José del Guaviare?
Phía sau lưng hai người, Enrique ngồi lặng thinh như pho tượng nhân sư.
— Khỏi thắc mắc - Botero đáp mắt vẫn nhìn thẳng - Cứ bay.
Arthur lấy độ cao, liếc mắt nhìn trộm Botero. Khuôn mặt phèn phẹt có lọn tóc dài vắt ngang. Có lẽ hắn độ ba mươi tuổi. Cặp mắt nấp sau hai ngấn mỡ, đen nháy như than đá nói lên rất rõ: khi trái ý, khối vai u thịt bắp này giết người không chần chừ.
Nhỏ con, gân guốc, nóng nảy, hắn không bao giờ cất cao giọng. Không cần thiết, mọi người đều lắng nghe. Một sức hút thú vật làm xung quanh luôn nơm nớp. Arthur đã nhiều lần chứng kiến cơn giận dữ lạnh lùng của hắn bùng nổ. Không tìm ra lời lẽ nữa, hắn nổ tiểu liên hoặc đâm chém thay cho lời nói.
Hắn lớn lên ở vùng ngoại ô Bogota và những khu dân cư nghèo đói, mới lên tám đã dám gây gổ với người lớn cao to cân nặng gấp đôi. Arthur là một trong số người hiếm hoi biết rõ tật nguyền kinh khủng của hắn: thời còn ẵm ngửa, Luz Botero đã bị chuột ăn cụt bộ phận sinh dục.
— Chếch xuống nam một chút, Enrique nói.
Arthur đã từng bay trên khu rừng từ lâu nên dù sao cũng có thể phát hiện thấy sân bay. Một đường thẳng bụi mù giữa rừng cây.
Xưởng chế biến bí mật không xa chỗ này.
Lá côca từ Peru hoặc Bolivia được chở tới dưới dạng bột, các nhà khoa học trong đó có nhiều người Pháp của Công ty liên vận Pháp trước kia chế biến thành Cocain, với số tiền công rất cao. Dân Colombia đã thử trồng côca nhưng kết quả đáng thất vọng. Sản phẩm không đảm bảo phẩm chất cấp cao theo yêu cầu của thị trường Bắc Mỹ. Không sao: họ chế thành thứ thế phẩm rất nguy hại để tiêu thụ nội địa: chất basico.
Cơ quan chống ma túy Hoa Kỳ “Nare” đã phát hiện trong rừng rậm có khoảng tám trăm đường băng bí mật trải dài trên khu vực một ngàn năm trăm kilômét, xây dựng tại những nơi hiểm trở cheo leo nhất của vùng đất rộng mấy triệu kilômét vuông. Mười lăm phút là đủ để làm nổ tung, mười lăm ngày đủ để làm lại cách chỗ cũ một trăm kilômét, ngụy trang bằng cành lá để che mắt các phi công do thám. Rõ ràng có bàn tay các kỹ thuật gia nhúng vào việc thiết kế. Bọn lái máy bay bị nhân viên công lực bắt được phần lớn đều là cựu binh trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, cơn choáng quá mạnh làm chúng khó tái thích nghi được với những công việc chắc ăn nhưng nhạt nhẽo tại quê hương Missouri.
— Tiếp tục nam - đông nam? Arthur hỏi.
Độ cao ba nghìn. Khoảng trời trước mặt anh đột nhiên biến thành tảng bông xám xịt. Không lời trả lời. Anh quay nhìn Enrique vừa lơ đãng gật đầu. Arthur đoán mình còn cách San Jóse del Guaviare chừng mười phút bay. Anh cố nắm vững cần lái cho máy bay xuyên qua vùng mây.
Hết tầm nhìn. Dãy núi Andes đã bỏ xa đằng sau nhưng anh chúa ghét lái mò như thế này, không được đài kiểm soát nào hướng dẫn.
Anh liếc sang Botero. Hình như hắn ngủ gật. Mấy thằng này điên rồi. Cứ bay theo hướng này chẳng mấy chốc sẽ tới đất Brasil.
Anh giật mình. Enrique vỗ vai.
— Chính bắc, gã Indiens nói.
Arthur nghiến chặt răng chỉnh hướng bay. Gió thốc ngược làm máy bay rung mạnh. Có hỏi thêm cũng vô ích, không ai trả lời. Ba mươi giây sau Enrique lại đập vai anh.
— Hạ cánh.
— Điên à? Cổ Arthur thắt lại.
— Hạ cánh.
Khỏi cần nói, lái máy bay cho bọn này phải tỏ ra xứng với đồng lương chúng trả. Arthur cho máy bay xuống và giữ vững hướng bay trong mấy phút.
