Đến năm 2040, thế hệ Millennials thời kỳ đầu sẽ đến tuổi nghỉ hưu. Lúc đầu người ta gọi Millennials là Thế hệ Y, với định nghĩa là lứa tuổi sinh ra từ năm 1980 đến 2000, bên cạnh ý kiến về một giới hạn hẹp hơn là từ đầu thập niên 1980 đến cuối thập niên 1990. Thực chất giới hạn này không chỉ dựa vào độ tuổi, mà ý nghĩa cao hơn nằm ở thời điểm họ sinh ra khi công nghệ thông tin và truyền thông có bước đại nhảy vọt và biến đổi toàn bộ thế giới. Tuy nhiên, không phải tất cả các Millennials đều là “dân kỹ thuật số” vì chỉ có nửa sau thế hệ này được sinh ra trong thời đại mạng lưới kỹ thuật số như chúng ta biết ngày nay. Có lẽ nên nói là thế hệ Millennials lớn lên, chứ không phải sinh ra, trong thời đại kỹ thuật số.
Hầu như chẳng có Millennials nào mua đĩa CD, chứ đừng nói đến băng cassette, ảnh giấy, họ chẳng bao giờ dùng bút xóa để sửa lỗi đánh máy, hỏi đường, xem truyền hình, gửi fax, hay sử dụng điện thoại bàn. Họ khó có thể hình dung cuộc sống trước khi có 4G, chứ đừng nói 1G. Trong những điều kiện như vậy, tình bạn thời thơ ấu không có giới hạn địa lý, và các mối quan hệ thân mật chuyển hóa lên nấc thang mới với sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông xã hội và ứng dụng hẹn hò. Thế giới từ năm 2030 trở đi sẽ chịu ảnh hưởng phần nào từ thái độ và hành vi của thế hệ Millennials, vì thế chúng ta cần hiểu rõ thế hệ nòng cốt này để có thể nhìn thấy con đường phát triển của thế giới trong thập niên tới.
Một số phân tích ban đầu về thế hệ Millennials khuấy động nhiều tranh cãi. Như trong cuốn sách năm 2006 của tác giả Jean Twenge, Generation Me: Why Today's Young Americans Are More Confident, Asseertive, Entitled - and More Miserable than Ever Before (Tạm dịch: Thế hệ Tôi: Tại sao ngày nay người Mỹ trẻ tự tin, quyết đoán, tự do hơn - nhưng cũng đau khổ hơn bao giờ hết), đưa ra luận điểm cho rằng Millennials là thế hệ có thái độ tự ái cao nhất, và nguyên nhân là do chính các ông bố bà mẹ. “Chúng ta đang gây ra điều bất lợi lớn cho bọn trẻ khi khiến chúng tưởng mình cũng đặc biệt với thế giới như với chúng ta (cha mẹ chúng)”, cô viết. “Hành trang tốt nhất cho chúng không phải là lòng tự ái hay tự tôn quá đáng, mà là tình yêu và sự hỗ trợ của chúng ta - cùng với thông điệp rằng để thành công chúng cần cố gắng chăm chỉ và chịu khó làm việc, tự tin không chưa đủ”. Các nhà phê bình khác nhấn mạnh một số đặc điểm khác biệt của thế hệ này, như mong ước đóng góp cho xã hội, theo đuổi những trải nghiệm mới lạ, hoặc ưu tiên chọn công việc theo đam mê hơn là vì tiền. Trong một nghiên cứu năm 2016, thế hệ Millennials có điểm cao hơn thế hệ bố mẹ trong bài test về nhân cách ái kỷ (Narcissistic Personality Inventory), nhưng so sánh như vậy thật không hợp lý, nhất là khi chúng ta biết rằng thái độ sống của con người sẽ thay đổi theo tuổi tác.
Tuy nhiên, hai nhà nhân khẩu học kiêm sử gia William Strauss và Neil Howe - chuyên cố vấn cho các công ty, chính phủ, và trường đại học sau khi chấp bút viết bài phân tích đầu tiên về Millennials - lại cho rằng thế hệ này có vẻ cũng quan tâm đến người khác như Thế hệ Im lặng. Họ đưa ra đặc trưng của thế hệ Millennials Mỹ là được bao bọc, tự tin, thích làm việc nhóm, rập khuôn, áp lực, và chú trọng đến thành quả. Một số khác, như David Burstein, nghĩ rằng Millennials chịu sự chi phối của “chủ nghĩa thực dụng”, do đó áp dụng các công cụ thực tế để làm thế giới tốt hơn, mà không cần phải viện đến các giải pháp cấp tiến hay những cuộc cách mạng để thay đổi xã hội. Điều đó có lẽ giải thích tại sao phong trào Occupy Wall Street[1] chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn với quy mô tương đối nhỏ.
