2030: Những Xu Hướng Lớn Sẽ Định Hình Thế Giới Tương Lai

Lượt đọc: 1846 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thiên Kiến Về Người Nhập Cư
Thiên Kiến Về Người Nhập Cư

❊ ❊ ❊

Vấn đề nhập cư luôn gây tranh cãi vì chúng ta thường tập trung vào mặt xấu hơn là mặt tốt. Các nhà tâm lý học Amos Tversky và Daniel Kahneman cho rằng chúng ta đưa ra những quyết định sai lầm trong nhiều khía cạnh cuộc sống vì bị tâm lý “ác cảm với mất mát” chi phối. Sau khi tiến hành nhiều thử nghiệm, họ kết luận người ta có xu hướng cố tránh thiệt hại hơn là cố đạt lợi ích. Thật đáng ngạc nhiên, hầu hết mọi người đều quan tâm làm sao không mất 10 USD hơn là làm sao để có được 10 USD.

Để làm luận văn thạc sĩ của mình tại Đại học Bergen, nhà kinh tế học hành vi người Na Uy Thea Wiig đã tiến hành một thử nghiệm, trong đó cô trình bày với một số người về thống kê việc làm của người nhập cư (cho thấy lợi ích xã hội tiềm năng từ nhập cư) và tác động của việc nhập cư đến các chương trình phúc lợi (thể hiện những thiệt hại tiềm ẩn). Cô nhận thấy “phần tổn thất lấn át phần lợi ích” trong tâm trí của mọi người, dẫn đến thái độ tiêu cực đối với người nhập cư. “Mọi người rất dễ có ác cảm tiêu cực khi nhấn mạnh về các chi phí liên quan đến nhập cư”, cô chia sẻ. Cụ thể như “khi biết tỷ lệ việc làm của người nhập cư ở Na Uy là 60%, một số người sẽ cổ xúy cho việc siết chặt các chính sách nhập cư”. Ý nghĩa của nghiên cứu này cho thấy có thể thay đổi và thậm chí điều khiển thiên kiến về người nhập cư, và theo đó là các chính sách tương ứng, một khi chúng ta biết rằng “mọi người thường bỏ qua các lợi ích của việc nhập cư mà chỉ chú ý đến phần thiệt hại”. Tiến đến năm 2030, chúng ta cần nhận thức rõ phạm vi tác động của suy nghĩ tiêu cực về việc nhập cư, cũng như mức độ lấn át của nó đối với lực lượng ủng hộ nhập cư. Trên tờ The New Yorker, nhà báo James Surowiecki cho rằng luận điệu “chúng ta đang mất nước” mang tính thuyết phục cao vì đã đánh đúng tâm lý không muốn mất mát của công chúng, do đó tạo lợi thế cho các ứng viên chống đối nhập cư trong các cuộc bầu cử.

Một nghiên cứu khác về tâm lý sợ mất mát giúp giải thích cho hành vi của người nhập cư. Phân tích sự khác biệt về hành vi giữa người bản xứ, người ngoại quốc nhập cư và người ngoại quốc ở lại quê hương của họ một nghiên cứu cho thấy trong ba nhóm này, người di cư có khả năng chấp nhận rủi ro cao nhất. Điều đó có thể giải thích tại sao rất nhiều người nhập cư trở thành doanh nhân. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng những người nhập cư cũng phản ứng mạnh với tin xấu hơn là tin tốt về kinh tế trong tương lai, như những người khác. Bên cạnh đó, điều kiện kinh tế khó khăn ở quê nhà sẽ chi phối quyết định di cư nhiều hơn so với cơ hội ở một quốc gia mới, theo giáo sư Mathias Czaika trong một nghiên cứu khác.

Phát hiện này cho thấy hầu hết người nhập cư không đơn thuần muốn cải thiện mức sống mà chủ yếu là muốn thoát khỏi tình trạng kinh tế khắc nghiệt và tuyệt vọng ở quê nhà.

Vấn đề nhà ở (hoặc không có nhà ở) cũng là một yếu tố quan trọng trong việc quyết định di cư vì nó ảnh hưởng đến thái độ chấp nhận rủi ro. Trong một nghiên cứu được công bố trên Kỷ yếu Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia, William Clark và William Lisowski thấy rằng người nhập cư cân nhắc kỹ lưỡng giữa được và mất khi quyết định chuyển đến một đất nước khác. Những người có nhà hoặc các loại bất động sản khác thường không muốn chuyển đến nơi khác hay di cư ra nước ngoài. Chính vì thế, việc phân bổ lại đất đai ở các nước nghèo sẽ làm giảm tỷ lệ di cư hiệu quả hơn các bức tường biên giới.

Thực tế có rất nhiều lý do để chú trọng nhiều hơn vào lợi ích của dân số nhập cư. Báo cáo năm 2018 từ các ủy viên Sở An sinh Xã hội cảnh báo rằng đến năm 2030 họ không thể đảm bảo đủ mức “tài chính ngắn hạn” tối thiểu cần thiết trong quỹ ủy thác vì chính phủ hiện đang phải dùng quỹ này để chi trả phúc lợi thay vì để duy trì hệ thống bền vững. Tờ USA Today đặt tiêu đề cho báo cáo này là: “An sinh xã hội và chăm sóc y tế đang chết dần mà chẳng có ai ở Washington động một ngón tay”.

Như vậy hóa ra lực lượng nhập cư không phải là mối đe dọa mà thực chất họ mang lại cơ hội duy trì sự tồn tại của hệ thống lương hưu trong tương lai. Những người nhập cư phải trả hàng tỷ đô la thuế quỹ lương[1]mỗi năm cho an sinh xã hội, ngay cả khi họ không có giấy tờ hợp pháp hay sử dụng số an sinh xã hội giả. Tổ chức nghiên cứu Nền Kinh Tế Mỹ Mới ước tính 8 triệu người lao động bất hợp pháp đã đóng góp khoảng 13 tỷ USD tiền thuế quỹ lương trong năm 2016, nhưng nhìn chung họ không thể đòi hỏi các phúc lợi an sinh xã hội. Và chính những người nhập cư lương thấp lại là những người đóng góp nhiều nhất vì thuế An sinh Xã hội 6,2% chỉ áp dụng cho 128.400 USD đầu tiên trong thu nhập. Monique Morrissey, nhà kinh tế thuộc Viện Chính sách Kinh tế cho biết: “Việc trục xuất những người nhập cư bất hợp pháp sẽ có tác động tiêu cực, cả ngắn hạn lẫn dài hạn, đến quỹ An sinh Xã hội vốn liên quan trực tiếp đến sự gia tăng dân số”. Trong bản báo cáo, các ủy viên Sở An sinh Xã hội giải thích lý do tại sao làn sóng nhập cư gia tăng có thể mang lại một vài lợi thế: “Phần thiệt hại sẽ giảm khi tỷ lệ nhập cư tăng vì đa số đều di cư ở độ tuổi tương đối trẻ, tức số người lao động sẽ tăng nhanh hơn số người hưởng phúc lợi”.

Vấn đề mấu chốt nằm ở cách tư duy. Nếu biết suy nghĩ sáng tạo, chúng ta có thể biến khó khăn thành cơ hội lớn. Càng tập trung tận dụng cơ hội, chúng ta càng có thể thích ứng hiệu quả hơn trước những thách thức của năm 2030.

❀ ❀ ❀

[1] Thuế đánh vào quỹ lương do doanh nghiệp chi trả.

Dịch giả: Vũ Kiều Linh
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.