Vệ Sĩ Vô Hình

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 53 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
16

❊ ❊ ❊

Bà Engrasi mở cái bọc nhỏ và trao cỗ bài cho Rosaura xáo. - Cô có muốn bọn cháu rời đi không ạ? - Amaia hỏi.

— Không, không, cứ ở lại, chỉ mất độ mươi phút thôi và ngay sau đó chúng ta sẽ ăn tối. Nhanh thôi mà.

— Ý cháu là có thể cô muốn nói điều gì đó về một tính cách cá nhân mà bọn cháu không nên nghe thấy... nhỡ cô cần nói một điều riêng tư chẳng hạn.

— Không cần đâu. Rosaura bói bài cũng như ta vậy, chẳng bao lâu nữa nó có thể bói một mình được rồi. Sự thật là thứ không cần ta giải thích, song cháu biết đấy, các cháu không nên tự bói cho mình.

Amaia nhún vai.

— Em không biết là chị biết bói bài, Ros ạ.

— Đã lâu chị không bói, giống như mọi việc trong đời chị gần đây đểu là mới, lâu rồi chị chẳng làm bất cứ việc gì...

— Ta không biết vì sao cháu lại ngạc nhiên thế, các cháu gái của ta đều có năng khiếu bói bài, kể cả Flora cũng có thể bói rất khá, nhưng cháu là người giỏi nhất..., ta thường bảo cháu là người bói bài giỏi cực kỳ.

— Thật thế ạ? - James hỏi, thích thú.

— Không, không phải thế đâu, - Amaia nói.

— Tất nhiên là đúng rồi, vợ cháu là một thụ thể tự nhiên, cũng như các chị nó vậỵ, tất cả đều hết sức mẫn cảm, chỉ cần có phương tiện biểu lộ để giải phóng khả năng ngoại cảm của mình, còn Amaia là đứạ phát triển nhất trong mấy chị em... Chỉ cần nhìn nghề nó chọn, ngoài phương pháp, các xét nghiệm và dữ liệu, khả năng trực giác, khả năng nhìn thấy những thứ được che giấu, con người còn đóng một vai trò vô cùng quan trọng.

— Cháu gọi đó là phán đoán theo kinh nghiệm, còn khoa học gọi là tội phạm học.

— Phải, và giác quan thứ sáu thành trò đùa khi cháu là một thụ thể cừ. Có ai đó ngồi trước mặt cháu và nói họ đang đau khổ, đang nói dối, họ che giấu điều gì đó, họ cảm thấy có tội, dằn vặt, đê tiện, hợm hĩnh với người khác, trong các lần ta bói đó là việc thông thường cũng như trong các cuộc thẩm vấn của cháu, điều khác biệt là họ sẵn lòng đến với ta chứ không đến với cháu.

— Điều đó rất ý nghĩa, - James bình luận. - Rốt cuộc, có lẽ em trở thành thanh tra vì em là một thụ thể bẩm sinh như cô của em nói.

— Đấy chỉ là cô nói thôi, - bà Engrasi tuyên bố.

Ros trao cỗ bài đã xáo cho bà Engrasi, bà bắt đầu rút những quân ở phần trên, xếp chúng thành vòng tròn, tạo thành mười hai quân cổ điển trải ra như cõi thế, trong đó quân bài ở vị trí số mười hai tượng trưng cho người muốn bói... Bà Engrasi không nói một lời, nhưng cái nhìn chăm chú của bà xoáy vào Ros, chị đang mải mê ngắm các quân bài.

— Chúng ta sẽ xem quân này sau, - chị nói và chạm vào một quân bài.

Bà Engrasi đang đợi và mỉm cười hài lòng.

— Tất nhiên rồi, - bà nói, thu các quân lại và trả chúng vào cỗ bài. Bà lại đưa chúng cho Ros, chị xáo thật nhanh và để lên bàn. Engrasi xếp bài thành hình chữ thập, trải sáu quân ra. Khi đã lật ngửa các quân bài, bà cười gượng, vừa xác nhận vừa buồn chán, bà chi ngón tay vào một quân:

— Nó đây.

— Khốn kiếp, - Ros lẩm bẩm.

