Cháu chỉ là một cô bé, - Amaia thì thào, - cháu chỉ là một cô bé, sao ông không thương cháu?
Đứa trẻ khóc thổn thức lúc đất phủ lên mặt nó. Nhưng con người tàn bạo không hề động lòng.
Amaia có thể nghe thấy tiếng dòng sông gần đó, mùi khoáng chất đầy mũi em và những hòn đá lạnh lẽo ép vào lưng lúc em nằm cạnh lòng sông. Kẻ sát nhân cúi xuống, chải tóc em sang một bên, những lọn tóc vàng óng, xoăn tít, đẹp hoàn hảo gần như che kín bộ ngực trần của em. Em nhìn vào mắt hắn, cố tìm chút thương hại. Mặt kẻ sát nhân ghé sát mặt em, gần đến mức em ngửi thấy mùi già lão của hắn, mùi rừng cây, sông ngòi, tảng đá. Em nhìn vào mắt hắn và phát hiện ra chỉ là những vũng nước sâu, đen ngòm và không đáy, nơi đáng lẽ là tâm hồn, khiến em muốn hét lên, muốn giải thoát nỗi kinh hoàng đang siết chặt người mình và làm em sự phát điên. Nhưng miệng em không thể há ra, những tiếng hú trong lòng em không thể thoát ra khỏi cổ họng, vì em đã chết. Em biết đó là cái chết của nạn nhân một vụ giết người, sự cố gắng vô tận để nói lên nỗi kinh hãi trong lòng... Mãi mãi.
Hắn nhìn thấy nỗi sợ, sự đau đớn và lời lên án của em khiến hắn cười vang, cho đến khi tiếng cười của hắn tràn ngập mọi vật. Rồi cúi xuống em lần nữa, hắn thì thào:
— Đừng sợ Ama, con chó cái bé bỏng. Ta không ăn thịt ngươi đâu.
Điện thoại ngân vang trên chiếc bàn gỗ cạnh giường, âm thanh như tiếng cưa điện. Amaia ngồi bật dậy trên giường, rụng rời và kinh hãi, hầu như tin rằng mình đã kêu to và gạt những món tóc ướt đầm mồ hôi dính bết trên trán và cổ, chị nhìn cái điện thoại đang rung tới lui, chuyển động vòng tròn trên bàn như một con bọ cánh cứng xấu xa, khổng lồ.
Chị đợi vài giây và cố trấn tĩnh. Dẫu vậy, chị vẫn cảm thấy mạch đập như trống trận trong đầu khi đưa điện thoại lên tai.
— Thanh tra Salazar?
Tiếng Iriarte đưa chị trở về thực tại ngay lập tức.
— Vâng, có chuyện gì thế?
— Tôi đánh thức chị dậy à? Tôi xin lỗi.
— Đừng lo, không sao đâu, - chị trả lời. Tôi gần như nợ anh một ân huệ, chị thầm nghĩ.
— Tôi vừa nhớ ra một thứ. Khi trông thấy cái xác, chị nói một câu cứ quẩn quanh trong đầu tôi mãi. Chị bảo: “Cô ấy là nàng Bạch Tuyết”, chị nhớ không? Thật tai họa, tôi cũng có ấn tượng như thế, lời nhận xét của chị càng củng cố cảm giác của tôi rằng đã từng nhìn thấy điều này, ở đâu đó trong một hoạt cảnh khác hẳn. Cuối cùng tôi đã nhớ ra. Hè năm ngoái, tôi cùng vợ con đến một khách sạn trên bờ Tarragona, một khách sạn có bể bơi rộng lớn và câu lạc bộ có nhiều hoạt động cho trẻ em. Một buổi sáng, tôi nhận thấy bọn trẻ con đặc biệt khác thường, vừa bối rối vừa phấn khích. Chúng đi khắp vườn, nhặt nhạnh các que, những hòn đá nhỏ, những bông hoa và hành động hết sức lạ lùng. Tôi đi theo chúng và trông thấy ít nhất là mười hai đứa bé nhất tập hợp ở góc vườn, tạo thành một đám đông lộn xộn. Tôi tiến tới và nhìn thấy ở giữa đám đông, chúng đã xếp nhà mồ cho một con chim sẻ chết. Nó nằm trên đống khăn giấy, xung quanh là những hòn sỏi và vỏ ốc trên bãi biển. Bọn trẻ xếp hoa thành vòng tròn xung quanh con vật. Tôi rất cảm động. Tôi khen ngợi bọn trẻ nhưng vẫn để chúng về các dịch bệnh mà con chim chết có thể gây nên và bảo chúng phải rửa tay, sau đó gần như tôi phải kéo chúng khỏi nơi đó. Tôi cố gạt ý nghĩ về con vật ra khỏi đầu bằng cách chơi đùa với bọn trẻ, nhưng suốt mấy ngày sau, tôi thấy nhiều nhóm trẻ con kéo đến góc vườn, nơi có con chim sẻ. Tôi kể với một trong những người quản lý về chuyện này và ông ta dọn nó đi, mặc cho bọn trẻ than phiền và bực tức, mặc dù lúc đó sinh vật bé nhỏ kia đã bị sâu bọ ăn thủng lỗ chỗ.
