Victor vẫn cạo râu theo cách truyền thống, bằng bánh xà phòng La Toja, chổi quét và lưỡi dao cạo. Trong suy nghĩ, anh phải dùng loại dao cạo dài gắn chuôi giống cha và ông nội, nhưng anh thấy nó không phù hợp với mình. Dù sao anh cũng cạo nhẵn nhụi bằng dao cạo và Flora ưa thích mùi kem trên da anh. Anh ngắm mình trong gương và mỉm cười với con người khá buồn cười đang nhìn lại, mặt đầy bọt xà phòng. Flora. Nếu chị thích anh như thế này, anh sẽ để nguyên thế. Cuộc đời anh đã thay đổi lúc anh tự thừa nhận là không muốn bỏ chị, rằng Flora với cá tính mạnh mẽ và khao khát chỉ đạo mọi thứ, là người phụ nữ đúng tiêu chuẩn của anh, có nhiều thứ khiến anh căm ghét chị, sự thống trị triệt để của chị, bản chất độc đoán của chị, và cách chị sai anh làm mọi việc, lúc này anh biết chúng đã tạo nên giá trị của chị.
Anh đã mất những năm tháng tốt đẹp nhất trong đời, hoang mang dưới thứ mà giờ đây anh thừa nhận là ảnh hưởng xấu xa của rượu, cách duy nhất thoát khỏi nó là nhấn hồi chuông báo động chống lại sự áp chế không ngừng của Flora. Anh đã không thể nhận thức được rằng Flora là người phụ nữ duy nhất có thể yêu anh, là người phụ nữ duy nhất anh có thể yêu, và là người duy nhất anh muốn làm vui lòng. Khi nghĩ thế, anh nhận ra mình lại bắt đầu uống rượu như trả thù chị, vừa chạy trốn vừa nhượng bộ Flora, vì rượu cho phép anh thích ứng với kỷ luật sắt của Flora bằng cách làm cùn ý thức của chính mình, biến anh thành người chồng để chị sai khiến.
Cho đến khi mất quyền điều khiển mọi thứ, nó giúp cho cuộc sống dưới ách chuyên chế của Flora có thể chịu được. Trớ trêu thay, chính thứ đã giúp duy trì cho cuộc hôn nhân của họ trong nhiều năm lại là cái cớ Flora viện ra đòi bỏ Victor. Trong năm đầu tiên sau khi ly thân, Victor đã chiến đấu dữ dội với tật nghiện rượu, một trận chiến mà anh đạt mức thấp nhất trong vài tháng đầu tiên, trong tình trạng anh chỉ nhớ lơ mơ vì những hồi ức mờ ảo, chập chờn như một bộ phim đen trắng cũ, mờ dần vi chất nitrate tráng phim. Một buổi sớm, sau vài ngày giam mình trong nhà, không uống giọt rượu nào và tự thương thân, Victor tỉnh dậy trên sàn, ngập nửa người trong những bãi nôn, cảm giác trống rỗng và lạnh giá chưa từng thấy.
Chỉ đến lúc nhận ra mình sắp mất thứ quan trọng duy nhất trên đời, anh mới bắt đầu thay đổi.
Flora không muốn ly hôn, mặc dù họ đã ly thân, xa cách như người dưng. Flora quyết định và áp dụng những quy định mới cho quan hệ của họ mà không buồn hỏi ý kiến Victor. Công bằng mà nói, ở giai đoạn đó, anh nhận ra mình không thể có quyết định gì mà không dính dáng đến việc uống rượu, nhưng chưa bao giờ, ngay cả trong vực thẳm tệ hại nhất do rượu chè xui khiến, anh muốn tách rời khỏi Flora.
Hiện giờ, chuyện giữa họ đang thay đổi, những nỗ lực của anh, số ngày cấm rượu, diện mạo gọn gàng của anh và nhiều việc nho nhỏ anh lấy lòng chị, rốt cuộc hình như đã có kết quả. Trong nhiều tháng, ngày nào anh cũng đến xưởng thăm Flora và mỗi ngày anh lại mời chị đi ăn một bữa, đi dạo, cùng đi lễ mi xa, đi cùng anh trong những chuyến công việc. Chị từ chối cho đến tuần này, chị có vẻ mềm lòng và đồng ý để anh đi cùng sau khi nhận bó hoa hổng nhân kỷ niệm ngày cưới của họ.
