Máu Thời Gian

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
24

❊ ❊ ❊

Jeremy đứng bất động, rình đợi bất cứ động tĩnh gì quanh mình. Phía xa một đoàn tàu chạy qua, át đi mọi âm thanh có thể.

Anh biết rằng có người đã đến đây, hoặc có thể vẫn còn ở đây. Có người đã đến thăm khoang tàu của anh trong lúc anh vắng mặt.

Trong bộ sưu tập bụi tỉ mẩn và ngày một dày thêm mà anh để mặc cho nảy nở trên đống đồ đạc lộn xộn của mình, đồ vật đã bị xê dịch.

Các chi tiết vô cùng nhỏ, nhưng lại có ý nghĩa dưới mắt anh. Không phải là một cuộc lục soát quy củ, mà chỉ là một bàn tay tò mò và táy máy đã lướt qua đồ đạc của anh.

Anh tiến lại gần cửa toa tàu và túm lấy một cọc lều nằm lăn lóc trên đất cùng các đồ vật khác. Anh rút cái cọc ra kéo theo tiếng động ồn ĩ.

Ánh sáng ban ngày lọt qua các cửa sổ, dù đã bị chặn lại một phần do lớp vải nhung trên tường. Anh trèo lên ba bậc và xem xét phòng chính.

Không ai cả. Không có gì bị di chuyển.

Anh đi đến phòng vệ sinh và dùng cái cọc đẩy cửa ra. Trống rỗng.

Anh vào phòng ngủ. Mùi thơm đột ngột tấn công anh. Xông lên mũi, lao xuống dọc cơ thể anh, xộc vào ký ức rồi rơi vào tim cùng cái vuốt ve đau đớn của một cọng lông vũ sắc bén như lưỡi dao cạo. Mùi thơm này quen thuộc biết bao. Vừa dịu dàng vừa dữ dội. Jeremy đánh rơi thứ vũ khí chế tạm và ngồi lên giường. Đó là một mùi thơm hoa quả, gần như nam tính.

Loại nước hoa cô thường xức. Cô thường thoa một chút nước hoa giữa hai bầu vú trước khi làm tình, luôn luôn như vậy.

Jeremy chợt nhận ra bức ảnh trên bàn ngủ đã biến mất. Cô đã lấy nó. Cổ tay anh chạm vào một góc nhọn.

Một tờ giấy bìa viết tay.

‘Mời anh tối nay đến dự lễ hội tại Shepheard’s, ‘Sri Lanka thần diệu’. Dạ hội hóa trang. Cơ hội có một không hai để phỏng vấn chồng em cho vụ điều tra của anh. Chúc vui vẻ.

Jezabel.’

Cô đùa giỡn anh. Độc ác không kém gì con mèo vờn chuột, không chịu giết con mồi suốt nhiều giờ liền, kéo dài mãi cơn hấp hối của con mồi chỉ để giải trí.

* * *

Đêm dần bao trùm thành phố, trên phố Ibrahim Pasha, những ngọn đèn đường đốt ga dày đặc, tỏa những vầng hào quang màu xanh da trời và màu cam lên các mặt tiền.

Khách sạn cực kỳ nổi tiếng Shepheard’s đã sẵn sàng cho cái được gọi là ‘Vũ hội của thập kỷ’. Dưới mái che lợp kính rộng lớn ở mặt tiền chính, trên đỉnh của chừng chục bậc thang trải thảm đỏ, hai cây cọ canh giữ lối vào. Vô vàn nến cắm trong đèn lồng được bổ sung vào phút chót để chào đón khách mời.

Jeremy đi bộ từ ga đến, qua đám gác cổng người Albani rồi lên sảnh. Anh đưa giấy mời cho một người đàn ông mặc com lê, đáp lại người đó chỉ cho anh nhà hàng chính. Trước hai cánh cửa đang mở của gian phòng rộng, một cặp nam nữ phát khăn đội đầu cho phái nam và vòng tay hình các con vật cho phái nữ.

