Sáng ra, Just thức dậy đầu tiên, đầu nặng chịch, lưng đau như dần do phải nằm trên sân mấp mô. Trong hốc vẫn tối mò nhưng vài tia sáng hẹp đã rắc hoa lên vách gỗ. Miệng đắng ngắt, cổ khát khô, Just nhìn Colombe vẫn đang ngủ; khi trông ra mấy đứa cũng cảnh nằm phía trong, cậu mới mang máng nhớ lại câu chuyện tối qua.
Cả đêm trước đọng lại trong trí cậu là một loạt mơ hồ những lăn lóc, đụng độ, những tiếng còi huýt. Cơn say sóng đã làm đầu óc cậu hoàn toàn mê muội. Cậu có cảm giác mơ mơ màng màng đã nghe thấy tiếng la hét, chạy trốn và đuổi bắt, cả tiếng súng nữa. Nhưng thứ tự xẩy ra thế nào thì chịu. Lúc này, con tàu có vẻ đứng yên một chỗ, như người đã kiệt sức. Just thận trọng ló đầu ra ngoài: sàn tàu thật là hỗn độn. Những chiếc võng rách tung treo lủng lẳng, nhiều hòm lương thực rơi lỏng chỏng, những chiếc hũ sành vỡ tan, các thứ đựng bên trong chẩy lênh láng, ruồi nhặng bâu đầy. Mặt trời phủ lên boong một thứ ánh sáng nhợt nhạt, góp phần ảm đạm cho quang cảnh. Đáng sợ nhất là chung quanh im lặng không một tiếng động. Just lại chui vào trong, khẽ đánh thức Colombe. Phía trong, ba tên đồng hành cũng bắt đầu động đậy.
- Khát! – Colombe rền rĩ.
Just xốc Colombe ra khỏi hốc, dìu cô đi giữa đống ngổn ngang.
- Ta lên trên xem sao. Anh không hiểu đã xẩy ra chuyện gì.
Colombe bước đi, hai tay ôm đầu. Just phải đỡ em gái lên thang. Khoang boong giữa cũng lộn xộn và vắng người như dưới hầm, nếu không kể hai thủy thủ nằm vật dưới đất cạnh một khẩu pháo và đang rên rỉ. Lúc này, trời đã sáng sủa hơn và Colombe thấy tỉnh táo hẳn lại.
Lên hết cầu thang cuối cùng, Just phải lấy tay che mắt. Trên cao là một màu xám đơn điệu nhưng sáng rực, như thể mặt trời, trốn sau lớp mây mỏng, cùng lúc đã trải ra rộng khắp. Nhìn ra, cậu thấy tàu Rosesee đang neo trong một cái vịnh có đồi thấp vây quanh. Hai tàu kia cũng thả neo gần đấy.
Colombe giật tay Just, kêu:
- Nhìn kia, chúng mình đến nơi rồi.
Phía sau, họ nghe thấy tiếng mấy đứa còn lại cũng đã bước lên, và Colombe định báo tin vui cho họ, thì Just đã kéo tay và chỉ:
- Tất cả họ làm gì ở đằng kia?
Colombe quay đầu lại và thấy một quang cảnh bất thưởng. Tất cả những hành khách dân sự của tàu Rosée đều bị dồn hết về boong mũi, vây quanh là một hãng lính canh lăm lăm gươm đao. Hai khẩu súng hỏa mai, nòng gác trên giá ba chạc, nhằm về phía nhóm người ấy. Vài thủy thủ đi lại tự do chăm chú làm công việc của mình. Hai trong số họ cặm cụi lau rửa sàn gần cột buồm cái và vun một đám thủy tinh vỡ và gỗ vụ vào một cái xô to. Đây đó còn vương vãi những vũng lầy nhầy màu đỏ trông như máu.
Bỗng một bàn tay vạm vỡ tóm lấy gáy hai anh em, và có tiếng nói to:
- Ồ, còn sót bọn thông dịch này!
Đưa chúng lại đây! – thuyền trưởng Imbert đang đứng giữa hàng quân đối diện những người bị bắt, gọi với.
Hai anh em được điệu tới gần đám đông.
