Mỗi một làn sóng biến đổi công nghệ - đã diễn ra và sẽ tiếp tục, như trường hợp của đồng hồ - sẽ kéo theo hậu quả từ quá trình phá vỡ sáng tạo: cuộc sống bị xáo trộn, sự nghiệp đi chệch hướng, cộng đồng thì tan vỡ.
Lĩnh vực trí thông minh nhân tạo (AI) là mảnh đất màu mỡ với nhiều hậu quả tiềm ẩn. Có nhiều luồng ý kiến trái chiều về tình trạng hiện tại và xu thế sắp tới. Quay trở lại năm 1992, tờ Economist viết bài “Trí ngu si nhân tạo”, cho rằng “chẳng có lý do gì phải tạo ra máy móc thông minh y hệt như trí tuệ con người” vì “lực lượng con người rất dồi dào”. Họ cũng nhấn mạnh rằng “nếu có thiếu thì đã có nhiều phương pháp hiệu quả phổ biến để nhân lên nhiều hơn”. (Đó là giả sử ai cũng muốn có con, điều mà giờ đây chúng ta biết chỉ là mơ tưởng của những năm 1990). Tương tự, Elon Musk gần đây đăng trên Twitter rằng “quy mô tự động hóa quá lớn ở Tesla là một sai lầm”, và “con người đã bị đánh giá thấp”. Họa sĩ Pablo Picasso từng nhận xét “máy tính thật vô dụng - chúng chỉ biết trả lời mà thôi”.
Trên thực tế, AI mở ra rất nhiều cơ hội mới và đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kết cục của thế giới hiện nay. Các ứng dụng AI lấn sân vào những lĩnh vực trước đây từng cần trí óc con người để xử lý, chẳng hạn như nhận dạng giọng nói, nhận thức thị giác hay đưa ra quyết định. Công nghệ này được sử dụng cho ô tô, xe tải tự lái, các cơ sở hạ tầng thân thiện với người dùng, cũng như các hệ thống y tế và sinh hoạt thông minh. Trong quãng thời gian một đời người, AI đã tiến bộ nhanh chóng. Năm 1997, máy tính Deep Blue của IBM đánh bại nhà vô địch cờ vua Gary Kasparov. Một năm sau, Tiger Electronics phát triển món đồ chơi robot với công nghệ nhận dạng giọng nói. Năm 2000, Honda ra mắt ASIMO, một robot hình người đóng vai trò như một trợ lý cá nhân đa chức năng. Năm 2011, Apple tích hợp trợ lý ảo Siri vào điện thoại thông minh. Từ quảng cáo hướng mục tiêu cho đến gắn thẻ ảnh trên truyền thông xã hội, ở đâu cũng có AI. Hệ thống an ninh Trung Quốc đang sử dụng công nghệ AI hỗ trợ nhận dạng khuôn mặt để giám sát người dân nông thôn trong sinh hoạt hàng ngày. Mục tiêu của chương trình có tên Sharp Eyes này là để tính điểm cho mỗi công dân dựa trên hành vi thực tế - khiến chúng ta nhớ đến nhân vật Big Brother[1] (Đại ca) trong cuốn tiểu thuyết 1984 của tác giả George Orwell.
Một số người có tầm nhìn xa dự đoán thế giới sẽ kết thúc, theo nghĩa đen, khi trật tự đơn cực (“singularity”) bắt đầu - tức là khi AI đủ tinh vi và thông minh để tiếp quản mọi thứ và biến con người chúng ta nói chung thành vô dụng. Đó là tương lai mà máy móc sẽ lập trình và điều khiển các máy móc khác. Năm 1965, nhà khoa học Irving Good đã nhận định rằng AI sẽ là “phát minh cuối cùng mà con người cần tạo ra”. Đồng nghiệp của ông, Alan Turing, người giải được mật mã Enigma của Đức trong Thế chiến thứ II và cũng là người đi tiên phong trong lĩnh vực máy tính, đã tuyên bố vào năm 1951 rằng AI sẽ “vượt xa năng lực yếu ớt của chúng ta” và “nắm quyền kiểm soát”. Nhà vật lý lý thuyết Stephen Hawking cũng tán đồng bằng câu nói “có thể đã đến hồi cáo chung của loài người”.