— Khốn kiếp thật, một kẻ tầm thường, trông rõ hơn cả nước.

James quan sát họ, vừa thích thú vừa căng thẳng giống một cậu bé trong ngôi nhà ma ở hội chợ du lịch. Trong lúc họ xếp bài, anh nghiêng người sang Amaia và khẽ hỏi:

— Tại sao em không nên tự bói?

— Thế là hợp lý vì ta không khách quan khi đang cố hiểu về bản năng phán đoán sáng suốt của mình. Người ta cũng nói rằng như thế sẽ không may mắn và thu hút tai ương.

— Cũng giống như trong cuộc điều tra của cảnh sát, một thám tử sẽ không bao giờ điều tra một vụ họ liên quan trực tiếp.

Amaia không trả lời, chẳng bõ tranh cãi với James, chị biết bà cô của chị sử dụng các quân bài để mê hoặc anh. Anh thừa nhận nó ngay từ lúc đầu, xếp nó vào loại "kỳ lạ”, một loại đặc tính của gia đình, dường như nếu không bói bài, bà sẽ là một ca sĩ nổi tiếng của dòng nhạc dân gian hay một nữ nghệ sĩ già về hưu. Nhìn họ im lặng chia bài, Amaia cảm thấy mình là người đã rời bỏ một thứ quan trọng mà họ cùng chia sẻ, trong giây lát chị thấy mình bị loại trừ, dường như họ đã làm chị phải ra khỏi phòng. Những cách thức truyền đạt sự hiểu biết, những kiến thức của riêng họ đểu là thứ cấm ky với chị. Nhưng không phải lúc nào cũng thế.

— Thế là xong, - Rosaura nói.

Engrasi thu các quân bài, cẩn thận gói lại, rồi để nó vào chỗ cũ, đằng sau cửa kính.

— Bây giờ chúng ta đi ăn, - bà tuyên bố.

— Cháu đang đói gần chết đây, - James vui vẻ nói.

— Anh lúc nào chẳng đói, - Amaia cười. - Chúa mới biết anh tống tuốt những thứ ấy vào đâu.

James tíu tít dọn bàn, và lúc Amaia bưng đĩa đi ngang qua, anh ngả vào chị nói khẽ:

— Lát nữa, lúc chỉ có chúng mình, anh sẽ nói cho em biết chính xác chỗ anh để mọi thứ anh ăn.

— Xuỵt, - chị đặt ngón tay lên môi đe anh và liếc về phía bếp.

Engrasi mang chai vang vào và họ vào bàn.

— Món thịt quay này ngon tuyệt, cô Engrasi, - Rosaura tấm tắc.

— Cháu gần như phải tống Jonan ra khỏi cửa, anh ta mang báo cáo đến cho cháu và không thể rời mắt khỏi đồ ăn trong lúc nói chuyện... Thậm chí Jonan còn bình luận rằng dân chúng không còn ăn như thế này nữa, - Amaia nói thêm và rót một cốc vang.

— Thật tội nghiệp, - bà Engrasi thắc mắc. - Sao cháu không mời cậu ta ở lại? Chúng ta có thừa mà, vả lại cô ưa diện mạo của anh chàng ấy. Cậu ta là nhà sử học phải không?

— Là nhà khảo cổ và nhân loại học, - James xen vào.

— Và là một sĩ quan cảnh sát, - Rosaura bổ sung.

— Phải, và là một người rất giỏi. Jonan vẫn còn thiếu kinh nghiệm và quan điểm của cậu ta thường mang màu sắc nghiên cứu cá nhân, nhưng làm việc với cậu ta rất thú vị. Ngoài ra, tư cách đạo đức của Jonan không chê vào đâu được.

— Hoàn toàn không giống với Fermín Montes, - bà Engrasi buột miệng.

— Fermín... - Amaia thở một hơi thật dài, như trút hết không khí trong phổi ra.

— Cậu ấy gây khó dễ cho cháu à?

— Hình như lúc nào anh ta cũng gây trở ngại... Gần đây mọi người đều hành động lạ lùng, như thể bão mặt trời làm lương tri của họ đoản mạch vậy, hoặc đại loại thế. cháu không biết có phải vi mùa đông quá dài hoặc lần này... Mọi thứ rất...