Anh sẽ tặng bất cứ thứ gì, sẽ làm bất cứ việc gì có thể, đáp ứng mọi điều kiện cần thiết để được trở lại bên chị lần nữa. Bỏ rượu là quyết định quan trọng nhất cuộc đời anh, ban đầu anh tưởng mỗi ngày trôi qua không có rượu là một thực tế khổ sở khủng khiếp lơ lửng trên đầu, nhưng trong những tháng gần đây, anh khám phá ra sức mạnh lạ thường ẩn giấu trong quyết định cai rượu. Ngày nào anh cũng tự động viên mình, tìm thấy cảm giác tự do và giải pháp không thể khuất phục mà anh chỉ biết hồi còn trẻ, trong trạng thái tự chủ rèn luyện bản thân khi anh vẫn là con người mình muốn trở thành. Anh đến tủ quần áo, chọn chiếc sơ mi mà Flora rất ưa, và sau khi xem xét kỹ lưỡng, anh thấy nó hơi nhàu và cần phải là. Anh huýt sáo lúc xuống cầu thang.
Đồng hồ trên nhà thờ Santiago chỉ gần mười một giờ, nhưng ánh sáng giống lúc chạng vạng hơn là ban ngày. Hôm ấy là một trong những ngày mà bình minh kẹt từ ánh sáng đầu tiên và mặt trời không bao giờ lên đủ. Những buổi sáng ảm đạm đó là một phần trong hồi ức tuổi thơ của Amaia, chị nhớ có nhiều ngày mình mơ đến mặt trời ấm áp và trìu mến. Có lần, một trong những bạn học của Amaia đã cho chị cuốn cẩm nang to, đầy màu sắc của chi nhánh du lịch, và chị đã mất nhiều tháng trời nghiền ngẫm từng trang, dừng lại ngắm những bức ảnh chụp bờ biển ngập nắng và bầu trời xanh ngắt, xanh đến quá chừng trong lúc những cuộn sương mù từ sông dâng lên cây cối gần đó. Amaia nguyền rủa nơi đó, nơi mặt trời thỉnh thoảng lại quên mọc vài ngày, dường như một kẻ lập kế hoạch phạm tội đã đến trong đêm và lấy trộm mặt trời rồi mang đến một hòn đảo Iceland; để họ bị tước mất niềm vui; giống như dân chúng ở các cực chỉ sống những đêm dài; không ánh mặt trời.
Đêm ở thung lũng Baztán tối đen và hung hiểm. Các bức tường của những ngôi nhà lâu nay đều là ranh giới phân chia sự an toàn đối với mọi mối nguy hại ở bên ngoài. Không có gì lạ khi chỉ một trăm năm trước, chín mươi phần trăm dân số trong thung lũng Baztán tin vào phù thủy, ma quỷ lang thang ban đêm và dùng các loại bùa chú để hộ mệnh. Cuộc sống trong thung lũng rất khó khăn đối với tổ tiên của chị; đàn ông, đàn bà đểu can đảm, họ bướng bỉnh, quyết tâm sinh cơ lập nghiệp trên mảnh đất ẩm ướt và xanh tươi, đối mặt với mọi lý lẽ, bất chấp nó đã cho họ thấy khía cạnh bất lợi và không mến khách, bổ nhào xuống họ, phá hỏng mùa màng của họ, làm con cái họ ốm đau và triệt hạ một số gia đình không chịu lùi bước.
Những vụ lở đất, dịch bệnh, ho lao, những cơn lũ bất chợt, những trận mưa như trút, mùa màng thối hỏng, không thu được gì trên mặt đất... Nhưng những người dân Elizondo đã đứng vững cạnh nhà thờ của họ, phản công bằng cách bẻ cong dòng chảy của sông Baztán, con sông đã cho họ mọi thứ và cũng lấy đi mọi thứ khi nó muốn, như đe dọa họ rằng đây không phải là nơi cho con người, rằng mảnh đất giữa thung lũng này là thuộc về các linh hồn của núi cao, thuộc thần hộ mệnh cho các dòng suối, thuộc cáclamia vàbasajaun. Tuy nhiên, không gì bẻ gẫy được ý chí con người, họ kiên quyết ngẩng nhìn bầu trời u ám, - như chị lúc này, - mơ đến một bầu trời khác sáng sủa hơn và thân thiện hơn. Vùng đó được coi là mảnh đất của các hidalgo[1] và những du khách đến từ những miền xa lạ, hoặc từ nước ngoài trở về, mang theo tài sản đổ sộ và reo vang Maitetxu mia[2]. Họ bỏ tiền tu sửa thị trấn, cho hàng xóm láng giềng xem số vàng kiếm được và dựng lên trong thị trấn những địa điểm xa hoa, những biệt thự có ban công rộng lớn, khánh thành các tu viện để tạ ơn vận may của mình và bắc những cây cầu qua các dòng sông trước kia không thể vượt qua.