Jeremy từ chối cái mũ, anh cho rằng bộ trang phục đi săn châu Phi đủ để anh được phép tham dự buổi tiệc.

Khách sạn này được nói đến trên toàn châu Âu và thậm chí ở Mỹ. Jeremy công nhận, thêm một lần nữa, rằng danh tiếng đó không hề bị thổi phồng.

Tường phủ dây leo dài tươi tốt, những cây cọ tựa mình vào vách trông giống những cái cột thực vật, quạt máy khổng lồ làm lá cây dao động tạo nên tiếng rì rào khe khẽ. Những chiếc mặt nạ gớm ghiếc thể hiện những sinh vật huyền thoại lấp ló trong tán lá, được chiếu sáng bằng những ngọn nến khổng lồ thắp bên trong. Trên những cây sào chạm trổ, cả một bộ sưu tập các loài chim nhiều màu lắc lư trong tiếng cười của thực khách. Theo bản năng, Jeremy nhận ra một con hổ, và phía xa hơn, một con sư tử, móng vuốt xòe ra. Nghệ thuật nhồi da thú thật đáng khâm phục. Nhiều loài động vật có vú khác nhô ra từ những vòm lá, giữa những chiếc bàn tròn được phủ khăn màu sắc sặc sỡ, mỗi bàn bày một bộ chân nến đồ sộ, cuốn xung quanh là một con rắn sáng bóng lên dưới ánh lửa.

Hai bên lối đi chính giữa, người ta đã dựng lều của người bản địa được bện tết cẩn thận, tạo thành một đường dẫn đến tận cuối phòng, nơi có sân khấu kiểu đền thờ vinh danh nữ thần Kali đang chờ đợi các vũ công. Bức tượng nữ thần cao đến vài mét, dõi theo đám khán giả sững sờ qua hai ngọn nến cháy trong hốc mắt. Dưới chân tượng, nhóm nhạc công Sri Lanka đang chơi một điệu nhạc ám ảnh bằng bộ gõ. Tiếng trống làm rung động không khí, ánh sáng màu đỏ của quang cảnh xung quanh hòa nhịp rung theo, như bị mê hoặc.

Hơn một trăm người lịch thiệp chen chúc nhau, trong những trang phục lóng lánh, tay cầm một cốc sâm banh. Trong số những người đó, Jeremy chẳng mấy chốc đã nhận ra nhiều chính khách quan trọng và các nhà công nghiệp, như Aboud Pacha, người giàu thứ bảy thế giới.

Người ta ăn mừng con ngựa của ông giám đốc khách sạn, ông Charles Behler, đã chiến thắng rực rỡ tại giải Allenby Cup, đúng ngày hôm đó. Niềm vui, sự ngưỡng mộ, uy thế tỏa lên đến tận trần nhà.

“Em thấy là anh đã nhận được giấy mời của em.”

Là Jezabel. Jeremy quay lại và thấy cô mặc chiếc váy mùa hè kết toàn bằng ngọc trai. Lớp lụa kếp mỏng mịn bên dưới vừa đủ che khuôn ngực. Chỉ mình Jezabel là có thể cho phép mình ăn mặc khêu gợi như vậy mà không gây tai tiếng động trời.

“Em đã vào nhà anh,” Jeremy thốt lên thay lời chào.

“Đã có thời việc đó không làm phiền anh.”

Lời đáp lại vang lên, khô khốc:

“Đã có thời, quả vậy.”

“Ô, nhưng con mèo béo đã biến thành rắn độc! Nếu anh muốn gặp chồng em, ông ấy ở kia kìa, cùng với trưởng đồn cảnh sát…”

Cô chỉ tay về một cái bàn hơi tách ra. Jeremy đưa mắt nhìn đường cong hoàn hảo của đôi vai, cái cổ mảnh dẻ, mạch máu phập phồng do quá nhiều cảm xúc.

‘Hoặc do quá thiếu cảm xúc’, anh nghĩ thầm.