- Chúng có năm đứa kia mà! Còn những đứa kia đâu, hả lũ quỷ con? – Imbert hỏi.
Với cái cằm hai ngấn, đôi môi đầy đặn, trông ông thuyền trưởng có vẻ nghiêm khắc, nhưng không độc ác. Đúng là ông không độc ác thật, hơn nữa, vốn là một người hiểu rõ sự tàn bạo khôn lường của biển cả, ông không coi những tính xấu thông thường là quan trọng và không để bụng thù ghét ai.
Khi đi ngang qua ông thuyền trưởng, Colombe đã có đủ can đảm để quỳ sụp xuống chân ông:
- Thưa ngài, cầu xin ngài cho con nước uống. Con khát.
Imbert quay sang hỏi thuộc hạ:
- Chúng chưa được ăn uống gì sao?
Một thủy thủ – hẳn là phụ trách việc này – lúng túng đáp:
- Dạ, tại cơn bão…
- Thế thì cho chúng ăn uống mau. Ta cần chúng để sử dụng vào việc mới. A, những đứa kia đây rồi.
Hai cái bóng thiểu não, phải có một thủy thủ dìu, lết tới, theo sau là cái bóng thứ ba, thất thểu không kém. Đang uống cho hả cơn khát, Just cũng phải ngừng tay để tò mò nhìn mặt những đứa đã dám xúc phạm cha mình. Vì được ra thở khí trời và uống nước mát, cậu đã nhớ lại hết. Hai đứa bé hơn, đầu to và tứ chi gày guộc, rõ ràng là con nhà nghèo khổ, chuyên sống lang thang ngoài hè phố. Nhưng thằng lớn thì tinh ranh hơn, và chắc nó cũng không quên chuyện cũ. Hắn cao hơn Just, mặc chiếc cáo chẽn bẩn, quần cộc đến lưng chừng đầu gối. Hồi đêm, Just và Colombe đã thoáng nhìn thấy hắn có bộ mặt gân guốc và cái mũi bẹt. Nay giữa ban ngày, trông hắn chẳng còn gì đáng sợ nữa, và nếu không vì lời nói xấc láo đêm hôm trước, thì Just đã sẵn lòng tỏ sự thông cảm với một kẻ không may bị đời hắt hủi, dồn vào nghèo khó và bạo lực.
- Cho cả những đứa này uống nước nữa – thuyền trưởng ra lệnh.
Ông tỏ vẻ bằng lòng, nhìn những đứa trẻ và cười:
- Rất hợp với những gì ta cần.
Có tiếng đại bác nổ xa xa, được đồi núi quanh bờ dội lại, chấm dứt luôn cơn động lòng thương cảm của ông thuyền trưởng. Tiếng súng phát ra từ con tàu đầu đàn, bên trên còn vương lại một cụm khói.
- Hiệu lệnh rồi! – Thuyền trưởng Imbert hối hả – Nào, ăn nốt miếng bánh, rồi ra kia cùng với mọi người. Mau lên.
Ông lùi lại mấy bước rồi bước lên một cái hòm cao để nói chuyện với đám người có lính gác vây quanh. Colombe bị ép sát cùng với Just giữa đám người râu ria xồm xoàm và hôi hám. Colombe thì thầm vào tai anh:
- Chúng mình đang ở đâu đây?
Just nhún vai, ra ý không biết. Một người thấp nhỏ đứng sát cạnh, chép miệng nói nhỏ song vẫn đủ để hai anh em nghe thấy:
- Tội nghiệp lũ trẻ! Chúng không biết mình đi đâu nữa…
Cùng lúc ấy, tiếng nói oang oang, cố làm ra vẻ dọa nạt, của thuyền trưởng vang lên:
- Tất cả hãy nghe đây!
Người thấp bé đứng cạnh lại thì thầm:
- Bờ biển mà ta thấy kia là nước Anh. Đêm qua, bão đã làm tàu dạt vào đây…
Tiếng thuyền trưởng:
- Tàu sắp chạy, ta hy vọng lần này sẽ đi một mạch.
- Nơi chúng ta đến, có còn xa nữa không? – Just hỏi, giọng hơi thất vọng vì chưa được đến đích của mình.