Giữ lời, bà Engrasi khước từ lời mời của họ, bà thích ở nhà nấu nướng hơn và nại cớ đau gối, nhưng Ros và James một mực thực hiện cuộc thám hiểm, mặc cho Amaia phản đối và thuyết phục họ rằng trời sẽ mưa trước buổi trưa. Họ lái xe dọc đường ven sông rồi lên cao cho đến khi vào một đồng cỏ mênh mông, tới tận khu rừng sồi mọc ở rìa sông và chân núi. Lúc lái xe qua đồng cỏ thoáng rộng, chị mới hiểu vì sao du khách từ những nơi xa xôi đến thăm Elizondo và thở dài, chìm đắm trong vẻ đẹp nổi bật của cuộc sống bình dị nơi thôn dã, ẩn giữa những quả núi thấp rải rác với các thung lũng và đồng cỏ xinh đẹp khác thường, được tô điểm bằng các cánh rừng sồi, dẻ và những thôn nhỏ. Thời tiết ẩm ướt làm cho mùa thu kéo dài, nên giữa tháng Hai mà các đồng cỏ vẫn xanh tươi, bất chấp tuyết đã rơi. Chỉ có âm thanh của dòng sông Baztán phá vỡ cảnh tĩnh mịch của miền thôn dã.
Đây là cánh rừng bí ẩn và lôi cuốn nhất. Những cây sồi khổng lồ và những cây dẻ phủ bóng các con đường dốc lên núi, hòa lẫn với các loài cây khác, tô điểm cho các con đường mòn nhiều cái bóng khác nhau, những cái bóng tương phản.
Một cánh rừng mời gọi vô số cảm giác: sự tương tác cổ xưa với thiên nhiên, âm thanh dữ dội của nước giữa các cây sồi và linh sam, vẻ tươi mát của dòng sông Baztán, những tiếng động thất thường của đã thú và lá rơi trong mùa thu, che phủ nền rừng như một tấm thảm mềm, bị gió xáo tung tùy ý, tạo thành những gò, đống giống như nơi náu mình của các nàng tiên hay như những con dường mòn mà các lamia di theo, mùi quả rừng và mùi cỏ mểm mịn phủ kín đồng cỏ, lấp lánh như viên ngọc lục bảo kỳ diệu mà mộtfentilkhổng lổ vùi trong sâu trong rừng. Họ đi giữa các cây cho đến khi tiếng sông chảy cho họ biết đường tới nơi trong truyền thuyết. Ros dẫn đường, thỉnh thoảng chị ngoái lại để biết chắc những người đồng hành không quá mệt. Chị không lo cho James, anh nói chuyện luôn miệng, mê mẩn vẻ đẹp của khu rừng mùa đông. Họ băng qua một khoảng dày đặc dương xỉ trước khi bắt đầu đi lên.
— Không xa lắm đâu, - Ros tuyên bố và chỉ một vết nứt trông rõ trên tảng đá. - Ở kia kìa.
Đường mòn hẹp hơn họ nghĩ. Những tảng đá góc cạnh tạo thành một cầu thang tự nhiên, không quy cách, họ trèo lên lúc con đường ngoặt rồi lại ngoặt lần nữa, giống con rắn trườn lên núi. Ở mỗi chỗ ngoặt, những bụi mâm xôi và bụi rậm khiến con đường càng hẹp hơn, khó đi hơn. Rẽ thêm lần nữa, họ tới một nền phẳng, cỏ lơ thơ và địa y màu vàng trải thảm.
Ros ngồi xuống một tảng đá và nhăn mặt.
— Hang ở trên cao hai mươi lăm mét, - chị nói và chỉ lên con đường mòn hầu như bị những bụi kim tước che khuất, - nhưng chị e là không thể đến đó. Chị đã bị trẹo mắt cá trên đường lên đây.