Những đặc điểm này của thế hệ Millennials - dù là khen hay chê - vẫn mang tính phiến diện vì chúng chỉ đúng với nhóm “thiếu niên [và thanh niên] da trắng, giàu có, sống trong những điều tuyệt vời vì lớn lên ở các vùng ven đô”[2], theo nhà báo Eric Hoover. Đó là những thanh niên “phải lo nộp đơn vào các trường đại học siêu khó, và phải làm nhiều thứ một lúc vì bố mẹ luôn kiểm soát gắt gao”. Thế hệ Millennials với nền tảng kinh tế xã hội ít may mắn hơn chắc chắn có thái độ và hành vi rất khác. Nhìn chung, “Millennials Mỹ là thế hệ đầu tiên chỉ có 50-50 cơ hội trở nên giàu có hơn bố mẹ”, theo quan sát của cây bút Jia Tolentino trên tờ The New Yorker. Hạnh phúc tương lai của họ không được đảm bảo trong một nền kinh tế toàn cầu ngày càng cạnh tranh. Việc tâng bốc bản ngã thế hệ này, như nhiều nhà tiếp thị đã làm, thực chất gây ảnh hưởng tiêu cực hơn đến triển vọng kinh tế của họ.
Theo các con số thống kê tổng hợp từ Hội đồng Cố vấn Kinh tế Nhà Trắng thời Tổng thống Obama, nhìn chung thế hệ Millennials Mỹ ngày càng ít quan tâm đến việc mua nhà hay mua xe, vẫn sống chung với bố mẹ đến khi 20 tuổi, hoặc thậm chí một số trường hợp đến 30 tuổi, và cũng không thèm lập gia đình. ¼ trong số họ thậm chí không quan tâm đến việc lấy bằng lái xe. Chúng ta sẽ đi sâu vào các quy luật hành vi đáng ngạc nhiên này trong Chương 7.
Nhận định cho rằng thế hệ Millennials Mỹ thích nhảy việc là hoàn toàn không chính xác. Thực tế, Millennials có xu hướng làm ở một chỗ lâu hơn so với Thế hệ X, dù họ thích những công việc có ý nghĩa hơn là theo đuổi con đường danh vọng. Một số nghiên cứu giải thích rằng sở thích làm việc nhóm của thế hệ này xuất phát từ việc sử dụng nhiều phương tiện truyền thông xã hội, khiến họ thích tương tác nhiều hơn với cấp trên và có nhu cầu cân bằng lành mạnh giữa công việc và vui chơi.
Xu hướng chọn việc của thế hệ Millennials chịu ảnh hưởng từ tình hình thị trường lao động trong thời kỳ khủng hoảng tài chính năm 2008 và cuộc suy thoái sau đó (mặc dù mức độ tác động khác nhau trên toàn thế giới nhưng ở hầu hết các thị trường mới nổi, đây là một thời kỳ kinh tế tăng trưởng ổn định). Do đó, tồn tại hai thực tế trong nhóm dân số Millennials toàn cầu: Thứ nhất là của những Millennials lớn lên ở các nước giàu và thu nhập của tầng lớp trung lưu dậm chân tại chỗ trong hai đến ba mươi năm; và thứ hai là của những người lớn lên tại các nước mới nổi và đang phát triển, có nhiều cơ hội kinh tế hơn so với thời của cha mẹ ông bà. Ngay cả trong thế hệ Millennials châu Âu và Mỹ cũng phân chia nhóm sinh ra trong các gia đình giàu có và nhóm sinh ra từ gia đình có thu nhập thấp hoặc có bố mẹ thuộc tầng lớp trung lưu nhưng bị mất việc do quá trình toàn cầu hóa và tiến bộ kỹ thuật. Vì vậy, các công ty và doanh nhân nên cân nhắc cẩn thận khi đưa ra bất kỳ đặc điểm khái quát nào về hành vi của người tiêu dùng Millennials cũng như tác động của họ đến tương lai.