— Anh có nghĩ đến cậu bé tìm thấy Johana không?
— Bố thằng bé nói nó và các bạn lên đồi. Có thể bọn trẻ tìm thấy cái xác, nhưng trước cái ngày chúng nhắc đến. Tôi nghĩ chúng phát hiện ra và quyết định làm một cái nhà mồ, những bông hoa... chắc là chúng đã phủ lên cô ta. Ngoài ra, tôi nhận thấy dấu tay trên các lọ nước hoa đều rất nhỏ. Chúng ta giả định là những lọ ấy của một phụ nữ, nhưng cũng có thể là của một đứa trẻ. Tôi gần như tin thế.
— Bạch Tuyết và những chú lùn bé bỏng của nàng.
Mikel lên tám và em biết mình đang gặp rắc rối to. Em ngồi trong văn phòng của Iriarte, đung đưa bàn chân tới, lui để trấn tĩnh trong khi bố mẹ nhìn em và mỉm cười khích lệ, nhưng không an ủi được mà chỉ càng làm cho em thấy nỗi bận tâm của họ. Họ cố che giấu, nhưng thái độ của họ đã để lộ ra. Mẹ em vuốt phẳng quần áo cho em, chải tóc cho em đến ba lần, mỗi lần lại nhìn vào mắt em với vẻ lo âu thường có khi không tin chắc vào chuyện đang diễn ra. Bố em thẳng thắn hơn.
— Con đừng lo, không có gì xấu xảy ra cho con đâu. Họ sẽ hỏi con vài câu, con cứ nói sự thật và nói rõ ràng hết sức nhé.
Sự thật. Nếu em kể sự thật một cách rõ ràng, nhất định sẽ có chuyện xấu xảy ra cho em. Qua cánh cửa khép hờ, em đã trông thấy các bạn mình đang xếp hàng một xuống hành lang có bố mẹ đi cùng, em trao đổi những cái liếc nhìn thực sự thất vọng với chúng, em biết không thoát được rồi. Jon Sorondo, Pablo Odriozola và Markel Martinéz. Markel lên mười và có thể chịu đựng vững vàng, chứ Jon là thằng khờ khạo, nó sẽ kể tuốt tuột ra cho mà xem. Em lại nhìn bố mẹ lần nữa, thở dài và quay sang Iriarte.
— Tại chúng cháu.
Người ta phải mất nửa tiếng làm các bậc cha mẹ bình tĩnh và thuyết phục họ rằng không cần luật sư, dù họ có thể gọi một người nếu muốn, con trai của họ sẽ không bị buộc tội gì hết, nhưng quan trọng là họ bảo được bọn trẻ nói ra sự việc. Cuối cùng, họ đồng ý và Amaia quyết định đưa toàn bộ vào phòng họp.
— Các cháu ngoan, có cháu nào muốn kể cho chú nghe chuyện xảy ra không? - Iriarte bắt đầu.
Bọn trẻ nhìn nhau, rồi nhìn bố mẹ mình và vẫn im thin thít.
— Thôi được, các cháu muốn chú hỏi vài câu hơn à?
Chúng gật đầu.
— Các cháu có hay đến túp lều đó không?
— Có ạ, - tất cả đồng thanh, như một lớp học nhút nhát toàn những học trò khiếp đảm.
— Cháu nào tìm thấy cô ấy?
— Mikel và cháu, - Markel lẩm bẩm trả lời, không khỏi có chút tự hào.
— Đây là việc rất quan trọng. Các cháu có nhớ ngày tìm ra cô ấy không?
— Là hôm Chủ nhật, - Mikel trả lời. - Đúng sinh nhật của bà cháu.
— Tìm thấy cô ấy, các cháu kể với những người khác rồi hằng ngày quay trở lại thăm.
— Để chăm sóc cô ta, - Mikel nói rõ ràng. Mẹ em bịt miệng, kinh hãi.
— Nhưng lạy Chúa, cô ta đã chết! - Bố em kêu lên.
Một cảm giác hoang mang và khiếp sợ lay động đám người lớn, họ bắt đầu thì thào. Iriarte cố làm họ bình tĩnh lai.
— Trẻ con có cách nhìn nhận sự việc khác hẳn. và cái chết khiến các em rất tò mò. Thế là, các cháu trở lại chăm sóc cô ấy, - Iriarte nói với bọn con trai, - các cháu chăm sóc cô ấy, nhưng có phải các cháu sắp xếp những bông hoa không?
Im lặng.
— Các cháu lấy hoa ở đâu mà nhiều thế? Vào thời gian này ở vùng nông thôn hầu như không có hoa...