Mái tóc đen dài của cô được khéo léo kết thành một dải, gài khuy hình hoa hồng và hoa violet.

“Cảm ơn em,” Jeremy nói nhỏ.

Anh quay lưng lại phía cô rồi đi thẳng đến chỗ hai người đàn ông. Vị trưởng đồn cảnh sát nhận ra anh liền đứng dậy.

“Thật là một bất ngờ thú vị, ngài thám tử! Tôi nghĩ anh đến đây để kết hợp thú vui với công việc chăng; quả là một cách pha trộn tuyệt vời, xin có lời khen ngợi anh!”

Jeremy bắt tay ông ta và đáp lại bằng nụ cười gượng gạo.

Đứng đối diện, ngài Keoraz kém nhiệt tình hơn. Mấp mé tuổi năm mươi, mái tóc hoa râm của ông ta rẽ đôi bằng một đường ngôi chải rõ, ông ta mang vẻ nghiêm khắc của những người có trí tưởng tượng ít hiện hữu trên khuôn mặt. Cằm ông ta sứt mẻ vì những lần cạo râu quá vội vàng, quá thô bạo, đôi môi mỏng, gần như không tồn tại, và cái mũi nhọn như một mảnh xương.

“Đây là thám tử…,” ông ta chào anh.

“Giới thiệu với anh ngài Keoraz,” ông trưởng đồn dẫn dắt. “Hai quý ông, tôi để hai người làm quen với nhau, tôi còn phải đi chào hai ngài Kapurthala và Mysore.”

Jeremy còn lại một mình với vị Mạnh Thường Quân quyền lực.

“Thực ra, chúng ta từng gặp nhau rồi,” anh nói rõ. “Ở bữa tối mừng năm mới, cách đây hơn một năm.”

“Tôi biết.”

Giọng ông ta cũng sắc bén chẳng kém gì các đường nét trên khuôn mặt.

“Tôi có vài câu muốn hỏi ngài, và bởi ngài là một người rất bận rộn, nên tôi phải tranh thủ bất kỳ cơ hội nào.”

“Anh nói đúng. Bản thân tôi là người rất ngăn nắp, chìa khóa của mọi thành công.”

Nói xong, Keoraz chỉ một tập giấy được ghim lại với nhau. Jeremy vươn cổ nhìn và nhận ra đó là bản sao của bản báo cáo đầy đủ mà Azim đã thảo chiều nay.

“Ông không…”

Keoraz ngắt lời vị thám tử:

“Anh bạn ạ, cấp trên của anh muốn trao tận tay tôi bản sao mới nhất này, có vẻ là vậy, về tiến triển cuộc điều tra. Đối với một người như tôi, điều quan trọng là biết rằng cuộc điều tra được tiến hành nhanh chóng và hiệu quả. Dù sao chuyện cũng liên quan đến quỹ của tôi.”

Chứng tỏ quyền lực, Jeremy thầm hiểu. Keoraz phô bày sức mạnh toàn năng của ông ta, qua đó tỏ ý rằng làm hại ông ta cũng như tìm cách áp đặt cho ông ta bất cứ điều gì đều là vô ích. Ông ta là người dẫn bước nhảy, không ai dẫn dắt ông ta cả.

Sau lưng nhà triệu phú, Jeremy nhận ra bác sĩ Cork cùng bộ râu bạc, ông ta cũng có mặt ở đây.

Anh cụp mắt nhìn xuống thấy Keoraz đang ra hiệu cho một người tiến đến. Giám đốc quỹ, Humphreys, xuất hiện bên cạnh họ.

“Xin chào, ngài thám tử. Từ sáng tới giờ anh vẫn khỏe chứ? À, anh không biết phó giám đốc của tôi, Pierre Bemeil!”

Ông giám đốc tránh ra nhường chỗ cho một người đàn ông thấp nhỏ hơn, đi phải chống gậy. Người này chào anh bằng giọng Pháp rõ mồn một.