— Nữa, Enrique bảo.
Arthur đẩy cần lái. Mặc xác! Có chết thì chết cả nút. Biển mây dường như vô tận. Đồng hồ chỉ độ cao ba trăm mét.
Mỏm đá chợt nhô lên giữa tối đen, máy bay vút qua.
Hai trăm mét.
Enrique thản nhiên như người dẫn đường ngồi trước dàn radar, nói tỉnh khô:
— Chếch sang phải chút xíu.
Arthur quệt mồ hôi ròng ròng trên trán, làm theo chỉ dẫn.
Một trăm năm mươi mét.
Biển mây đột ngột rách toang. Anh thoáng thấy vòm cây xanh của rừng rậm lỗ chỗ đầm lầy lấp loáng ánh chì. Và thẳng ngay trước mặt, đúng giữa trục máy bay có đường băng trắng mờ.
Anh thở phào. Quả tình có thấy sợ.
Nhưng điều làm anh sợ hơn hết là tài phù thủy của gã hoa tiêu mù chữ.
Nhà để máy bay lợp tôn nấp kín dưới lùm cây. Lúc xuống cách mặt đất ba chục mét Arthur vẫn chưa nhìn thấy. Trời thấp, nóng ngạt thở. Một gã Indiens cởi trần mang tới cho anh lon bia âm ấm. Nhiều người đội mũ rơm rộng vành đang tíu tít trên bãi nồng nặc mùi hóa chất. Thùng sắt lỏng chỏng khắp nơi. Lá côca chất đống trên phên mắt cáo chờ được chế biến thành bột nguyên chất.
Arthur chưa tới đây lần nào. Botero vừa đặt chân xuống đất liền được một toán dân binh rách rưới hộ tống đưa vào một căn lều. Arthur không biết sẽ dừng chân nơi đây bao lâu. Anh quăng vỏ lon bia, đi theo gã Indiens dẫn anh qua trại đến căn lều gỗ.
Trong lều, trên nền đất nện đặt tấm phản phủ nệm rơm, một can nước và nhiều muỗi. Arthur nhấc can dội lên đầu thứ nước nóng hổi.
Anh cởi bỏ áo sơmi sũng mồ hôi, đội chiếc mũ đi rừng và ra ngoài.
Không người nào trong trại để mắt tới anh.
Anh xỏ chân vào ủng đi ra đường băng tới chỗ đậu máy bay. Anh đã vô tình bỏ lại trên máy bay chiếc túi để bây giờ có cớ quay lại đây. Nấp sau cặp kính đen, mắt anh mặc sức soi mói từng chi tiết nhỏ trong trại.
Anh đặc biệt chú ý đến ngôi nhà xây dài thượt cửa gỗ chắc nịch chốt gióng sắt. Lần đầu tiên thấy loại nhà này giữa rừng sâu. Thông thường không có nhà xây. Mọi công việc đều tiến hành dưới mái lợp cành khô gác lên bốn chiếc cọc. Ngoài các chuyên viên pha chế được hưởng chế độ đặc biệt, thợ và lính gác đều phải mắc võng ngủ dưới gốc cây rừng.
Còn cách đường băng vài mét anh chợt thấy có ánh kim loại: Tiếp tục rảo bước anh nhìn qua kẽ lá thấy mũi một chiếc Cessna.
Ai lái nó tới đây?
Đến đường băng, anh trèo lên máy bay giấu kín dưới mấy cây xoài, ngồi vào ghế giả bộ kiểm tra bảng đồng hồ. Liếc mắt thấy không có ai nhìn, anh đi về đuôi máy bay, lấy chìa khóa trong túi ra mở ngăn đặt chiếc hòm mầu lục. Lôi hòm đặt lên cầu máy bay, anh ngồi phịch xuống ghế tủm tỉm cười: nếu Peter O’Toole trông thấy anh nhất định sẽ bị viên trung úy giết chết tươi.
Vì việc anh sắp sửa làm là một việc hoàn toàn có tính cách cá nhân. Nó có thể phương hại đến nhiệm vụ của anh. Làm vì tinh thần thượng võ, vì máu yêng hùng. Và để làm vui lòng anh bạn ở cơ quan Chống Ma túy đang nóng lòng chờ đợi kết quả.
Arthur nhẹ nhàng mở nắp thùng thò tay vào trong túm lên một vật gì mượt mà, run rẩy. Rút tay, anh cẩn thận mở ra từ từ.
Trên lòng bàn tay có độ mươi con bướm trắng nhỏ xíu đang đập cánh nhè nhẹ. Vài ba con vụt qua cửa đang mở rộng, do dự định hướng rồi biến mất.