— Phức tạp chứ gì? - Bà Engrasi lo lắng nhìn chị.

— Vâng, mọi việc xảy ra quá nhanh, mới hơn hai ngày đã có hai vụ giết người... Mọi người đều biết cháu không thể tiết lộ thông tin, nhưng kết quả phân tích rất khó hiểu; thậm chí còn có giả thuyết có một con gấu trong thung lũng nữa kia.

— Đúng, báo chí đều viết thế, - Rosaura đồng tình.

— Cháu có gặp một số chuyên gia đi kiểm tra, nhưng các nhân viên kiểm lâm không nghĩ là một con gấu.

— Cô cũng không tin, - bà Engrasi nói. - Nhiều thế kỷ nay thung lũng này làm gì có gấu.

— Hừm, nhưng họ nghĩ có một thứ gì đó..., một thứ rất to lớn.

— Một con vật ư? - Ros hỏi.

— Một basajaun. Thậm chí một nhân viên kiểm lâm còn kể vài năm trước, anh ta đã gặp một basajaun. Chị nói gì về việc đó?

Rosaura cười.

— Ờ, nhiều người tuyên bố là đã trông thấy.

— Vâng, trở lại thế kỷ mười tám kia, còn vào năm 2012 thì...? -Amaia ngờ vực.

— Một basajaun... Là cái gì nhỉ? Một loại thần linh trong rừng ư? - James hỏi, sự thích thú của anh tăng lên.

— Không, không, basajaun là một sinh vật có thực thuộc họ Người, cao khoảng hai mét rưỡi, vai rộng, tóc dài, toàn thân lông lá rậm rì. Nó sống trong rừng và có một số hành động như người bảo vệ rừng. Theo các truyền thuyết, sinh vật này bảo đảm giữ nguyên vẹn sự hài hòa của rừng. Mặc dù ít khi nhìn thấy chúng, song chúng thân thiện với loài người. Ban đêm, basajauncanh chừng cho lũ cừu từ xa trong lúc chủ nhân của chúng ngủ say, nếu chó sói đến gần, basajaun sẽ đánh thức người chăn cừu bằng những tiếng huýt to, lanh lảnh, có ý nghĩa cụ thể và cách xa vài cây số vẫn nghe thấy rõ. Từ trên các ngọn núi cao nhất, họ cũng thường cho những người chăn cừu biết một cơn bão sắp đến, để họ có thời gian lùa đàn cừu vào trong các hang động gần đó. Những người chăn cừu thường để lại bánh mì, pho mát, hạt dẻ hoặc sữa trên một tảng đá hoặc ở lối vào hang để tạ ơn họ, vìbasajaun không ăn thịt, — Ros giảng giải.

— Thú vị thật đấy, - James nói, - chị kể nữa đi.

— Còn có một loại thần như các vị thần trong Nghìn lẻ một đêm, đầy quyền lực, thất thường và khủng khiếp, là một phụ nữ tên là Mari. Bà sống trong các hang động và trên vách đá, thường ở các đỉnh núi. Mari xuất hiện sớm hơn đạo Thiên Chúa, bà tượng trưng cho Mẹ Thiên nhiên và sức mạnh của trái đất. Đó cũng là vị thần trông nom mùa màng và gia súc làm các việc nặng nhọc, ban phát sự màu mỡ không chỉ cho đất đai, súc vật mà cho cả các gia đình. Bà có thể xuất hiện dưới bất kỳ hình dạng tự nhiên nào, một tảng đá, một nhành non, một cái cây. Truyền thuyết thường nhắc đến hình dạng ưa thích của bà là một phụ nữ đẹp, ăn vận lộng lẫy như một nữ hoàng. Đó là cách bà xuất hiện và ta không bao giờ biết là bà, cho đến khi bà đi mất.