— Ở vườn của bà cháu, - Pablo thừa nhận.
— Đúng thế, - mẹ em nói thêm. - Mẹ tôi gọi điện kể cho tôi chuyện đó, bà bảo chiều nào thằng bé cũng đến hái hoa trong bụi, bà hỏi có phải cháu nó mang hoa cho tôi và tôi nói không. Tôi cho rằng hoa dành cho cô bé nào đấy.
— Và đúng là thế, - Iriarte nói.
Mẹ cậu bé sửng sốt lúc ngẫm nghĩ câu đó.
— Cháu cũng lấy nước hoa của bà ư?
— Cháu lấy của mẹ, - Jon trả lời, gần như thì thầm.
— Jon! - Mẹ em kêu lên. - Sao con...
— Đấy là lọ mẹ không dùng, nó ở đó, đầy và chưa mở trong tủ buồng tắm...
Mẹ Jon đưa tay lên trán lúc nhận ra thằng bé đã lấy lọ nước hoa đắt tiền nhất của mình, lọ bà dùng ít nhất, chỉ dành cho những dịp đặc biệt.
— Khốn kiếp! Con đã lấy lọ Bucheron ư? - Bà bỗng trở nên giận dữ hơn vì thằng con đã lấy lọ nước hoa giá năm trăm euro để rưới lên một cái xác.
— Tại vì mùi, cô ấy bốc mùi ngày càng nồng nặc hơn...
— Chính vì thế các cháu treo quả khử mùi đúng không?
Cả bốn đứa trẻ gật đầu.
— Chúng cháu vét sạch túi tiền để mua, - Markel nói.
— Các cháu có chạm vào xác chết không?
Anh nhận thấy câu hỏi làm các bậc cha mẹ khó chịu, họ nhấp nhổm trên ghế, hít sâu và phóng vào anh những cái nhìn trách cứ.
— Cô ấy không được che đậy, - một cậu bé nói, thanh minh cho hành động của chúng.
— Cô ấy trần truồng, - Mikel nói. Tiếng cười khúc khích lan rộng trong đám trẻ nhưng tắt ngay vì vẻ mặt kinh hãi của bố mẹ chúng.
— Thế là các cháu đậy điệm, che phủ cho cô ấy, đúng không nào?
— Vâng, bằng quần áo của cô ấy... chúng rách hết, - Jon nói.
— Và bằng tấm nệm, - Pablo thừa nhận.
— Các cháu có nhận thấy cô gái mất thứ gì không? Nghĩ kỹ trước khi trả lời nào.
Bọn trẻ nhìn nhau, gật đầu lần nữa và Mikel lên tiếng:
— Bọn cháu cố kéo cánh tay cô ấy để ôm bó hoa, nhưng chúng cháu thấy cô ấy không có một bàn tay, vì thế chúng cháu để hoa ở đó vì nhìn thấy vết thương bọn cháu sợ lắm.
Amaia sửng sốt vì cách bọn trẻ suy nghĩ. Chúng sợ một vết thương nhưng lại không hề kinh hãi khi phát hiện ra một cái xác bị xâm phạm; chúng sợ vì vết cắt sạch sẽ dù hung bạo, nhưng chúng vẫn dành tất cả thời gian rảnh rỗi trong tuần để trông coi một xác chết đang phân hủy từng phút một mà không hề sợ hãi, hoặc có thể nỗi sợ bị át đi vì hiếu kỳ và tâm lý bầy đàn mà bọn trẻ thỉnh thoảng thể hiện luôn làm chị ngạc nhiên.
Amaia xen vào:
— Cả túp lều rất sạch sẽ. Các cháu quét dọn phải không?
— Vâng ạ.
— Các cháu đã quét sàn, treo quả khử mùi và cố đốt rác rưởi...
— Nhưng nó tỏa nhiều khói quá, chúng cháu sợ có người trông thấy, họ đến và...
— Các cháu có thấy gì giống máu, hoặc sữa sôcôla khô không?
— Không.
— Không có gì rưới lên cái xác.
Bọn trẻ lắc đầu.
— Các cháu đến đó hằng ngày phải không? Trong những ngày ấy, các cháu có thấy người nào khác ở đó không?
Mikel nhún vai. Amaia đi ra cửa.
— Cảm ơn sự giúp đỡ của các ông bà, - chị nói với các bậc cha mẹ. - Còn các cháu nên biết rằng nếu tìm thấy một cái xác, các cháu phải gọi điện cho cảnh sát ngay lập tức. Cô gái đó có gia đình đang mất cô ấy; hơn nữa, cái chết của cô ấy không tự nhiên, và trì hoãn việc báo cảnh sát có nghĩa là kẻ giết người có thể trốn thoát. Các cháu có hiểu việc cô đang nói quan trọng thế nào không?
Bọn trẻ gật.
— Bây giờ cô ấy ra sao hở cô? - Mikel muốn biết.
