Điện thoại di động đã phổ biến nhưng đồng hồ còn phổ biến hơn: Trên thế giới nhiều người có đồng hồ hơn điện thoại di động. Lịch sử đồng hồ đeo tay hiện đại - gồm cả Rolex và Apple Watch - cho thấy làn sóng công nghệ liên tục thay đổi từ phương thức sản xuất thiết bị cho đến phương thức bán hàng và sử dụng. Người đi tiên phong trong lĩnh vực truyền thông không dây - Martin Cooper phát minh ra chiếc điện thoại di động đầu tiên khi làm việc cho Motorola những năm 1970, lấy cảm hứng từ chiếc đồng hồ đeo tay vô tuyến hai chiều của thám tử Dick Tracy trong truyện tranh cùng tên năm 1946. (Thật trùng hợp, trong tập “The Talking Cat” của chương trình radio Superman cũng có thiết bị tương tự vào năm này).
Trước khi cụm từ “Swiss made” (Sản xuất tại Thụy Sĩ) gắn liền với đồng hồ, thì nước Anh là quê hương của ngành công nghiệp đồng hồ cải tiến nhất. Đồng hồ cầm tay xuất hiện lần đầu vào thập niên 1400. Mãi đến những năm 1600 đồng hồ bỏ túi mới trở nên phổ biến. Có lẽ năm 1657 là thời điểm đột phá công nghệ lớn đầu tiên trong lĩnh vực sản xuất đồng hồ, khi Robert Hooke hoặc Christiaan Huygens nảy ra ý tưởng thêm một lò xo vào bánh xe cân bằng, giúp gia tăng độ chính xác đáng kể (một cải tiến mà ngày nay chúng ta sẽ không hề nhớ đến khi nói về độ chính xác của đồng hồ). Ai là người đưa ra ý tưởng này vẫn là vấn đề gây tranh cãi. Hooke là nhà triết học tự nhiên, kiến trúc sư, học giả người Anh. Huygens là nhà vật lý, toán học và thiên văn học người Hà Lan, người khám phá ra Titan, Mặt trăng lớn nhất của Sao Thổ. Ông là một trong những vĩ nhân của cuộc Cách mạng Khoa học vì đã phát minh ra chiếc đồng hồ quả lắc và được nhiều người cho là cha đẻ của vật lý toán học. (Vô tình, Titan Watches Limited, một công ty Ấn Độ hoạt động từ năm 1984 được đặt tên để tôn vinh Huygens, ngày nay là một trong những công ty đồng hồ lớn nhất thế giới).
Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi người Brazil cho rằng chuyên gia hàng không Alberto Santos-Dumont đã phát minh ra khái niệm đeo mặt đồng hồ hoặc đeo đồng hồ bỏ túi quanh cổ tay. Tuy nhiên, hầu hết lịch sử về công nghệ đồng hồ đeo tay đều ghi nhận công lao của người Thụy Sĩ, lúc đó quân đội của họ cần một phương tiện chiến thuật dùng cho địa hình đồi núi hiểm trở trên ngọn Alps.
Bất kể lịch sử nguồn gốc chiếc đồng hồ có thế nào thì người Anh, người Hà Lan hay người Brazil đều không thể thống trị ngành công nghiệp này, mà là người Thụy Sĩ. Đất nước này có nhiều thợ kim hoàn và thợ thủ công xuất sắc, một phần nhờ dòng di cư của những người Pháp theo đạo Tin lành bị đàn áp, rất nhiều người trong số họ giỏi việc chế tạo các thiết bị cơ khí tinh vi. Họ sản xuất đồng hồ đeo tay sang trọng theo từng lô hàng nhỏ và bán ra khắp châu Âu. Người Thụy Sĩ đã thành công đến mức ngay cả Rolex, ban đầu được thành lập ở London năm 1905, cũng phải chuyển cơ sở hoạt động sang Thụy Sĩ năm 1919 để tận dụng lực lượng lao động có tay nghề cao ở thung lũng Jura xinh đẹp, phía Bắc Geneva.
Rồi xảy đến cuộc cách mạng. Với nền tảng kỹ thuật phát triển trong Thế chiến thứ II, các công ty Mỹ đã nảy ra ý tưởng sản xuất đồng hồ hàng loạt. Chỉ cần dùng hợp kim thay cho kim loại quý và dùng pin làm nguồn điện thay cho lò xo. Công ty thống trị công nghệ này - và kiếm được rất nhiều tiền - là Timex. Làm thế nào để xem giờ? Nhu cầu hàng loạt ở Mỹ đã thay đổi thời đại. Ai cũng cần xem giờ ở mọi lúc mọi nơi, từ tủ lạnh, máy giặt đến ô tô hay đồng hồ. Giá cả được chú trọng hơn chất lượng và độ bền. Do đó, Rolex hết thời trong khi Timex vượt lên dẫn trước.