James mỉm cười vui thích, và Ros nói tiếp:

— Mari có nhiều nhà, bà bay từ Aia đến Amboto, từ Txindoki tới đây. Bà sống ở những nơi như núi đá lởm chởm, vách đá cheo leo hoặc các hang động từ bên ngoài, nhưng bên trong, ở cuối một con đường bí mật là những phòng lớn, lộng lẫy và huy hoàng, đáy những báu vật. Nếu muốn cầu xin bà một ân huệ, bạn phải đến lối vào và để lễ vật lại đó. Nếu muốn có con, hãy đến nơi có một tảng đá hình dáng giống một người đàn bà mà Mari thỉnh thoảng trú ngụ để trông nom con đường. Bạn hãy đến đó, để lên tảng đá một hòn sỏi mang theo từ cửa nhà mình. Sau khi để lễ vật lại, bạn phải bỏ đi ngay không được quay lại, đi giật lùi cho đến khi không nhìn thấy tảng đá hoặc lối vào hang nữa. Một câu chuyện thú vị.

— Đúng thế, - James mơ màng nói.

— Đấy là thần thoại, - Amaia xen vào, ngờ vực.

— Đừng quên rằng thần thoại dựa vào các niềm tin đã kéo dài nhiều thế kỷ, em ạ.

— Chỉ dành cho những người thôn, dễ bị lừa thôi.

— Amaia, chị không thể tin em lại nói những lời như thế. Thần thoại Basque-Navarre được ghi chép trong các tài liệu và tiểu luận đáng tin cậy do những người như linh mục Barandiarán là một nhà nhân loại học lành nghề, chắc chắn không phải là người thôn, dễ bị lừa. Ngày nay, một số phong tục cổ đó vẫn được thực hiện. Có một nhà thờ ở Ujué, miền Nam Navarre, nơi phụ nữ muốn được làm mẹ phải thực hiện một cuộc hành hương, mang theo một hòn đá cuội từ nhà rồi để lại thành đống cuội to tướng và cầu nguyện trước pho tượng Đức Mẹ đồng trinh. Nhiều tư liệu cho thấy nhiều phụ nữ đã hành hương tới nơi đó, trước nơi ẩn dật hẻo lánh và khi về, họ thường ném các hòn cuội của mình vào một hang động tự nhiên, một loại giếng hoặc hầm mỏ. Hiệu quả của nghi thức này rất nổi tiếng. Người ta kể với tôi rằng dù là dần Công giáo, Thiên Chúa giáo vì sao lại mang một hòn đá cuội từ nhà mình và cầu xin Đức Mẹ ban cho một dứa con? Có lẽ để chấm dứt các phong tục đã ăn sâu trong cộng đồng, Giáo hội Công giáo đã quyết định tốt hơn hết là để một nơi ẩn dật ở đó cho dàn ngoại giáo hành lễ Công giáo, giống như người ta vẫn làm trong những ngày Hạ chí, Đồng chí và Giáng sinh.

— Thực ra Barandiarán sưu tầm những câu chuyện đó vì chúng được lan truyền rộng rãi, chứ không phải là đúng, - Amaia phản đối.

— Nhưng Amaia, cái gì mới thực sự có ý nghĩa? Sự thật là thứ đúng đắn hay là thứ được nhiều người tin?

— Chúng là những câu chuyện dân gian, đã được trù định là biến mất. Phải thừa nhận rằng chúng rất hấp dẫn, song chị có thực lòng nghĩ rằng ai cũng tin vào những chuyện đó, những chuyện về các tín ngưỡng trong thời đại điện thoại di động và internet này không?

Bà Engrasi ho khẽ.

— Cháu không có ý xúc phạm cô, cô Engrasi, - Amaia nói như muốn xin tha thứ.