Iriarte mỉm cười khi nghĩ đến các con mình. Những chú lùn của nàng Bạch Tuyết. Chúng đang ở đồn cảnh sát, vừa bị thẩm vấn, bố mẹ chúng lúng túng, bị giằng xé giữa kinh hãi và không tin, còn chúng lại lo cho nàng công chúa đã chết của mình.
— Chúng tôi sẽ trả cô ấy về với mẹ của mình, người ta sẽ chôn cất cô ấy... Họ sẽ đặt hoa lên mộ cô ấy...
Bọn trẻ nhìn nhau và gật đầu hài lòng.
— Các cháu cũng có thể đến thăm mộ cô ấy ở nghĩa trang. -Iriarte nói thêm.
Bọn trẻ cười nhiệt tình, còn bố mẹ chúng nhìn anh lần cuối, chướng tai vì lời gợi ý ấy rồi kéo những đứa bé ra cửa.
Amaia ngồi đối diện với tấm bảng đã bổ sung nhiều ảnh của Johana, và một lần nữa tự hỏi đầu óc một đứa trẻ có thể thích ứng ra sao. Iriarte và Zabalza đi vào, anh mỉm cười cởi mở lúc đặt tách cà phê sữa trước mặt chị.
— Bạch Tuyết, - anh cười to. - Tôi thương mấy đứa trẻ tội nghiệp, chắc bố mẹ sẽ đưa chúng đến thẳng bác sĩ tâm lý mất. Rồi sẽ chẳng còn những chuyến lên đồi thám hiểm nữa.
— Vậy anh sẽ làm gì nếu chúng là con anh?
— Tôi cho rằng sẽ không quá khắt khe với chúng. Ngày trước tôi sẽ trả lời chị khác hẳn, nhưng giờ tôi đã có con, và tôi cam đoan với chị rằng trong mấy năm vừa qua tôi đã học hỏi được nhiều, thanh tra ạ. Tất cả chúng ta đểu từng ra ngoài thám hiểm như thế, nhất là những đứa trẻ lớn lên ở vùng thôn dã. Cứ đi quanh đây mà xem, nhất định chị cũng sẽ xuống sông thăm dò.
— Đúng, sự hiếu kỳ của trẻ con là hoàn toàn bình thường, nhưng ở đây chúng ta đang nói đến một cái xác, anh tin chắc bọn trẻ sẽ không bỏ chạy và la hét.
— Có lẽ phần lớn sẽ như thế, nhưng không phải tất cả khi nỗi sửng sốt ban đầu đã qua. Yếu tố sợ hãi trong bọn trẻ thường nhiều hơn sự khiếp sợ tưởng tượng, chính vi thế chúng là nạn nhân trong nhiều trường hợp, vì chúng không thể phân biệt được những nguy hiểm thực và ảo. Tôi tin chúng sốc thực sự khi nhìn thấy Johana, nhưng sau đó nỗi tò mò và sự lôi cuốn không lành mạnh nảy nở, bọn trẻ con thường không lành mạnh đến không ngờ. Tôi biết đây không phải là sự so sánh chính xác, nhưng năm lên bảy, chúng tôi đã tìm thấy xác một con mèo. Chúng tôi chôn nó vào đống sỏi trong công trường xây dựng, rồi lấy que làm một cây thập tự cho nó, chúng tôi đặt hoa, thậm chí còn cầu nguyện cho nó, nhưng một tuần sau, các bạn của anh tôi đào nó lên rồi chôn nó lần nữa, chỉ để xem tình trạng của nó ra sao.
— Phải, tôi thấy chuyện đó có vẻ tò mò trẻ con hơn, vì chỉ là một con mèo. Đối diện với một xác người, chắc chúng phải choáng váng lắm. Theo bản năng, chúng ta luôn loại bỏ ý tưởng gắn bó chặt chẽ với cái chết khi nó xuất hiện dưới hình dạng con người.
— Với người lớn thì đúng thế, nhưng bọn trẻ lại khác. Đây không phải lần đầu tiên chuyện thế này xảy ra. Vài năm trước, thi thể một cô gái biến mất khỏi nhà vài ngày trước khi được tìm thấy trong mảnh đất gần Tudela. Cô ta chết vì dùng thuốc quá liều và mấy cậu trai trẻ tìm thấy cái xác. Thay vì báo cảnh sát, chúng che phủ cô ta bằng các túi nilông và những thanh gỗ. Khi cảnh sát tìm ra, đã có nhiều nhầm lẫn và phỏng đoán về sự việc; lúc khám nghiệm tử thi phát hiện ra nguyên do dùng thuốc quá liều, cảnh sát bèn theo dõi mấy cậu trai vì đã để lại dấu vân tay trên hiện trường, hành động của chúng đã làm biến đổi ấn tượng ban đầu của các điều tra viên.
— Thật lạ thường.
— Nhưng là sự thật.
Jonan gõ cửa lúc bước vào phòng.