James ngồi xổm bên cạnh Ros.
— Không nghiêm trọng đâu, - chị mỉm cười, - đôi giày ống đã cứu tôi, nhưng tốt hơn hết chúng ta nên về sớm, trước khi nó sưng phổng và tôi không thể đi nổi.
— Vậy ta về thôi, - Amaia nói.
— Đừng nghĩ đến chuyện đó, em không thể đi mà không nhìn thấy tảng đá sau khi đến tận nơi này; em cứ đi tiếp đi.
— Không, chúng ta đi về: mắt cá của chị sẽ bắt đầu sưng vù và chị không thể đi được, chị đã nói thế mà.
— Chỉ đến khi em trở lại, Amaia. Chị không rời khỏi chỗ này trừ khi em đi và nhìn thấy nó.
— Anh sẽ ở lại với chị ấy và đợi em ở đây, - James khích lệ Amaia.
Amaia lên đường giữa các bụi kim tước, nguyền rủa gai góc tạo ra tiếng động như móng tay cào lên vải khi chúng lướt qua áo khoác của chị. Con đường mòn đột ngột dừng lại trước một cái hang, miệng hang thấp nhưng rất rộng, trông giống một nụ cười nham hiểm trên bộ mặt là núi. Có hai tảng đá to ở bên phải lối vào cũng rất lạ lùng. Tảng thứ nhất đứng ở một đầu nhìn xuống thung lũng, tương tự thân hình một phụ nữ, bộ ngực lớn và cặp đùi phô phang. Tảng thứ hai rất ấn tượng cả về kích thước và hình dáng, một hình chữ nhật hoàn hảo giống một ban thờ dành cho các vật hiến tế, bề mặt rộng, sạch bóng vì mưa gió. Trên mặt bày mười hai hòn đá nhỏ màu sắc khác nhau và sắp xếp như các quân trên một bàn cờ không đầy đủ. Một phụ nữ trạc ba mươi tuổi cầm một hòn đá và ngắm nhìn thung lũng, thán phục quang cảnh. Chị mỉm cười lúc thấy Amaia đi tới và chào thân thiện lúc đặt hòn đá cạnh các hòn khác.
— Xin chào.
Amaia bỗng cảm thấy mình như kẻ đột nhập vào một chốn riêng tư.
— Xin chào.
Người phụ nữ lại mỉm cười, dường như đọc được ý nghĩ của chị và thấy chị không thoải mái.
— Nhặt một hòn đá đi, - chị ta nói và chỉ con đường mòn.
— Gì kia?
— Một hòn đá, - người phụ nữ khăng khăng và chỉ vào các hòn khác trên bàn. - Phụ nữ nên mang một hòn đá đi cùng.
— À vâng, chị tôi cũng bảo thế, nhưng tôi nghĩ họ tin là phải mang một hòn đá từ nhà mình.
— Đúng thế, nhưng nếu chị quên, có thể nhặt một hòn trên đường. Theo người ta nói và làm thì đây là hòn đá trên con đường tới nhà bạn.
Amaia cúi xuống và nhặt một hòn cuội trên đường, chị tới cái bàn và đặt cạnh các hòn khác, chị ngạc nhiên vì ở đó có nhiều đến vậy.
— Chà, tất cả các hòn đá này đều do những người phụ nữ leo lên đây mang tới sao?
— Trông có vẻ thế, - người phụ nữ xinh đẹp đáp.
— Không thể tin nổi.
— Chúng ta đang sống qua những thời buổi bất ổn trong thung lũng, và khi các giải pháp mới thất bại, dân chúng bèn trở về với những giải pháp cũ.
Amaia há hốc miệng vì nghe thấy người phụ nữ này nhắc lại đúng những lời cô Engrasi nói từ mấy đêm trước.
Maya nhìn Amaia và tặng chị một nụ cười kỳ lạ, gần như cám dỗ.
— Tôi nghĩ chị là người ở đây.
— Điều ấy rõ đến thế sao?
Người phụ nữ nhìn thung lũng lần nữa.
— Chị ở gần đây ư? - Amaia hỏi và săm soi diện mạo của người phụ nữ. Chị ta quàng chiếc khăn màu xanh rêu trùm lên bộ váy áo lụa mang nhiều sắc xanh và nâu, trùm lên cả mái tóc vàng rực, dài như tóc Amaia, hất ra sau nhờ chiếc vương miện bằng vàng.