— Niềm tin hiếm khi phát triển tự nhiên trong thời đại công nghệ này, - bà Engrasi đáp. - Hãy nói với ta rằng cái đúng là bất cứ việc gì có thể ngăn chặn tên ác quỷ sát hại các cô bé rồi quăng xác họ ra bờ sông. Hãy tin ta đi, Amaia, thế giới không thay đổi nhiều lắm, vẫn còn một nơi có thể là tăm tối, nơi các linh hồn độc ác bao vây trái tim chúng ta, nơi biển cả vẫn nuốt chửng toàn bộ các tàu bè mà không người nào có thể tìm ra dấu vết, và vẫn có nhiều phụ nữ cầu nguyện để được mang thai. Khi có bóng tối sẽ có hy vọng, những niềm tin này sẽ tiếp tục có giá trị và tạo thành một phần trong cuộc đời chúng ta. Chúng ta cắm một cây thánh giá lên ổ bánh mì hoặc treo một eguxkilore[1] bên trên ngưỡng cửa để bảo vệ ngôi nhà khỏi ma quỷ, một số người treo móng ngựa, nông dân Đức sơn chuồng ngựa màu đỏ và vẽ những ngôi sao lên đó. Chúng ta cầu xin Thánh Anthony trông nom gia súc, và xin Thánh Blaise phù hộ cho chúng ta khỏi cảm lạnh... Hiện giờ những việc đó xem ra có vẻ ngớ ngẩn, nhưng hồi đầu thế kỷ, bệnh cúm lan khắp một phần mười châu Âu, xuất phát từ đây. Mùa đông năm ngoái, đối phó với cảnh báo bệnh cúm A bùng nổ, chính phủ đã phải chi nhiều triệu để tiêm phòng vắc xin mà không kết quả. Chúng ta cầu xin được bảo vệ và giúp đỡ trong khi hầu như phó mặc cho những sức mạnh tự nhiên và cho đến cách đây không lâu, hình như không thể sống thiếu nó, dù sức mạnh ấy từ Mari hoặc các thánh và Đức Mẹ đồng trinh của đạo Thiên Chúa. Nhưng vào những thời khắc đen tối bao trùm chúng ta, các phương pháp cổ xưa vẫn có tác dụng. Giống như khi mất điện, cháu hâm nóng sữa trong xoong trên ngọn lửa thay lò vi sóng. Thế có bực mình không? Có phức tạp không? Có lẽ, nhưng được việc.

Amaia im lặng một lát, như để thấm nhuần những lời vừa nghe.

— Cháu hiểu những điều cô đang cố nói với cháu, cô Engrasi, tuy vậy, cháu thấy rất khó tin có người đi bộ đến một tảng đá để cầu xin thánh thần phù hộ cho có một đứa con. Cháu nghĩ bất cứ người phụ nữ nào có nửa bộ não thôi cũng sẽ tự tìm ra một bạn tình hợp ý.

— Nếu như thế không có tác dụng thì sao?

— Thì đến một chuyên gia sinh sản, - James nói và nhìn Amaia, nhấn mạnh.

— Nếu như thế vẫn không có tác dụng? - bà Engrasi hỏi.

— Cháu cho rằng lúc đó cứ hy vọng thôi... - Amaia nhượng bộ.

Bà Engrasi gật đầu và mỉm cười.

— Em muốn đến thăm nơi đó, - James nói. - Có gần đây không ạ? Chị đưa em đi được không?

— Tất nhiên rồi, - Ros đáp, - ngày mai nếu không mưa chúng ta đến đó. Cô có muốn đi không, cô Engrasi?

— Các cháu đi đi; nhưng phải tha cho cô thôi; cô không thể du ngoạn như thế được nữa. Nơi ấy gần chỗ tìm thấy Carla. Cháu cũng nên đến xeni; Amaia ạ, dù chỉ vì tò mò.

James nhìn vợ; đợi trả lời.

— Ngày mai là tang lễ của Anne Arbizu, cháu còn phải đi gặp Flora và... - Nhớ ra điều gì đó; chị rút di động ra và bấm số của Montes. Cuộc gọi chuyển đến hộp thư thoại, đề nghị để lại lời nhắn.

— Montes, gọi cho tôi nhé. Salazar đây. Amaia, - chị nói thêm, nhớ ra các chị mình cũng là Salazar.

Ros xin lỗi rồi ra cầu thang, còn James hôn bà Engrasi rồi ôm eo vợ.

— Tốt hơn hết là chúng cháu đi nằm thôi.

Bà Engrasi không nhúc nhích.