— Thanh tra, trung úy Padua vừa gọi, họ đã bắt được Jasón Medina ở Gorramendi. Hắn ở trong một túp lều trên sườn núi cách Erratzu không xa. Họ cũng tìm ra chiếc ô tô giấu trong đám cây cách đấy khoảng mười hai cây số. Có một cái túi thể thao đựng quần áo con gái, hộ chiếu của Johana và con chuột đổ chơi trong cốp xe. Họ giam hắn trong trại ở Lekaroz. Padua nói anh ta đợi chị tới rồi mới bắt đầu thẩm vấn.
— Anh ta tốt bụng gớm! - Iriarte đùa.
— Anh đừng tin, anh ta nợ chúng ta một ân huệ, - chị nói và cầm túi lên.
Các tiện nghi trong doanh trại Guardia Civil lỗi thời so với đồn cảnh sát mới, nhưng Amaia nhận ra họ có một hệ thống truyền hình cáp hiện đại với những camera tối tân nhất. Một guardia mặc đồng phục đón ở cửa và đưa họ tới văn phòng bên phải lối vào. Mộtguardia khác dẫn họ xuống một hành lang hẹp, chiếu sáng ; lờ mờ tới một cánh cửa ọp ẹp cho thấy ổ khóa đã bị thay nhiều lần. Cạnh cửa có một hốc tường bày hình ảnh Đức Mẹ đồng trinh Pillar, một bông ngũ cốc khô, nhiều ghế và bàn kê ở cạnh tường. Một người đàn ông bị còng tay, trạc bốn mươi lăm tuổi ngồi trước mặt một cảnh sát. Hắn ta gầy, thấp, da ngăm ngăm càng lộ rõ vẻ tái nhợt, màu đỏ lan rộng dưới mắt và miệng.
Bàn tay bị còng cầm hờ hững cái khăn giấy, hình như hắn không định dùng dù nước mắt, nước mũi chảy xuống tận cằm, rỏ lên mặt bàn màu đen. Cạnh hắn là một nữ luật sư trẻ, Amaia đoán cô ta chưa tới ba mươi. Cô ta đang sắp xếp một số giấy tờ, trong khi chăm chú lắng nghe những chỉ dẫn của ai đó trên điện thoại và nhìn thân chủ của mình với vẻ ghê tởm rõ rệt.
Padua tiến tới đằng sau họ.
— Hắn không ngừng khóc lóc và kêu la từ lúc các nhân viên Sở Bảo vệ Thiên nhiên tìm ra. Hắn thú nhận ngay khi gặp cảnh sát, họ kể với tôi rằng hắn không ngậm miệng tí nào trong suốt chuyến đi, và từ lúc chúng tôi đặt hắn ngồi ở đây, hắn chỉ khóc nức nở. Trên thực tế chúng tôi đã có lời khai của hắn vì từ lúc đến, hắn nhắc đi nhắc lại không ngừng là tại hắn và muốn được thú tội. Ắt hẳn hắn đã mệt lử vì những trò than vãn ấy.
Họ tới bên bàn. Một guardia bật máy ghi âm và sau những lời chào hỏi, giới thiệu và báo cáo về ngày giờ, thời gian, họ ngồi xuống.
— Trước hết, tôi phải nói rằng đây là việc rất không đúng thể thức: tôi không hiểu vì sao họ lấy lời khai của hắn mà không có mặt tôi, - cô nàng luật sư phàn nàn.
— Thân chủ của cô không ngừng gào lên thú nhận từ lúc bị bắt, hắn ta một mực đòi khai ngay từ lúc bước qua cửa.
—... Tuy vậy, tôi không thể căn cứ vào...
— Chúng tôi vẫn chưa thẩm vấn hắn, Señora, tại sao chúng ta không đợi xem hắn nói gì?
Nữ luật sư bĩu môi và đẩy ghế lùi cách bàn vài xen ti mét.
— Señor Jasón Medina, - Padua bắt đầu. Hình như việc nhắc đến tên đã đưa người đàn ông ra khỏi tình trạng mụ mị; hắn ta thẳng người hơn trên ghế và nhìn trừng trừng vào tờ giấy Padua cầm. -Theo lời khai của ông, vào thứ Bảy ngày mùng 4, ông đã rủ con gái riêng của vợ là Johana Márquez đi rửa xe cùng ông, nhưng thay vi đến trạm xăng, ông đã lái xe lên đồi. Khi đến khu vực ít người qua lại, ông đòi cô ta hôn mình, khi Johana từ chối, ông tức giận và đánh cô ta. Johana dọa kể với mẹ và sẽ đến đồn cảnh sát trình báo. Ông càng bực tức và trở nên kích động, ông lại đánh cô ta lần nữa và theo lời ông, cô ta ngất đi. - Jasón gật đầu. - Ông lái xe đi một lúc nữa, nhưng khi thấy cô ta bất tỉnh, hệt như ngủ say, ông nghĩ có thể xâm hại cô ta mà không bị chống cự. Ông tìm ra một nơi tách biệt trên con đường mòn trong rừng, đỗ xe, lật ghế của Johana và trèo lên người cô ta định giở trò. Nhưng lúc đó, Johana tỉnh dậy và bắt đầu kêu cứu, đúng thế không?