Bướm “malumbia” còn phàm ăn hơn cả bọn piranha.
Loại cá piranha trên sông Amazone chuyên ăn thịt, trái lại bướm malumbia chỉ ăn chay. Nói đúng ra, chỉ có một thứ có thể làm chúng tạm nguôi ngoai cơn đói không bao giờ thỏa mãn: lá côca. Vừa mới đây chúng đã làm bọn buôn ma túy ở Peru mất trắng năm chục triệu đôla bằng cách nhai sạch ba chục ngàn hécta côca nhanh như gió. Sự thèm thuồng giao phối của chúng cũng không kém hung tợn: mỗi con cái đẻ hàng nghìn trứng, sau vài ngày đã nở ra hàng nghìn con bướm háu ăn.
Nhiều nhà côn trùng học của FBI đã nghiên cứu loại vũ khí tuyệt đối mới tìm ra này: một con bướm nặng chưa tới một gram mà hiệu quả mạnh hơn, triệt để hơn các trực thăng hạng nặng, quân lính, thuốc rụng lá và súng phun lửa.
Vẫn không có ai xung quanh đây.
Arthur rít qua kẽ răng:
— Ăn ngon miệng nhé, các bạn.
Với dáng điệu người gieo hạt, anh bắt đầu thả bướm ra từng vốc.
Sau giấc ngủ trưa li bì, Arthur tỉnh dậy. Trời quang mây. Mặt trời bắt đầu ngả về tây. Botero sẽ bắt anh bay đêm, hay sáng mai mới ra đi? Không thể đoán biết. Từ sáng nay không thấy mặt hắn. Arthur quyết định đi dạo cho đỡ cuồng cẳng. Anh chợt để ý: các cửa nhà kho dài đều mở toang. Một dãy người đứng chuyền tay các thùng hàng chất vào kho.
Vừa huýt sáo bài Laura, anh vừa thản nhiên lại gần ngó xem: thùng chật cứng những túi chất dẻo đầy ắp Cocain. Lọt được tới thị trường Mỹ, mỗi gram giá xuýt xoát một trăm đô. Anh nhẩm tính.
Kinh khủng! Mỗi tên du thủ du thực rách như tổ đỉa kia ôm trên tay hai triệu đô.
Tiền lương trong năm chục năm cật lực của cảnh sát viên cơ sở.
*
* *
Tên đầu bếp nấu món kinh tởm gì đó đang bốc khói trong chiếc chảo gang. Không đáng ngạc nhiên. Ở đây ngoài món bắp nấu chỉ có món đậu. Đậu đỏ. Đổi món bằng đậu đen. Dù sao cũng còn an ủi thần khẩu được bằng dưa hấu và chuối rưới thêm nước lã. Botero vẫn như mọi ngày có hai vệ sĩ riêng cặp kè hai bên. Còn có thêm một gã tóc muối tiêu Arthur đã có lần gặp ở Medellin.
Đêm xuống đã một tiếng rồi. Các khuôn mặt hốc hác dưới ánh đèn dầu vàng vọt. Xung quanh nhà kho vẫn nhộn nhịp.
— Ta ngủ tại đây? Arthur hỏi.
— Ừ, Botero đáp.
Thật lạ. Chỉ cần hắn hé răng là mắt cả bọn xung quanh lập tức ánh lên vẻ khiếp sợ và tôn sùng. Đối với hắn mạng sống của bản thân chẳng quan trọng gì hơn của người khác. Huyền thoại về sức chịu đựng đau đớn thể xác của hắn làm mọi người kinh hoàng.
Trong tù hắn đã từng húc vào tường cho vỡ sọ. Đã có lần hắn thản nhiên lấy mảnh chai rạch thịt ngay trước mặt các giám thị. Đã từng nuốt vào bụng nào dĩa, nào ve chai, rồi xăng và cả chiếc đồng hồ của vị luật sư làm hắn nổi cáu. Và sáng hôm sau, người ta thấy xác ông ta lỗ chỗ vết đạn ném trên mảnh đất hoang. Trong thế giới tù đầy, những chuyện này loang nhanh. Ngay khi nhiệt độ trong bóng râm lên tới bốn nhăm độ Botero vẫn mặc sơmi dài tay. Những người đã có dịp nhìn rõ thân hình hắn dám thề họ chưa bao giờ trông thấy cái gì giật gân như thế. Đầy mình xăm, vết chém, sẹo lồi. Tấm bản đồ đắp nổi ghi rõ địa chỉ của đói nghèo, nổi loạn và kiêu ngạo.
— Luz, anh định mai lên đường?
— Đúng 6 giờ sáng.
— Xa không?
— Không.