— Đợi nó trên gác nhé, James. Amaia ở lại, cô cố chuyện muốn nói với cháu. Tắt đèn đi, cô quáng cả mắt, rót vài ngụm orujo vào cà phê rồi ngồi xuống đây, đối diện với cô. Đừng ngắt lời cô. - Bà nhìn thẳng vào mắt cháu gái và bắt đầu nói. - Tuần lễ ta tròn mười sáu, ta đã trông thấy một basajaun trong rừng. Ngày nào ta cũng đi nhặt củi đến sẩm tối. Thời ấy rất khó khăn, ta phải nhặt đủ củi cho các lò nướng ở xưởng, lò sưởi ở nhà và để bán. Đôi khi phải mang vác quá nhiều, giận mình thiếu sức khỏe, ta quăng cả gánh củi xuống ven đường rồi nằm dài trên đất mà khóc vì mệt lả. Hôm ấy, sau khi khóc xong, ta nằm im giữa đám cây, tự hỏi làm cách nào để mang hết chỗ củi về thị trấn. Bỗng ta nghe thấy nó. Ban đầu ta tưởng là một con hươu, nó rất rón rén không như lợn lòi lúc nào cũng huyên náo, ầm ĩ. Ngẩng đầu lên, ta nhìn thấy nó và ngỡ là một người đàn ông cao nhất ta từng thấy. Nó trần truồng, mình đầy lông lá, tóc rất dài phủ kín lưng. Nó dùng một cái gậy nhỏ đập vụn vỏ cây, rồi khéo léo vun các mảnh nhỏ ấy vào miệng, ăn ngon lành. Bất chợt, nó quay người và hít hít không khí như loài thỏ. Ta tin chắc là nó biết ta ở gần đó. Sau này, khi đã binh tĩnh nghĩ lại, ta kết luận rằng nó biết rất rõ mùi của ta, là thứ tạo nên một thành phần của rừng, vì phần lớn đời ta ở đó. Sáng sáng, sương vừa tan ta đã trèo lên núi và làm việc cho đến giữa trưa. Ta chỉ nghỉ một lát cùng các chị, ăn bữa trưa nóng hồi mẹ ta mang tới, sau dó chị lớn nhất của ta chất số củi kiếm được lên lưng con lừa nhỏ, còn chúng ta tiếp tục làm việc thêm một vài giờ nữa hoặc cho đến khi bóng tối bắt đầu buông. Mùi của ta ắt phải thành một phần trong rừng như một con thú nhỏ, chúng ta còn có một chỗ khá ổn định để đi vệ sinh, tránh vương vãi phân khắp rừng trong lúc kiếm củi. Vì thế basajaun ngửi ngửi không khí, nhận ra ta và tiếp tục việc mình như thể chẳng có gì hết, mặc dù vài lần nó xoay tròn, vẻ mặt lo lắng như muốn tìm ra người đang đứng đằng sau. Nó ở thêm vài phút nữa rồi từ từ bỏ đi, thinh thoảng dừng lại cạo vỏ cây và địa y. Ta đứng dậy và xốc những bó củi lên lưng bằng một sức mạnh không biết từ đâu, dù biết chắc không phải vi hoảng sợ. Ta sửng sốt nhưng giống người chứng kiến một điều kỳ diệu và không thể tin nổi, hơn là một cô bé trông thấy ông ba bị trong rừng. Ta chỉ biết khi về đến nhà, mặt ta tái mét, tóc bết vào đầu vì mồ hôi lạnh và ẩm, khiến bà nội cháu hoảng hốt đặt ta vào giường và cho ta uống trà pasmo belarra cho đến lúc cổ họng ta khô như lòng bàn chân của một esparto.[2] Ta không nói gì vì biết chắc thứ mình trông thấy quá khác biệt. Đó là một basajaun: giống mọi dứa trẻ trong thung lũng Baztán, ta đã nghe nhiều chuyện về basajaun và những sinh vật khác, một số trong đó có phép thuật, đã sống trong rừng từ rất lâu trước khi người ta xây dựng Elixondo cạnh nhà thờ gấp hàng trăm lần. Chủ nhật tiếp đó, trong lúc xưng tội, ta thuật lại với cha xứ - tên là Don Serahn, một giáo sĩ dòng Tên[3] cực kỳ nghiêm khắc, và có ảnh hưởng lớn. Ta cam doan với cháu, cha xứ chẳng có chút gì giống thiên thần: ông bảo ta là đồ nói dối, là kẻ lừa đảo, là đồ ngu, và như thế còn chưa đủ, ông còn xông ra khỏi phòng xưng tội và đấm ta một quả làm ta chảy nước mắt. Sau đó, ông đọc cho ta một bài thuyết giảng dài dòng về những mối nguy hại do các câu chuyện bịa đặt, cấm ta không được nhắc đến chuyện này, kể cả với gia đình, và bắt ta sám hối, đọc kinh Kính mừng Đức Mẹ Maria đầy ơn phúc, kinh Credos và Xưng tội mất nhiều tuần lễ mới xong, vì thế ta không bao giờ dám kể với ai về chuyện đó lần nữa. Bất cứ khi nào vào rừng nhặt củi, ta gây ra nhiều tiếng động đến mức làm các sinh vật trong vòng bán kính hai cây số hoảng sợ, ta hát Te Deum bằng tiếng Latinh to đến nỗi gần như hét và ta luôn khản cổ khi về đến nhà. Ta không bao giờ thấy lại basajaun, mặc dù nhiều lần ta tưởng như nhìn thấy nó, lẽ tất nhiên có thể là do một con hươu hoặc gấu ở quanh đây để lại, nhưng ta luôn biết tiếng hát của mình là một tín hiệu, chỉ nghe thấy là nó bỏ đi vì biết ta có mặt, rằng nó chấp nhận và tránh ta cũng như ta tránh nó vậy.

