Cuộc sống của phụ nữ các nước đang phát triển cũng có sự phân nhánh tương tự, và đáng mừng là ngày càng có nhiều phụ nữ trở nên khá giả hơn nhờ sự thịnh vượng của tầng lớp trung lưu. Tuy nhiên, nghèo đói vẫn tiếp tục ám ảnh hơn một nửa phụ nữ ở thành thị lẫn nông thôn trên khắp Tiểu vùng Sahara châu Phi và các khu vực Mỹ Latinh, Nam Á, Đông Nam Á và Trung Đông. Bên cạnh điều kiện kinh tế nghèo nàn là các tệ nạn như cắt bộ phận sinh dục nữ, hành vi vi phạm nhân quyền gây tổn thương cho ít nhất 200 triệu phụ nữ. Hôn nhân sắp đặt cũng là vấn đề lớn ảnh hưởng đến các trẻ em gái. Tổ chức vận động Girls Not Brides ước tính có ⅕ bé gái kết hôn trước 18 tuổi và khoảng 650 triệu phụ nữ đã kết hôn ở tuổi vị thành niên, một thực tế rất phổ biến ở châu Phi, Nam Á và Mỹ Latinh. Một phụ nữ Nam Sudan tên Helen bị ép buộc kết hôn với người đàn ông 50 tuổi khi cô chỉ mới 15 tuổi, và cô phải nghỉ học trái với ý muốn. Trẻ em gái ở độ tuổi 15 có nguy cơ tử vong khi sinh nở cao gấp năm lần so với phụ nữ ở độ tuổi 20. Cô Kanas từ Ethiopia cho biết: “Tôi đã bị gả cho chồng khi còn nhỏ và thậm chí không nhớ nổi là khi nào vì lúc đó tôi còn quá bé. Chồng đã nuôi tôi từ nhỏ”. Ngay cả ở một quốc gia như Thụy Sĩ, chính phủ ước tính có khoảng 1.400 phụ nữ vị thành niên bị ép kết hôn hàng năm.
Mặc dù các vấn nạn vẫn chưa được giải quyết, nhưng nhiều phụ nữ ở các nước đang phát triển hiện đã có thể tận hưởng những cơ hội mà thế hệ trước không hề nghĩ tới. Ở Tanzania, phụ nữ nào cần máy móc thiết bị để theo đuổi ước mơ kinh doanh - như máy làm mát, tủ đông, máy may, lò nướng bánh, máy làm sỏi, máy kéo hay xe tải - nhưng không có tiền mua thì có thể thuê từ công ty của bà Victoria Kisyombe. Vị bác sĩ thú y được đào tạo tại Anh quốc này đã quyết định khởi nghiệp kinh doanh sau khi chồng chết, và thành lập SELFINA, công ty cho thuê lớn nhất Tanzania, với hơn 22.000 hợp đồng thuê.
Ngay cả những phụ nữ có học thức cao như Victoria cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn và nạn phân biệt đối xử tràn lan. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, ở 128 nước phát triển và đang phát triển vẫn có tình trạng phân biệt đối xử về mặt pháp lý gây trở ngại đáng kể cho phụ nữ trong các lĩnh vực kinh doanh. Ví dụ, tính đến năm 2009, năng lực pháp lý của phụ nữ ở 45 quốc gia không bằng nam giới trong các giao dịch kinh tế; ở 49 quốc gia, phụ nữ không được làm việc trong các ngành công nghiệp nhất định; và ở 32 quốc gia họ không có quyền thừa kế bình đẳng. Bình đẳng về pháp lý sẽ giúp phụ nữ có thể thành lập hoặc quản lý nhiều doanh nghiệp hơn.
Ở tầm cao hơn, các nhà hoạch định chính sách lâu nay đã bỏ quên các nữ doanh nhân. Mãi cho đến năm 1970, nhà kinh tế Đan Mạch làm việc cho Liên Hiệp Quốc, Ester Boserup, mới xuất bản một cuốn sách có tầm ảnh hưởng lớn - Womans Role in Economic Development (Tạm dịch: Vai trò người phụ nữ trong phát triển kinh tế) - phân tích chi tiết những đóng góp của phụ nữ cho công cuộc phát triển kinh tế, cũng như tác động của nền kinh tế đối với họ. Bà nhấn mạnh vai trò quan trọng của phụ nữ trong quá trình phát triển với các hoạt động trong và ngoài gia đình. Tác phẩm của bà đã truyền cảm hứng để thiết lập Thập niên Liên Hiệp Quốc về Phụ nữ (1975-1985) và đặt nền móng cho làn sóng các chương trình thúc đẩy vai trò người phụ nữ trong phát triển kinh tế. Mục đích là để thúc đẩy bình đẳng giới một cách đúng nghĩa, đồng thời khám phá những hoạt động mà người phụ nữ có thể góp phần làm tăng trưởng và phát triển nền kinh tế.
Cuối cùng, các nhà hoạch định chính sách cũng nhận ra nếu không có các nữ doanh nhân thì quốc gia sẽ lãng phí hoặc không tận dụng hết một nửa nguồn lực. Như Helen Clark, người quản lý Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, phát biểu năm 2009: “Nếu giải phóng được tiềm năng to lớn của các nữ doanh nhân, đồng thời giải quyết những khó khăn họ đang gặp phải - như xin tín dụng và tài chính, hoặc không được thừa kế, đứng tên đất đai hay bình đẳng trong phân bổ ngân sách chính phủ - thì chúng ta có thể cắt giảm tình trạng bất bình đẳng và kích thích tăng trưởng kinh tế”. Sibongile Sambo, người sáng lập Hãng hàng không SRS Aviation, cũng tán đồng: “Trong lịch sử, phụ nữ Nam Phi, đặc biệt là phụ nữ da đen, không hề có cơ hội thành lập và điều hành các doanh nghiệp của riêng mình, cũng như không thể đóng góp gì nhiều cho nền kinh tế. Ở SRS Aviation, chúng tôi đang tận dụng quyền tự do chính trị mới để tạo ra sự tự do kinh tế. Đó là cơ hội mà mẹ và dì tôi không có. Nhưng tôi có, và chắc chắn sẽ nắm bắt lấy”.