Jasón Medina gật liên tục, cho người ta cảm tưởng hắn đang nhấp nhô lên, xuống, nước mũi trộn lẫn nước mắt tiếp tục chảy ròng ròng.
— Theo lời ông, ông đánh cô ta hết lần này đến lần khác. Johana càng la hét, ông càng bị kích thích, ông đánh lần nữa nhưng cô ta vẫn tự vệ, vì thế ông phải đánh mạnh hơn. Dù vậy, cô ta vẫn không ngừng kêu cứu và đấm lại ông mạnh hết mức có thể. Ông chộp cổ Johana và siết mạnh, cho đến khi cô ta im bặt. Khi thấy mình đã giết chết Johana, ông quyết định phải tìm một nơi để giấu xác. Ông biết căn lều trên núi vì đã tới đó vài lần khi đi chăn cừu. Ông lái xe đến gần, rồi vác xác lên lều và để ở đấy. Nhưng trước khi rời đi, ông nhớ đã đọc về basajaun trên báo trong mấy ngày qua và quyết định bắt chước cách gây án: ông xé toạc quần áo Johana theo kiểu đã đọc và ông hưng phấn đến mức đã cưỡng hiếp xác chết.
Jasón nhắm mắt lại giây lát, Amaia tưởng hắn đang hối lỗi, nhưng rõ ràng hắn đang hồi tưởng về cái chết của Johana, nung đốt ký ức của hắn với đầy đủ chi tiết. Hắn nhổm lên trên ghế, bắt gặp bị luật sư chú ý, cô ta đã dịch ra xa, ghê tởm khi trông thấy cái đó phồng lên trong quần hắn.
— Lạy Chúa! - Cô ta kêu lên.
Padua vẫn đọc tiếp dường như không nhận thấy gì.
— Nhưng ông nhớ không chuẩn bị sợi dây nào, vì thế ông về nhà trước vợ, tắm rửa, lấy một đoạn dây phơi thừa rồi trở về lều, thắt quanh cổ cô con gái riêng của vợ. Sau đó ông về nhà. Khi vợ ông khăng khăng đi báo người mất tích, ông lấy một số quần áo và đồ dùng cá nhân của Johana, bảo với vợ là Johana đã về nhà lấy đồ và thuyết phục bà ấy rút lại lời khai báo...
— Señor Medina, ông có đồng ý với những lời ông đã nói không?
Jasón nhìn xuống và gật đầu.
— Tôi cần nghe ông nói để làm biên bản, Señor.
Gã đàn ông ngả tới trước như thể định hôn máy ghi âm và nói rành rọt:
— Vâng, Señor, đó chính xác là việc đã xảy ra và Chúa biết thế. - Tiếng hắn trơn tru và hơi the thé, kèm chút dấu vết hèn hạ giả dối khiến luật sư của hắn chớp chớp mắt.
— Tôi không tin chuyện này, - cô ta lẩm bẩm.
— Ông có xác nhận lời khai của mình không, Señor Medina? Jasón lại ngả về phía trước.
— Có.
— Ông đồng ý với mọi thứ tôi đọc hay muốn bổ sung hoặc loại bỏ điều gì không?
Một lời nhắc lại, tôn kính:
— Tôi đồng ý tất cả.
— Señor Medina, mặc dù mọi thứ đã rõ ràng, chúng tôi muốn hỏi ông vài câu.
Viên luật sư ngồi hơi thẳng hơn, dường như hiểu rằng rốt cuộc cô ta sắp có việc để làm.
— Tôi đã giới thiệu thanh tra Salazar thuộc Policía Foral muốn thẩm vấn ông.
— Tôi phản đối, - luật sư nói to. - Ông đã làm cuộc sống của thân chủ tôi đủ khó khăn với lời khai này, ông ta đã thú nhận. Đừng tưởng tôi không biết bà là ai, - cô ta nhằm vào Amaia, - hoặc bà đang cố làm gì.
— Cô nghĩ là tôi đang cố làm gì? - Amaia kiên nhẫn hỏi.
— Buộc thân chủ tôi các tội ác do basajaun gây ra.
Amaia cười phá và lắc đầu.
— Đừng lo, tôi sẽ nói ngay với cô rằng thủ đoạn phạm tội không khớp. Ngay từ đầu chúng tôi đã biết vụ này không phải dobasajaun, và với thông tin thân chủ của cô cung cấp trong lời khai liên quan đến sợi dây ông ta dùng, chúng tôi gần như có thể loại bỏ ông ta.
— Gần như ư?