Ngoài câu chuyện tận thế, chúng ta không thể phủ nhận vai trò chuyển hóa mang tính thời đại của AI. Ngay vào lúc này có hàng trăm nghìn lập trình viên đang nỗ lực xây dựng sức mạnh cho chương trình học máy thông minh và các ứng dụng kèm theo.
■
Lúc này, hãy trở lại với các tài xế xe đầu kéo đang nghỉ giải lao ở một trạm dừng nào đó của nước Mỹ. Công việc của họ đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế: Vận chuyển hàng hóa đi khắp đất nước. Họ làm việc nhiều giờ với mức lương thấp, đặc biệt đối với những trường hợp lao động tự do. Với công việc vận tải đường dài, thật khó có thể ổn định chỗ ở. Những người lái xe tải đã xây dựng hiệp hội nghề lớn nhất ở 29 trong số 50 tiểu bang của Liên đoàn. Các trường hợp ngoại lệ chủ yếu là ở New England, Trung Đại Tây Dương, California và Texas, vì chủ yếu các nhà phát triển phần mềm, giáo viên tiểu học, nông dân, thư ký, trợ lý điều dưỡng, nhân viên bán lẻ, nhân viên phục vụ khách hàng hoặc luật sư là chiếm số đông. Theo một nghiên cứu được chính quyền Nhà Trắng Obama chỉ đạo, từ 1,5 đến 2,2 triệu tài xế xe tải hạng nhẹ và hạng nặng có nguy cơ mất việc do công nghệ xe tự lái, tương đương từ 60 đến 90% tổng số tài xế được tuyển dụng năm 2015. Nếu tính cả tài xế xe buýt, taxi, tài xế xe riêng và tài xế lao động tự do, thì tổng số người có thể mất việc do công nghệ này sẽ lên tới 3 triệu.
Các thí nghiệm hiện nay về xe tự hành cho thấy một tương lai khả quan hơn so với con người cẩu thả và không đáng tin. Chúng ta có thể bị phân tâm, buồn chán hay mệt mỏi. Trong khi máy tính có thể tối ưu hóa một chuyến đi phức tạp và thích ứng với mọi điều kiện đường xá giao thông, đồng thời tiết kiệm nhiên liệu. Quan trọng nhất là các máy tính có thể liên kết với nhau. Chúng ta giao tiếp với nhau trên đường bằng các phương tiện thô sơ như đèn, còi, tín hiệu tay. Nhưng một chiếc ô tô tự lái, cùng với những chiếc ô tô khác trong hệ thống, có thể xử lý luồng giao thông chung (và giảm thiểu tai nạn) một cách đồng bộ.
Và không chỉ dừng lại ở đó. Trong sản xuất, một con robot có thể thay thế trung bình từ năm đến sáu công nhân. Năm 1983, nước Mỹ có 28 triệu người làm các công việc tay chân lặp đi lặp lại. Đến năm 2015, con số đó chỉ tăng lên đến 30 triệu người. Trong lúc này, 300.000 robot được lắp đặt và thực hiện công việc của gần 2 triệu công nhân. Công nghệ chính là một phần nguyên nhân gây ra sự tụt hậu của tầng lớp trung lưu Mỹ bao gồm công nhân lao động tay chân, nhân viên văn phòng và lao động trí thức mà chúng ta đã thảo luận ở Chương 3. Và hiện nay, với 35.000 robot được lắp đặt mỗi năm thì tác động sẽ còn tăng nhanh hơn trong thập niên tới. Đến năm 2030, lĩnh vực sản xuất sẽ sử dụng nhiều lập trình viên và giám sát viên hơn là công nhân lao động.