Keoraz nhân lúc ấy liền cầm bản báo cáo của cảnh sát và đứng dậy.

“Tôi phải đi, có nhiều việc phải làm quá… Thám tử này, tối mai anh qua chỗ tôi nhé, tại biệt thự Héliopolis của chúng tôi, anh biết rồi phải không? Tôi nghĩ là tôi hiểu rằng anh và vợ tôi từng có thời rất thân thiết, cô ấy hẳn đã nói với anh nếu từ bấy đến giờ hai người có gặp lại.”

Jeremy lặng lẽ đồng tình, anh không còn gì để nói cả, Keoraz là người dẫn dắt cuộc chơi.

“Như vậy tôi sẽ có thời gian xem bản báo cáo này, để biết các anh điều tra đến đâu,” Keoraz giãi bày. “Thời gian gấp gáp đấy, thám tử ạ, tôi không muốn có thêm một đứa trẻ nữa bị giết vì bất cứ điều gì trên đời…”

Ông ta uể oải chào những người đang có mặt rồi biến mất trong đám đông mặc đồ hóa trang.

* * *

Azim duỗi người trên cái giường cơ động đặt cạnh bàn làm việc của mình. Anh mệt lử. Anh không đủ dũng cảm hoàn thành nốt những nhiệm vụ cuối cùng anh đặt ra cho mình. Anh hé một mắt nhìn đồng hồ treo tường. Dù sao thì bây giờ cũng đã quá muộn.

Nghỉ ngơi một chút. Đó là những gì anh phải làm. Để có thể vững vàng bắt tay vào ngày hôm sau.

Bốn đứa trẻ bị giết.

Anh mở mắt. Làm sao ngủ được khi biết rằng có thể có những đứa trẻ khác đang bị giết?

Anh chửi thề bằng tiếng Ả Rập. Anh có thể làm gì hơn? Đã có đến bốn đứa trẻ bị giết và…

Thật lặng lẽ, Azim đứng dậy.

Nghĩ cho kỹ, họ tưởng có bốn đứa bé, nhưng đó chỉ là từ khi các vụ giết người được liên kết với nhau. Điều gì cho phép khẳng định rằng tên giết người không từng hành động trước đó? Một vụ riêng rẽ, xử lý trong thoáng chốc, không để lại dư âm gì.

Azim vớ lấy cái khăn, đội lên đầu rồi đi về phía cầu thang. Anh leo lên tầng ba, nơi lưu trữ hồ sơ. Không còn ai cả, giờ này muộn quá rồi.

“Thổ tả!” Anh nghiến răng thốt lên.

Không biết rõ mình cần tìm gì thì anh không thể xoay xở giữa đống hồ sơ bất tận chiếm đến mười bốn kệ sách.

Anh đi xuống và ngó vào nhiều phòng làm việc cho đến khi phát hiện ra một khuôn mặt quen thuộc.

“Thanh tra Dogdson à! Tôi muốn hỏi ngài một việc.”

“Cứ hỏi đi, anh bạn.”

“Ngài có nhớ gì về một vụ giết trẻ con không? Một vụ giết người rất dã man? Các xác chết mang vết tích của một cơn điên không thể tưởng tượng.”

Dogdson bỏ cái tẩu đang ngậm ở góc miệng ra.

“À. Đó là vụ điều tra của anh. Những đứa trẻ bị bẻ làm đôi.”

Ông ta quan sát anh chàng người Ai Cập nhỏ bé qua phía trên đôi kính gọng to màu nâu.

“Quả thật là không,” ông ta trả lời. “Trước vụ điều tra của anh thì không. Nhưng tôi không phải người cần hỏi, mà là ông già Nichols, ông ấy là bộ nhớ của cảnh sát. Ông ấy đã nghỉ hưu cách đây sáu tháng, ông ấy chờ ngày về nước mà không hề nóng ruột. Anh có muốn gọi cho ông ấy không? Tôi có số của ông ấy đấy.”

“Có lẽ là hơi muộn rồi.”