— Ok. Để tôi đổ xăng.
Xăng là thần kinh của xưởng pha chế bí mật. Đôi khi trực thăng cảnh sát phát hiện được một trại. Cuộc chiến nổ ra dữ dội, bọn lính trơn cõng ma túy đi sơ tán dưới sự bao che của tán rừng.
Có trường hợp cảnh sát bị súng tự động của bọn chúng bắn hạ. Hoặc xưởng chế biến trúng bom cháy. Trong cả hai trường hợp, phải lập cầu hàng không để chở những kẻ sống sót đi xây dựng trại mới ở địa điểm khác. Botero có trong tay một phi đoàn năm mươi tám máy bay.
Một đội quân luật sư nhiều quốc tịch dùng thủ đoạn liên kết tài chính tinh vi móc ngoặc giữa các nước cộng hòa chuối với các trạm tiếp sức đặt ở Zurich và Panama, đã tạo cho hắn cái vỏ bọc: Công ty cho thuê máy bay “Mặt trời Caribe”.
Botero tuy dốt đặc cán mai nhưng lại có trí thông minh sắc sảo, nhanh nhậy, lập tức thấy ngay khả năng làm ăn. Tay chân hắn khoác áo từ thiện đi vào tất cả các viện dưỡng lão dọc bờ biển phía đông Hoa Kỳ mời các cụ sang Florida nghỉ chơi miễn phí tám ngày trong các khách sạn do mafia ma túy kiểm soát. Vô tình, các cụ tám mươi linh lợi đều biến thành người giao hàng: ai dám ngờ các cụ hưu trí đáng kính lại buôn bán ma túy? Botero uống nốt ngụm nước rồi đứng lên. Bọn vệ sĩ vây quanh. Gã tóc điểm bạc cũng đứng dậy. Ông chủ đã rời bàn: bữa ăn kết thúc.
Arthur lững thững đi về các bụi chuối. Đó là toilet. Trời tối. Nhưng đứng đó anh có thể kín đáo quan sát nhà kho.
Cửa kho vẫn mở hé. Bên trong có ánh đèn leo lét hắt ra chỗ anh. Rõ ràng không có ai cản đường. Anh huýt sáo bài Blue Skye và đến gần. Thường thường các chuyến lái cho Botero tới chỗ nào anh cũng được tự do đi lại trong trại, vả chăng nếu bị bắt gặp bất thình lình anh vẫn có thể viện lý do đang đi tìm hắn. Lúc đến cách cửa kho đã rút bỏ các thanh sắt chắn ngang độ ba mét, anh gọi khẽ.
— Luz... ơi Luz...
Anh tiến thêm và lọt hẳn vào quầng sáng hai chiếc đèn bão đặt dưới nền nhà.
— Luz... Luz...
Anh bước ra cửa.
Và choáng váng như bị búa bổ. Không tin được vào mắt mình, anh đứng lặng trước núi Cocain xếp trong kho. Quá sức tưởng tượng. Các hòm chứa mỗi cái khoảng mười ký leo lên tận mái và chạy hút vào bóng tối mênh mông tận cuối kho. Cả nước Colombia phải sản xuất trong nhiều năm mới ra nổi chừng này. Trong cơn sốc anh cố thử ước lượng. Không tính nổi. Có lẽ độ năm trăm, một ngàn tấn chăng?
Chưa trông thấy bao giờ. Anh chợt hiểu: có một đòn kinh khủng tầm cỡ hành tinh đang được chuẩn bị. Bốn mươi tỷ đô la? Sáu mươi? Đòn này quá lớn, Botero và đồng bọn tuy có khả năng tài chính vô hạn định cũng không thể tự chúng làm nổi.
Vậy ai?
Quy mô này đòi hỏi có sự tham gia hết mình của cả một quốc gia. Bolivia? Peru? Xoàng quá.
Bất thình lình anh nghĩ ra.
Khám phá khá quan trọng khiến anh choáng váng, cố lê đôi chân bủn rủn đi ra ngoài kho.
Trong trại hoàn toàn im ắng. Anh sẵn sàng trả bất cứ giá nào để có trong tay một chiếc điện thoại gọi được Peter O’Toole ngay bây giờ. Báo tin về hiểm họa chết người cho Tổng thống Hoa Kỳ, cho các phương tiện thông tin, cho dân chúng toàn nước Mỹ. - Chắc về Medellin sẽ có.
Ngày mai.
Arthur loạng choạng trở về lều mình, bất giác huýt sáo bài Laura.
Xưa nay anh rất sành nhạc jazz.
Vậy mà đêm nay anh sững sờ thấy mình huýt sai điệu, lần đầu tiên trong đời.