— Ồ, không hẳn thế, nhưng tôi đến đây nhiều năm rồi vì tôi có nhà ở đây. Tuy vậy, tôi không bao giờ ở lâu, tôi hay đi đây đi đó.
— Tôi tên là Amaia, - chị nói và chìa tay ra.
— Tôi là Maya, - người phụ nữ nói và nắm bàn tay chị trong bàn tay mềm, mịn của mình, đeo đầy nhẫn, vòng tay kêu leng keng như chuông ngân. - Nhưng chị là người ở đây phải không?
— Tôi sống ở Pamplona, tôi đến đây vì công việc, - Amaia trả lời, thoái thác.
— Đây là một trong những nơi ưa thích của tôi, một trong những nơi tôi hay đến thăm nhất, nhưng gần đây có nhiều việc không tốt đẹp diễn ra ở đây.
— Chị định nói đến những vụ giết người ư?
Người phụ nữ vẫn không trả lời thẳng, chị ta không còn mỉm cười nữa.
— Tôi hay đi qua vùng này và đã thấy nhiều sự việc lạ lùng.
Sự chú ý của Amaia bỗng tăng lên đáng kể.
— Những sự việc loại gì vậy?
— Hôm qua, lúc ở đây, tôi trông thấy một người đàn ông đi vào một trong nhũng cái hang nhỏ xuôi về phía bờ sông và lát sau lại ra khỏi hang, - Maya chỉ vào bụi cây thấp dày đặc.
— Thái độ của người đó khiến chị nghi ngờ ư?
— Ông ta có vẻ thỏa mãn.
Một từ kỳ lạ, Amaia nghĩ.
— Trông ông ta như thế nào?
— Ở tận trên này nên tôi không thể xác định rõ.
— Nhưng chị thấy ông ta có trẻ không? Chị có nhìn thấy mặt không?
— Ông ta di chuyển như một thanh niên nhưng mặc áo khoác có mũ trùm kín đầu. Khi đi ra, ông ta ngoảnh lại, nhưng tôi chỉ có thể trông thấy một con mắt.
Amaia bối rối nhìn chị.
— Chị đã thấy một phần mặt ông ta?
Maya vẫn im lặng và lại mỉm cười.
— Sau đó, ông ta xuống đường mòn, vào ô tô rồi đi.
— Từ đây, chị không thể trông thấy chiếc xe.
— Không, nhưng tôi nghe rõ tiếng nổ máy và tiếng xe chạy.
Amaia nhìn xuống con đường.
— Từ đây có thể tới cái hang đó không?
— Ồ không, nói thật là nó bị che kín hoàn toàn. Chị phải từ đường trèo lên đó, trước hết xuyên qua các cây cối, rồi lên tận đó, -Maya nói và chỉ tay, - sau đó chị phải đi qua bụi cây thấp, vì con đường mòn cũ bị che khuất... Cái hang ở cách đó khoảng bốn trăm mét, đằng sau mấy tảng đá.
— Hình như chị biết vùng này rất tường tận.
— Tất nhiên rồi, tôi đã nói là tôi đến đây nhiều lần.
— Để dâng lễ vật ư?
— Không, - Maya nói và lại mỉm cười.
Những luồng gió mạnh thổi tung tóc người phụ nữ, để lộ đôi hoa tai dài trông như làm bằng vàng. Amaia nghĩ đây là một lựa chọn bất thường khi leo núi, và càng lạ hơn khi phát hiện ra bàn chân người đàn bà thò ra dưới tà váy lụa, lồng trong đôi xăng đan kiểu dáng La Mã. Hình như Maya đang mải mê ngắm nghía những hòn sỏi trên tảng đá, như thể chúng là những viên đá quý, vẻ mặt chị ta vẫn rất khó hiểu.
Amaia bỗng cảm thấy lo lắng, dường như bất chợt nhận ra thời gian của mình sắp hết và không nên ở đó hơn nữa.
— Tôi sắp phải xuống rồi... chị có đi cùng không?
— Không, - người phụ nữ đáp và không nhìn Amaia, - tôi sẽ ở lại thêm lát nữa.
Amaia quay xuống con đường mòn và đi vài bước mới ngoảnh lại chào tạm biệt. Nhưng chị ta đã không còn ở đấy nữa. Amaia dừng lại, nhìn nơi Maya vừa đứng.