Tương tự, chúng ta cũng phải suy xét lại những kết luận về quan điểm của thế hệ này. Tổ chức Khảo sát Giá trị Thế giới, nguồn đáng tin cậy nhất về giá trị văn hóa quốc tế, nhận thấy thế hệ Millennials cổ xúy cho các giá trị đề cao bản thân hơn so với hầu hết các thế hệ khác trên thế giới nói chung và trong mỗi khu vực nói riêng. Sự khác biệt này là do họ có cuộc sống vật chất tốt hơn, kỹ năng trí tuệ cao hơn, và kết nối xã hội rộng hơn so với ông bà tổ tiên. Từ đó dẫn đến hành vi độc lập hơn, nhiều sự lựa chọn hơn, cũng như có điều kiện để bộc lộ tiềm năng bên trong hơn. (Như với các cuộc khảo sát khác được đề cập trong cuốn sách này, cơ sở “trung bình” chắc chắn không thể hiện được thực tế có nhiều chênh lệch lớn, nhất là trong trường hợp giữa các Millennials giàu có và những người có nguồn gốc gia đình khiêm tốn hơn).
Tất nhiên giá trị có vai trò rất quan trọng, nhất là trong các quyết định về kinh tế. Tuy nhiên đa số các hành vi kinh tế của Millennials bị chi phối bởi yếu tố giá nhà gia tăng và trình độ giáo dục cao hơn. Trong khi phần lớn tài sản - và thu nhập từ đó - đều thuộc về ông bà, cha mẹ họ. Nhà xã hội học Kathleen Shaputis cho rằng những vấn đề kinh tế này đã khiến các Millennials né tránh những chuyện “cha truyền con nối” như kết hôn và có con. Trong cuốn The Crowded Nest Syndrome (Tạm dịch: Hội chứng gia đình đa hệ) của mình, bà đề cập đến thế hệ “Peter Pan” hay “Boomerang” để mô tả một giai đoạn đặc biệt giữa thiếu niên và trưởng thành, mà bà gọi là “những đứa trẻ không chịu lớn”.
Với những điều kiện đó thì không có gì ngạc nhiên khi tỷ lệ tiết kiệm cộng gộp của thế hệ Millennials là một trong những con số thấp nhất trong thời gian gần đây. Để dự đoán cho tương lai thì không có cách nào tốt hơn là đánh giá số tiền tiết kiệm của ngày hôm nay. Năm 2014, công ty Moody’s Analytics gióng hồi chuông báo động khi công bố người Mỹ dưới 35 tuổi có tỷ lệ tiết kiệm âm, -1,8%, có nghĩa là họ phải vay mượn để sống, chứ không tiết kiệm được cho tương lai. Tất nhiên, khi tác động của thời kỳ Đại suy thoái ngày càng giảm thì mọi thứ sẽ được cải thiện. Theo khảo sát năm 2018 của Ngân hàng Mỹ, ⅙ Millennials Mỹ lứa tuổi từ 23 đến 37 tiết kiệm được hơn 100.000 USD. Thật là ấn tượng. Nhưng các cuộc điều tra khác lại cho thấy chỉ có 13% những người tuổi từ 18 đến 24 tiết kiệm được hơn 10.000 USD, và tỷ lệ này tăng thành 20% đối với những người trong độ tuổi từ 25 đến và 34. 75% Millennials tin rằng thế hệ mình chi tiêu nhiều hơn so với các thế hệ khác, và 20% nói rằng họ không thể mua nhà. Với thẻ tín dụng và mức nợ sinh viên cao nhất trong lịch sử, cũng dễ hiểu khi phần lớn các Millennials trẻ không thể có tiền tiết kiệm. Người Mỹ dưới độ tuổi 35 trong năm 2017 phải gánh món nợ giáo dục ở mức gần như gấp đôi mức của cùng nhóm tuổi trong năm 2001. Trong cùng khung thời gian này, giá trị tài sản ròng trung bình của người Mỹ trẻ sụt giảm từ 15.000 USD xuống còn 10.400 USD.
Nhưng hãy cẩn thận với các con số thống kê cộng gộp. Đừng quên rằng dân số Millennials trên thế giới nói chung, và trong các quốc gia cụ thể như Mỹ, đều không đồng nhất. Các công ty muốn thu hút đối tượng khách hàng Millennials cần nhìn nhận thực tế này để không giả định tất cả Millennials đều giống nhau. Thế giới năm 2030 sẽ được định hình không phải bởi một thế hệ đồng nhất mà bởi mối tương quan giữa các phân nhóm thế hệ Millennials khác nhau về trình độ giáo dục, thu nhập, và sắc tộc.
❀ ❀ ❀
[1] Phong trào đấu tranh nổ ra ở Wall Street, New York, vào tháng 9/2011, nhằm phản đối sự bất công về kinh tế và xã hội Mỹ.
[2] Ở Mỹ, người giàu không sống trong khu vực nội đô chật chội.