Đối với phụ nữ, công việc kinh doanh có thể mang lại sự tự do và thịnh vượng về mặt kinh tế, nhưng họ phải đối mặt với nhiều rào cản đáng thất vọng mà phần lớn chỉ vì họ là phụ nữ. Theo Azza Fahmy, người sáng lập công ty trang sức nổi tiếng Ai Cập có 165 nhân viên, “Trường hợp của tôi rất khác thường đối với các phụ nữ Ai Cập trẻ trong xã hội truyền thống, nhưng tôi đã quyết tâm tiếp tục”. Hoặc như Wu Huanshu, người có công ty sản xuất phụ kiện may mặc và được coi là nữ doanh nhân đầu tiên của Trung Quốc, kể về quá trình thành lập công ty riêng của bà: “Tôi vẫn còn nhớ một quan chức từ văn phòng huyện Đông Thành… nói rằng tôi phải có giấy phép thì doanh nghiệp của tôi mới hợp pháp”. Cả Fahmy và Wu đều phải đối mặt với vô số trở ngại để biến giấc mơ của mình thành hiện thực.
Con đường kinh doanh của đàn ông và phụ nữ rất khác nhau. Phụ nữ thường kinh doanh trong những lĩnh vực liên quan đến các hoạt động họ hay tham gia từ trước, ví dụ như sản phẩm dịch vụ, hàng hóa bán lẻ, hàng thủ công mỹ nghệ hay các ngành truyền thống. Ngoài ra, các công ty được phụ nữ thành lập, sở hữu vàhoặc quản lý có xu hướng phát triển chậm, chủ yếu là do những hạn chế khác nhau về mặt cơ cấu. Một trong số đó là thiếu kiến thức và kinh nghiệm trong kinh doanh. Như Aissa Dionne, một nhà thiết kế nội thất Senegal, chia sẻ: “Ban đầu tôi còn không biết làm một cái hóa đơn. Tôi phải nhờ bạn bè chỉ giúp”.
Các nhà nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng vững chắc nào cho thấy sự khác biệt giữa hai giới xét về các khía cạnh như: động lực trở thành doanh nhân, thái độ đối với kinh doanh, đặc điểm xã hội hoặc tâm lý của các doanh nhân, quá trình khởi nghiệp kinh doanh, phong cách quản lý hoặc lãnh đạo, hay thậm chí cách tiếp cận tài chính - dù phụ nữ phải đối mặt với nạn phân biệt đối xử khi nộp đơn xin tài trợ khởi nghiệp. Isabel Roa, một doanh nhân người Chile cho biết: “Tôi bắt đầu làm việc ở một công ty dệt may tại Santiago. Sau đó tôi bắt đầu tự đan sản phẩm và đem đến bán từng nhà. Vấn đề lớn nhất của tôi khi bắt đầu là không có vốn. Tôi đã giải quyết điều này bằng cách tiết kiệm và xin vay”.
Có lẽ một lý do quan trọng khiến phụ nữ gặp nhiều khó khăn trên con đường khởi nghiệp và phát triển kinh doanh là vì họ thường trở thành doanh nhân trong tình thế khẩn thiết hơn so với nam giới. “Tôi thấy có quá ít trường học, kể từ thời tôi đi học đến giờ số trường lớp chẳng có gì thay đổi”, Nasreen Kasuri, người thành lập một trường học ở Pakistan, nhận xét. “Tôi cũng nhận ra các con tôi không may mắn có nền giáo dục chất lượng như thời của tôi. Cách duy nhất để vượt qua khó khăn đó là thành lập một trường học có thể giảng dạy tốt cho con tôi và những người khác”. Trên thực tế, Global Entrepreneurship Monitor, một tổ chức khảo sát về hoạt động kinh doanh hàng năm trên toàn thế giới, ghi nhận hầu hết phụ nữ trở thành doanh nhân trong tình thế bắt buộc để kiếm sống.
Tiến đến năm 2030, vẫn chưa ngã ngũ về việc liệu các nữ doanh nhân có thiên hướng khác biệt trong cách hình dung, tổ chức và quản lý doanh nghiệp hay không, cũng như có phải mục tiêu họ nhắm đến là cân bằng công việcgia đình và lợi ích cộng đồng, thay vì tăng trưởng, lợi nhuận và danh tiếng? Thể hiện cho đặc trưng này, doanh nhân thủ công mỹ nghệ Rwanda Janet Kkubana tự hào về những lợi ích mà doanh nghiệp cô đã mang lại cho những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn. “Họ là những người sống sót, những góa phụ, những người có chồng bị tù đày. Thật là tự hào khi có thể sắp xếp cho họ ngồi bên nhau dệt vải và làm việc dưới một mái nhà”, cô nói. “Giờ đây họ cùng nhau kiếm được thu nhập. Thật tuyệt vời”. Tương tự, Annette Zamora, một doanh nhân xã hội Rapa Nui, chú trọng vào việc bảo tồn và truyền bá văn hóa cổ xưa của hòn đảo núi lửa hẻo lánh được người châu Âu gọi là Đảo Phục Sinh, cô chia sẻ: “Tôi không biết mình có thành công hay không. Dù mọi người đã công nhận nhưng bản thân tôi cũng không rõ thế nào là ‘thành công’”.