Bên cạnh đó, số lượng công việc sử dụng trí óc thường xuyên tăng từ 28 lên 33 triệu, chủ yếu là nhân viên văn phòng và cửa hàng. Các công việc tay chân không liên tục như thợ cơ khí lành nghề tăng từ 14 lên 27 triệu, và những nghề sử dụng trí óc không liên tục như giáo viên, nhà thiết kế, lập trình viên và nhân viên y tế tăng từ 28 lên một số lớn là 57 triệu. Ít nhất là trong hiện tại, có vẻ như vẫn còn một số công việc mà sức mạnh phá hủy sáng tạo của công nghệ vẫn chưa với tới.
Nhưng không bao lâu nữa các công việc sử dụng trí óc thường xuyên như công việc văn phòng và hành chính sẽ bị AI ảnh hưởng với quy mô lớn. Các bác sĩ phẫu thuật theo quy trình thông thường, các luật sư trẻ xử lý vụ án pháp lý hay các giáo viên giảng dạy chương trình nhập môn có nguy cơ bị thay thế bởi máy tính thông minh. Bước tiếp theo, và có lẽ là cuối cùng, sẽ là loại bỏ những công việc không thường xuyên, nhất là nếu thời điểm “singularity” thực sự xảy ra.
Công việc của bác sĩ phẫu thuật là một trong những công việc phức tạp và tinh vi nhất trên thế giới, đòi hỏi gần 10 năm học tập và đào tạo liên tục. Năm 2016, Viện Kỹ sư Điện và Điện tử đưa ra báo cáo: “Với bước đột phá trong công nghệ phẫu thuật, robot có thể khâu ruột non của một con lợn bằng sự quan sát, công cụ và trí thông minh của chính nó”. Không những thế, “Robot thông minh tự phẫu thuật tế bào (STAR) có thể thực hiện công việc phẫu thuật tốt hơn cả các bác sĩ”. Vết khâu của các bác sĩ phẫu thuật ít bền và dễ bị rò rỉ hơn so với mũi khâu của robot. Theo lời Peter Kim, bác sĩ phẫu thuật nhi khoa tham gia nghiên cứu, “Mặc dù chúng tôi, các bác sĩ phẫu thuật rất tự hào về kỹ năng mổ xẻ của mình, nhưng có một chiếc máy hỗ trợ cải thiện hiệu quả và mức độ an toàn sẽ là một lợi ích lớn”. Ông cho rằng trước tiên robot sẽ chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho các bác sĩ phẫu thuật, giống như trong trường hợp ô tô tự lái sẽ là “hỗ trợ đỗ xe, tiếp đến là cảnh báo người lái không đi sai làn đường”. Theo đó, người máy không nhất thiết sẽ thay thế người lao động, mà là giúp họ làm tốt hơn công việc của mình.
Một tính năng thú vị khác của robot là chúng không phán xét - ít nhất là chưa. “Chúng ta dành rất nhiều thời gian nói chuyện với Alexa và Siri”, nhà báo Laura Sydell nói. “Thử tưởng tượng nếu những nhân cách nhân tạo đó được đặt bên trong một con robot dễ thương, đáng yêu”. Alexander Reben, nhà nghiên cứu Trường Đại học MIT, đã chế tạo một robot từ bìa cứng có tên là Boxie. Ngày nọ, ông thấy một người đàn ông đang kể lể với Boxie về những rắc rối của mình. Anh ta “nói chuyện với nó như nói với một con người”. Reben quyết định hợp tác với nghệ sĩ - nhà làm phim Brent Hoff để thiết kế một robot dễ thương nhằm khuyến khích mọi người cởi mở hơn. “Nó có nụ cười hoàn hảo”, Hoff nói. “Nó cởi mở và quan tâm, thể hiện tinh thần khách quan không phán xét và thân thiện nhất có thể”. Và kết quả ban đầu cho thấy máy hoạt động hiệu quả. Bà Sherry Turkle, chuyên gia MIT về tương tác giữa người và máy, nói rằng con người rất dễ cởi mở với robot: “Chúng ta thuộc dạng dễ dãi”.
❀ ❀ ❀
[1] Big Brother là nhân vật hư cấu trong xã hội mọi công dân đều bị chính quyền giám sát liên tục, chủ yếu bằng màn hình telescreens.