Làn sóng đổi mới công nghệ thứ hai diễn ra trong ngành vào thập niên 1960. Một kỹ sư người Thụy Sĩ đã phát minh ra cơ chế hoạt động mới với thiết kế đơn giản hơn vì thế có thể giảm chi phí sản xuất. Cơ chế này dựa trên thiết bị âm thoa, một cây kim loại có hai đầu dao động khi chạm vào. Tần số dao động sau đó được chuyển thành thước đo thời gian chính xác hơn rất nhiều so với cơ chế truyền thống với hệ thống bánh răng phức tạp. Khi đó một công ty khác của Mỹ, Bulova, đã tận dụng và thu lợi từ phát minh cải tiến này. Ngược lại, người Thụy Sĩ lại từ chối vì quá kiêu hãnh với những chiếc đồng hồ làm thủ công từng chiếc một như là một tác phẩm nghệ thuật.
Đợt đổi mới thứ ba diễn ra khi người Nhật quyết định nhảy vào cuộc chơi. Họ đưa ra một thiết kế đơn giản hơn nữa bằng công nghệ mới có sử dụng thạch anh. Một lần nữa, cũng lại là một kỹ sư Thụy Sĩ phát hiện ra nếu dòng điện chạy qua thạch anh thì tinh thể tự nhiên này sẽ dao động, và có thể dùng làm thước đo thời gian cực kỳ chuẩn xác. Đến thập niên 1970, những hãng như Seiko, Citizen và Casio đã vượt xa Timex và Bulova. Từ những năm 1970 đến cuối thập niên 1980, hầu hết đồng hồ thạch anh (quartz watch) được sản xuất tại Nhật Bản, chứ không phải ở Thụy Sĩ hay Mỹ.
Mãi cho đến cuối thập niên 1980, người Thụy Sĩ cuối cùng cũng có thể thích ứng với làn sóng chuyển đổi công nghệ không ngừng bằng cách cho ra đời chiếc đồng hồ Swatch, một sản phẩm không chỉ cho biết thời gian chính xác mà còn được sử dụng như một món thời trang hay đồ sưu tập. Họ thuê những người nổi tiếng quảng cáo để bán những chiếc đồng hồ này. Ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sĩ, vốn gần như mất hết mọi việc làm, đã phục hồi nhờ sự trỗi dậy của Swatch. Tự dưng, những chiếc đồng hồ Nhật Bản trông thật nhàm chán.
Rồi lại đến thời điện thoại di động. Nếu điều gì có thể làm giảm nhu cầu sử dụng đồng hồ, thì đó chính là một thiết bị di động vừa cho biết thời gian lại vừa có thể thực hiện cuộc gọi. Đột nhiên, đồng hồ trở thành một thứ xa xỉ, chủ yếu dùng cho những dịp xã giao hay đơn giản là để mua vui. Và từ đó các công ty công nghệ như Apple, Samsung và Xiaomi vốn sản xuất điện thoại thông minh, giờ đang cố gắng bán cho chúng ta những chiếc đồng hồ thông minh.
Bài học lịch sử quan trọng rút ra từ câu chuyện này là khi một công nghệ mới thay thế cho cái cũ, nhiều công ăn việc làm được tạo ra bên cạnh một số công việc khác bị mất đi, các quốc gia sản xuất đồng hồ phát triển rồi suy yếu, và xuất hiện các phương thức tiêu dùng mới. Đồng hồ chỉ là một trong số rất nhiều ví dụ. Tủ lạnh thay thế nước đá, điện thoại ưu việt hơn điện báo, đèn sợi đốt thay thế đèn gas, đèn bán dẫn đã loại bỏ đèn ống chân không, động cơ phản lực vượt xa động cơ quạt, đĩa CD đã biến đĩa than thành vật sưu tầm, bộ xử lý văn bản khiến máy đánh chữ lỗi thời, ảnh kỹ thuật số thay thế nhiếp ảnh phim, cũng như trò chơi điện tử có vẻ thú vị hơn đồ chơi truyền thống. Chúng tôi sử dụng thuật ngữ “cải tiến đột biến” để chỉ những chuyển hóa mạnh mẽ như vậy, và đồng hồ đeo tay là một ví dụ minh họa cho quy luật phổ biến này.