— Chào nhé? - Chị gọi.
Người phụ nữ không thể đi theo bất cứ hướng nào; chị ta không thể đi tới miệng hang hay đi qua Amaia mà chị không nhìn thấy, thậm chí không còn nghe thấy tiếng những chiếc vòng tay leng keng.
— Maya? - Chị gọi lần nữa. Chị tiến một bước tới cái hang, nhưng dừng ngay lại vì những luồng gió trở nên mạnh hơn, và một nỗi sợ mơ hồ khuấy động trong chị. Chị quay trở lại đường mòn và gần như chạy xuống chỗ Ros và James đang đợi.
— Chao ôi, trông em nhợt nhạt quá... Em nhìn thấy ma à? -Ros đùa.
— Đi với em, James, - chị yêu cầu, phớt lờ câu trêu chọc của Ros.
Anh đứng dậy, lo lắng.
— Chuyện gì thế?
— Có một người phụ nữ nhưng đã biến mất.
Chị lao vào các bụi cây trên đường, không giải thích thêm hoặc trả lời những câu hỏi của James, sục sạo trong các lùm cây thấp và nghĩ Maya không thể xuống đến đây.
Lúc họ tới chỗ ban nãy, Amaia đến tảng đá đồ sộ xem chị ta có lao qua rìa không. Dưới chân chị có một con đường dốc, kim tước mọc tràn lan, dày đặc và phủ kín những tảng đá sắc cạnh. Rõ ràng chị ta không thể ngã ở đây. Amaia lên tới lối vào hang và cúi nhìn vào bên trong. Nó tỏa mùi đất rất đậm và mùi gì đó khiến chị nghĩ đến kim loại. Chẳng có dấu hiệu gì chứng tỏ có người ở đấy đã nhiều năm.
— Ở đây không có ai, Amaia.
— Có một người phụ nữ, em đã nói chuyện với chị ta một lát và lúc em quay lại, chị ta đã biến mất.
— Không có bất cứ con đường nào khác, - James nói và nhìn quanh. - Nếu cô ta đi xuống thì phải đi đường này.
Những hòn cuội trên cái bàn đá, kể cả hòn chị đã đặt ở đó, đều biến mất.
Họ trở lại con đường mòn và đi xuống chỗ Ros đang đợi.
— Amaia, nếu cô ta xuống theo đường này thì Ros và anh đã nhìn thấy.
— Trông cô ấy như thế nào? - Ros tò mò.
— Tóc vàng hoe, xinh đẹp, khoảng ba mươi tuổi, quàng khăn màu xanh rêu ngoài bộ váy dài, đeo nhiều nữ trang bằng vàng.
— Em phải nói cho chị biết cô ta có để chân trần không?
— Gần như thế, cô ta đi đôi xăng đan kiểu La Mã.
James nhìn vợ, kinh ngạc.
— Nhưng bây giờ là tám độ, lạnh thế mà có người đi xăng đan.
— Em biết, toàn bộ diện mạo của cô ấy rất lạ lùng, song cũng rất tao nhã.
— Cô ấy mặc toàn màu xanh ư? - Ros hỏi.
— Vâng.
— Và đeo nữ trang bằng vàng. Cô ta nói với em tên là gì?
— Maya.
Ros đưa bàn tay che miệng và nhìn em gái trừng trừng.
— Gì thế, chị? - Amaia giục.
— Theo truyền thuyết, cái hang trong những kẽ nứt đó là một trong những nơi mà nữ thần Mari thường ở, người di chuyển đó đây bằng cách bay trong không khí, từ Aia đến Elizondo, từ Elizondo đến Amboro giữa cơn dông bão.
Amaia nhìn con đường mòn xuôi xuống với vẻ coi thường.
— Em đã nghe đủ thứ nhảm nhí... Hay là em đã nói chuyện thực sự với nữ thần Mari ở ngưỡng cửa nhà bà ta.
— Maya là tên khác của Mari, ngốc ạ.
Một ánh chớp lóe xé rách bầu trời đang săm dần cho đến khi thành màu thiếc cũ. Một tiếng sấm ầm ì gần đó và trời bắt đầu đổ mưa.
❀ ❀ ❀
[1] Người quân tử (tiếng Tây Ban Nha trong nguyên bản).
[2] Maitetxu của tôi (tiếng Tây Ban Nha trong nguyên bản).