Amaia nhìn mặt bà Engrasi. Khi nói xong, bà nhìn cháu gái bằng đôi mắt một thời xanh biếc, mãnh liệt hệt như mắt Amaia, giờ đây phai màu như ngọc bích nhạt, dù đằng sau vẫn sáng rực một trí tuệ tỉnh táo, sáng suốt và sắc sảo.

— Cô Engrasi, - chị bắt đầu, - không phải cháu không tin vào chuyện chính cô đã trải qua và nhớ lại, nhưng cô luôn luôn có trí tưởng tượng phong phú. Đừng bảo cháu bậy bạ, cô biết là cháu không hề nghĩ chuyện ấy có gì sai... nhưng cô hiểu cho, cháu đang điều tra về các vụ giết người và cháu phải nhìn nhận sự việc như một người điều tra...

— Cháu có óc phán đoán xuất sắc, - bà Engrasi nhận xét.

— Cô có cân nhắc khả năng thứ cô trông thấy không phải một basajaun mà là thứ khác không ạ? - Amaia nói tiếp. - Cô phải nhớ rằng các cô gái ở thế hệ cô không bị ảnh hưởng của truyền hình, của internet như hiện nay, và ở quanh đây, trong các vùng thôn đã nói chung, có hàng đống các huyền thoại như thế. Cô thử nhìn nhận sự việc theo quan điểm của cháu xem. Một cô bé chưa đến tuổi dậy thì, một mình trong rừng suốt ngày, mệt lử và mất nước nửa vời vi công việc khó nhọc, khóc cho đến khi kiệt sức, có khi còn ngủ thiếp đi. Dường như cô là ứng viên lý tưởng để Đức Mẹ đồng trinh thời Trung cổ xuất hiện hoặc cho cuộc bắt cóc của sinh vật ngoài hành tinh trong những năm bảy mươi.

— Ta không nằm mơ. Lúc đó ta tỉnh táo y như bây giờ, và ta trông thấy nó rõ ràng như nhìn cháu vậy. Nhưng đừng lo, ta vẫn chờ phản ứng này khi quyết định kể chuyện ấy với cháu.

Amaia trìu mến nhìn bà và Engrasi mỉm cười đáp lại, để lộ hàm răng giả đều tăm tắp, vì một lý do thầm kín nào đó khiến điều tra viên luôn mỉm cười và cảm thấy yêu thương bà mãnh liệt. Vẫn mỉm cười, bà cô giơ ngón tay trắng trẻo và xương xẩu đeo đầy nhẫn chỉ vào chị.