— Có một yếu tố cấu thành tội ác khiến chúng tôi chú ý. Dù thân chủ của cô có thể cho chúng tôi một lời giải _thích hợp lý hay không, cũng sẽ quyết định cuộc điều tra này tiến triển ra sao.
Luật sư cắn môi trên.
— Vậy chúng ta sẽ thỏa thuận thế này: tôi sẽ hỏi và thân chủ của cô chỉ trả lời nếu cô cho phép...
Luật sư lo lắng nhìn vũng nước nhỏ đã loang khắp mặt bàn và gật đầu. Padua định đứng dậy nhường Amaia chỗ ngồi đối diện với Medina, nhưng chị ngăn lại; chị đứng lên hơi ngả người để nói với hắn, chị đứng gần đến nỗi hầu như chạm vào quần áo hắn.
— Señor Medina, ông nói đã đánh Johana một số lần và cưỡng hiếp cô ấy, ông có chắc chắn không làm gì nữa không?
Gã đàn ông nhấp nhổm; bứt rứt.
— Bà đang ám chỉ gì vậy? - Viên luật sư hỏi.
— Xác chết bị cắt cụt hoàn toàn bàn tay phải và cẳng tay, - Amaia nói và đặt những bức ảnh phóng to lên bàn; cho thấy đầy đủ sự thô bạo của vết thương.
Luật sư cau mày và ngả người; thì thầm gì đó vào tai thân chủ.
Hắn lắc đầu.
Amaia sốt ruột đợi vài giây.
—Nghe đây: sau những lời ông nói trong lời khai; việc cắt cụt một cánh tay sẽ là thứ yếu. Ông làm thế để chúng tôi không thể nhận dạng xác chết bằng vân tay ư?
— Không.
— Xem các bức ảnh đi; - Amaia khăng khăng.
Jasón nhìn thoáng các bức ảnh rồi ngoảnh đi, ghê tởm.
— Lạy Chúa! Không, tôi không làm việc này, khi tôi trở lại đặt sợi dây vào chỗ, cô ấy đã như thế, tôi tưởng là do một con thú.
— Ông về nhà rồi trở lại túp lều mất bao lâu? Hãy suy nghĩ cẩn thận.
Jasón bắt đầu khóc, những tiếng nức nở to từ sâu bên trong khiến cả người hắn rung chuyển.
— Chúng ta phải để việc này lại thôi, Señor Medina cần nghỉ ngơi, -luật sư gợi ý.
Amaia mất hết kiên nhẫn.
— Señor Medina sẽ nghỉ khi tôi nói có thể.
Amaia đấm mạnh xuống bàn, những giọt nước trong cái vũng nho nhỏ bắn tung tóe mọi hướng, và chị ngả tới cho đến khi mặt chị ở sát ngay bên phải mặt hắn. Tiếng khóc lóc của hắn ngừng ngay lập tức.
— Hãy trả lời tôi, - chị ra lệnh bằng giọng cứng rắn.
— Một tiếng rưỡi là nhiều nhất, tôi đi rất vội vì vợ tôi đi làm sắp về.
— Khi ông về túp lều, cánh tay đã không còn ư?
— Không, tôi thề là tôi tưởng...
— Có máu không?
— Cái gì?
— Qụanh vết thương có máu không?
— Có lẽ có một ít, rất ít, chỉ là một vết...
Amaia nhìn Padua.
— Bọn trẻ ư? - Anh gợi ý.
—... trên cái túi ni lông, - Jasón lẩm bẩm.
— Túi ni lông nào?
— Máu trên một túi ni lông màu trắng, - hắn thì thào.
Amaia đứng dậy, buồn nôn vì mùi hôi hám của hắn.
— Hãy nghĩ kỹ về việc này. Ông có trông thấy ai gầh túp lều khi ông trở lại không?
— Tôi không trông thấy ai, nhưng...
— Gì?
— Tôi nghĩ có người ở gần, nhưng lúc đó tôi rất căng thẳng. Tôi còn ngỡ có người đang theo dõi tôi. Tôi tưởng là Johana...
— Johana?
— Linh hồn của cô ấy, bà hiểu ý tôi không, hồn ma của cô ấy.
— Ông lái xe vượt mọi xe khác trên đường dẫn tới túp lều hoặc có nhìn thấy chiếc xe nào đỗ gần đó không?
— Không, nhưng lúc sắp ra về tôi nghe thấy tiếng một chiếc mô tô, một trong những mô tô leo núi. Xe ấy kêu rất to. Tôi tưởng là một trong những nhân viên của Sở Bảo vệ Thiên nhiên, họ dùng loại xe đó khi lên núi. Tôi không thể ra khỏi nơi ấy đủ nhanh.