“Không sao đâu! Ông ấy ngủ muộn lắm, và sẽ cảm thấy hài lòng khi được ta cậy nhờ. Anh ngồi đi, anh bạn ạ, tôi đi tìm số điện thoại.”

Chưa đầy ba phút sau, Nichols đã ở bên kia đầu dây.

“Không à? Ông cũng không nhớ gì à?” Dogdson nhắc lại vẻ thất vọng. “Thôi được, đành thế vậy. Ông giữ gìn sức khỏe nhé, và hẹn Chủ nhật ta cùng chơi bài.”

Ông cúp máy, cầm cái tẩu đã tắt lên.

“Rất tiếc anh bạn ạ, tối nay không may mắn gì cả. Ông ấy không nhớ có vụ giết trẻ em nào dã man như những vụ này. Tuy nhiên, làm sao có thể điên đến mức độ đó nhỉ? Bẻ gãy xương sống một đứa trẻ tội nghiệp, cầu cho tận đây ta vẫn nghe thấy tiếng súng xử bắn hắn, nếu anh bắt được hắn!”

Azim thân mật vỗ vai ông thanh tra rồi đi ra hành lang.

“Thưa ông?”

Azim nhìn thấy một phụ nữ mang một cái máy đánh chữ xách tay. Một trong những thư ký của đồn. Bà làm việc rõ muộn, anh nhận xét.

“Tôi có thể giúp gì cho bà?”

“Thật ra, tôi mới là người có thể giúp gì cho ông. Tôi nghe thấy cuộc nói chuyện của ông với ngài thanh tra và tôi… Tôi nhớ đến một vụ, cách đây chưa đầy hai tháng.”

Azim tựa người vào tường, quên mất phép lịch sự.

“Đó là một vụ giết người, trong khu nghèo Shubra ở phía Bắc thành phố,” bà nói tiếp. “Một người đàn ông… nói thế nào nhỉ? Bị bẻ làm đôi chăng? Chính tôi là người đánh máy bản báo cáo cuộc điều tra để sao ra làm nhiều bản, chính vì vậy tôi nhớ vụ đó. Thật… kinh khủng. Thực vậy. Người đàn ông bị sát hại, tay chân gãy vụn, và cột sống bị bẻ làm đôi.”

Bà đặt một tay lên ngực, cố gắng thở đều trở lại.

“Trời ạ, thật không thể tin nổi. Và người ta… người ta còn rút cả lưỡi ông ta ra nữa, tội nghiệp ông ta.”

Lần này Azim thấy mắt bà thư ký rưng rưng. Anh tiến lại gần bà.

“Thôi nào, thôi nào…,” anh lúng túng nói.

“Ôi, chưa hết đâu. Bên cạnh tất cả những thứ đó là một cảnh thực sự đồi bại: người ta tìm thấy một thứ khác trên xác ông ta, vương vãi khắp người.”

Bà cố nén cơn buồn nôn.

“Đó là… Là tinh dịch. Của người, nếu ông hiểu tôi muốn nói gì.”

Azim rùng mình. Vụ này rất giống. Cùng một sự tàn bạo, cùng một nỗ lực muốn bẻ gãy thân thể con người. Và cuối cùng là cùng một hành động đồi bại: kẻ giết người rải tinh dịch của hắn lên xác nạn nhân.

Bà thư ký lôi khăn mùi soa ra chấm chấm đôi mắt đẫm nước.

“Ngài nên nói chuyện với thám tử điều tra vụ này, thưa ngài. Đó là thám tử Matheson.”

Lần này thì cái rùng mình biến thành mồ hôi lạnh.

cái bàn thấp bằng gỗ dát. Những tờ giấy nhàu nát, chữ được đánh máy, với tiêu đề của cảnh sát Cairo, nằm chồng chất trên mấy cái ghế. Vài tấm ảnh trồi ra khỏi tờ giấy đã bị nắng nóng làm cho ấm dần lên. Ảnh đen trắng. Tấm đầu tiên bị gạch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.