— Vâng, thưa quý cô, tôi biết, chính vi tôi biết cái đầu bé nhỏ của quý cô đang bận bịu, nên tôi kiếm nhân chứng khác cho quý cô đây.

Cô cháu gái nhìn bà, hoài nghi.

— Ai vậy, một trong những bà bạn thân trong nhóm chơi bài vui vẻ của cô chắc?

— Yến nào, kẻ hoài nghi kia, và lắng nghe đây. Sáu năm trước, một chiều đông sau lễ Mixa, ta thấy Carlos Vallejo đang đợi ta trên ngưỡng cửa.

— Carlos Vallejo, thầy giáo già của cháu ư? - Dù đã nhiều năm kể từ khi gặp ông lần cuối, hình ảnh Don Carlos Vallejo vẫn tươi mới trong tâm trí Amaia, như thể chị vừa ra khỏi lớp. Bộ com lê sặc sỡ của ông cắt may rất khéo, cuốn sách toán cắp dưới cánh tay, bộ ria luôn gọn gàng, mái tóc hoa râm dày dặn chải lật ra sau, bóng mượt bri dăng tin và mùi nước hoa cạo râu nồng đượm.

— Vâng; thưa quý cô; - bà Engrasi mỉm cười khi thấy chị chú ý. -Ông ấy mặc bộ đồ đi săn ướt đẫm và đầy bùn, khẩu súng săn vẫn còn trong bao da. Ta vô cùng ngạc nhiên vì như ta đã nói, đang là mùa đông, đêm đến rất sớm, không phải thời điểm thích hợp để đi săn, quần áo ông ta ướt sũng dù mấy ngày qua trời không mưa, và hơn hết thảy là bộ mặt ông ta trắng nhợt như một tờ giấy ướt. Ta biết Carlos Vallejo rất thích đi săn, thỉnh thoảng ông ấy lái xe qua ta trên đường từ núi về vào nửa buổi sáng, nhưng chưa bao giờ mặc bộ đồ săn chạy khắp thị trấn... Thực ra, cháu biết người ta gọi ông ấy là gì rồi.

— Công tử bột, - Amaia lẩm bẩm.

— Phải, đúng thế, công tử bột... quần và giày đẫm bùn; khi ta đưa mời ông ấy chén trà cúc, ta thấy bàn tay ông ấy đầy vết cào xước, móng tay đen hơn thợ mỏ. Ta đợi cho đến khi ông ấy sẵn lòng nói chuyện, vì như thường lệ, đó là điều tốt nhất.

Amaia gật đầu.

— Carlos Vallejo im lặng một lúc lâu, nhìn trừng trừng vào đáy chén, rồi ông ấy uống một ngụm dài, nhìn vào mắt ta và kể bằng phong thái tao nhã và lịch thiệp mà ông luôn hãnh diện: “Engrasi, tôi mong bà thứ lỗi cho tôi vì xuất hiện ở nhà bà trong bộ dạng như thế này”. Ta biết ông ấy muốn nói là “phòng khám của bà”. Ta từ tốn gật đầu và đợi ông ấy nói tiếp. “Tôi tin rằng bà sẽ ngạc nhiên vì tôi đến gặp bà, nhưng tôi không biết đến đâu nữa, và tôi nghĩ bà có thể, có lẽ...”. Ta động viên ông ấy bình tĩnh, cho đến lúc ông ấy nói tiếp: “Sáng nay, tôi đã trông thấy một basajaun trong rừng”.

❀ ❀ ❀

[1] Hoa kế khô, treo ở lối vào nhà để xua đuổi ma quỷ. Nghĩa đen của Elizondo là “bên cạnh nhà thờ”.

[2] Xăng đan có lòng dệt bằng cỏ giấy khô.

[3] Một dòng tu của đạo Thiên Chúa do Ignatius of Loyola sáng lập năm 1534.

ngày Hạ chí, Đồng chí và Giáng sinh. — Thực ra Barandiarán sưu tầm những câu chuyện đó vì chúng được lan truyền rộng rãi, chứ không phải là đúng, - Amaia phản đối. — Nhưng Amaia, cái gì mới thực sự có ý nghĩa? Sự thật là thứ đúng đắn hay l
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.