Mùa xuân khác
Lần sau sự việc khác hẳn. Nhiều năm đã trôi qua. Amaia sống ở Pamplona, dù ngày nghỉ cuối tuần nào cũng về Elizondo. Mẹ cô ốm yếu và tàn phế, dính với giường bệnh viện, ám ảnh vì bệnh viêm phổi trong khi bệnh Alzheimer hủy hoại bà. Suốt nhiều tháng bà chỉ bập bẹ được một, hai từ trong vốn từ ngữ ít ỏi và chỉ đòi hỏi những việc thiết yếu nhất. Bà nằm bệnh viện University một tuần theo yêu cầu của bác sĩ trưởng và trái ngược với ý muốn của Flora, chị ta không chịu thừa nhận tình trạng sức khỏe của mẹ mình dù phải nhượng bộ khi Rosario thở rất chậm và khó nhọc, đến mức cần ôxy để duy trì sự sống và di chuyển bằng xe cấp cứu. Tuy không ngừng hãnh diện vì vai trò trụ cột của mình, Flora luôn nại đủ mọi cớ để tránh ở lại bên giường mẹ, song không bao giờ bỏ lỡ dịp chỉ trích các em gái vì không đến thăm mẹ thường xuyên hơn.
Amaia vào phòng và sau mười phút lắng nghe những lời buộc tội của Flora, liền tống chị ta đến quán ăn tự phục vụ và hứa sẽ ở lại trông mẹ. Khi cánh cửa khép lại, Amaia quay nhìn mẹ cô đang thiu thiu ngủ lúc cô đỡ bà ngồi dậy để bà thở dễ dàng hơn. Amaia nhận thấy nỗi sợ của mình và đây là lần đầu tiên cô ở một mình với bà kể từ khi còn bé. Cô đi rón rén qua chân giường, ngồi xuống cái ghế cạnh cửa sổ, cầu cho mẹ không thức giấc và đòi hỏi gì. Cô không biết chắc bà cảm thấy như thế nào nếu cô chạm vào người bà.
Amaia ngồi xuống ghế và từ từ ngả ra phía sau, cầm lên một tờ báo của Flora trên bậu cửa sổ, thận trọng như đang điều khiển một thiết bị nổ. Cô liếc nhìn mẹ lần nữa và không thể nén được tiếng kêu. Tim Amaia như sắp nhảy ra khỏi lông ngực. Mẹ đang nhìn cô, bà ngả người sang bên trái, nụ cười méo mó và mắt bà sáng lên ánh nhìn tinh quái và hiểm độc.
— Đừng sợ Ama của con, con chó cái bé nhỏ. Ta không ăn thịt con đâu.
Bà nằm ngửa xuống, nhắm mắt lại và ngay lập tức hơi thở của bà như đẫm nước và ầm ĩ. Amaia cuộn tròn như quả bóng và thấy mình đã vò nhàu tờ báo đang cầm từ lúc nào không hay. Cô ở lại thêm vài giây, tim đập thình thịch không thể kìm chế và một mực tin rằng chỉ là do cô tưởng tượng, trạng thái mệt mỏi và những hồi ức đã chơi khăm cô. Amaia đứng dậy và không rời mắt khỏi khuôn mặt mẹ, có vẻ ngây dại và thờ ơ như suốt nhiều tháng trước. Bà thì thào gì đó. Một vệt nước dãi trên má bà, mắt bà vẫn nhắm. Một tiếng lẩm bẩm nghẹn lại, một từ không hiểu nổi. Ống dẫn ôxy đã tuột ở đằng sau một bên tai và lơ lửng, tạo thành tiếng xì xì nhè nhẹ. Hình như bà đang mơ, đang bập bẹ, có lẽ bà đòi uống nước chăng? Tiếng bà yếu ớt đến mức không nghe thấy được. Amaia đến bên giường và cúi xuống.
— Naaa waaaaaaa.
Amaia cúi xuống để nghe cho rõ.
Rosario mở mắt; ánh mắt sắc lẹm, dữ tợn cho thấy bà thích thú việc này biết chừng nào. Bà mỉm cười.
— Không, ta không ăn thịt ngươi đâu, mặc dù ta sẽ làm thế nếu ta có thể đứng dậy.
Amaia loạng choạng bước ra cửa, vẫn không rời mắt khỏi mẹ, bà ta tiếp tục dõi theo cô bằng ánh nhìn hiểm ác và cười thỏa mãn vi nỗi sợ gây ra cho con gái, tiếng cười lanh lảnh khác xa với người có vấn đề nghiêm trọng về hô hấp. Amaia đóng cửa lại và không vào trong nữa, cho đến khi Flora trở lại.
— Em làm gì ở đây? - Flora làu bàu khi nhin thấy em gái. - Lẽ ra em nên ở trong phòng.
— Em ra xem chị sắp về chưa, em phải đi bây giờ.
Flora xem đồng hồ và nhếch lông mày với vẻ buộc tội mà Amaia đã thấy nhiều lần.
— Ama thế nào?
— Mẹ ngủ...
Đúng thế thật, bà đã nhanh chóng thiếp đi khi hai chị em trở vào.