- Lũ trẻ tội nghiệp… Người ta không nói gì với chúng, thật đáng xẩu hổ – người thấp bé lẩm bẩm, vẻ mặt hết sức rầu rĩ, nếu có thể nói vậy đối với một khuôn mặt bình thường đã hết sức rầu rĩ.
Thuyền trưởng Imbert chống nạnh hai tay lên thắt lưng, tiếp tục diễn thuyết:
- Nhưng dù thế nào đi nữa, các người cũng đừng tưởng, những đứa đã bỏ trốn là may mắn hơn các người. Đừng có mà tưởng nhầm những đứa chạy đi là khôn. Chúng chuồn là việc của chúng. Nhưng chúng sẽ không đi xa. Chính tay ta đã bắn hạ bốn đứa.
Có lẽ nói bốn chưa đủ sức đe dọa, Imbert vội chữa:
- Không, sáu đứa. Phải không, anh em? Tay ta bắn gục sáu, chưa kể những đứa bị người của ta bắn chết. Lại còn những đứa chết đuối, những đứa chắc chắn sẽ bị cảnh sát Anh săn bắt trên bờ… các người đã thấy chưa?
Người thấp bé đứng cạnh Just lại bình luận, giọng bi quan:
- Lũ khốn khổ ấy sợ bão quá đến nỗi, thà nhẩy xuống biển còn hơn là đi tiếp.
Thuyền trưởng Imbert tiếp tục:
- Vậy thì các người còn đây, không có gì phải tiếc nuối. Để xảy ra chuyện vừa rồi nữa, là các người đừng trách! May quá, nếu còn gặp một cơn bão như thế này nữa thì ta cũng lấy làm lạ đấy. Đã lâu lắm rồi, ta không thấy trận nào lớn đến thế.
- Các cháu ơi, chúng ta chưa đến nơi. Mà đúng ra là chưa bắt đầu đi. Còn phải hàng tuần, hàng tháng nữa, ấy là nói thực rồi có đến nơi đến chốn hay không.
Người thấp bé nói xong câu đó thì ứa nước mắt. Just và Colombe, cảm động vì quang cảnh trước mắt, bỗng cảm thấy mạnh mẽ hơn con người khốn khổ đang thương xót chúng. Hay tin cuộc hành trình này còn lâu mới kết thúc, hai anh em không cảm thấy lo lắng quá như người bạn đồng hành nhỏ bé kia.
- Bây giờ ta cần chọn một số trong các người để thay thế những tên đã bỏ trốn. Mà trong khi bọn khốn kiếp ấy chỉ lo cho bản thân mình thì các thủy thủ phải liều mình chống chọi với gió bão. Và tám người đã bị sóng cuốn mất tích dưới biển.
Nói đến đây, mặt Imbert như rưng rưng nước mắt. Song ông nói tiếp ngay:
- Vậy cần người thay thế. Bắt đầu bằng bọn trẻ, hãy tập sự làm thủy thủ.
Ông đưa mắt nhìn khắp cử tọa, rồi dừng ngay ở hàng đầu:
- Bọn thông dịch này có thể tập sự được đây. Nhất là ba đứa lớn nhất.
Ông ra hiệu cho Colombe tiến lên, nhìn ngắm một lúc rồi bảo:
- Chưa thật cường tráng lắm, vậy lo chuyện thừng chão trên boong. Tên gì?
- Colin.
Ông gọi Just và tên mũi tẹt:
- Hai đứa này khá hơn, có vẻ không biết sợ là gì. Vậy trèo lên cột buồm, lo việc trên ấy. Tên gì?
- Just.
- Martin.
Lập tức họ bị ông xua về nơi nhiệm sở.
༺༒༻
Càng đi xuống hướng nam, khí hậu càng ấm áp, mặt trời càng chiếu sáng. Lúc đi qua đảo Grande Canarie, đoàn tàu bị một loạt súng thần công từ đồn binh Tây Ban Nha bắn ra. Một viên chọc thủng tàu Rosée ở mũi trước, khoét thành một lỗ tròn, song đám thợ trên tàu vá lại một cách dễ dàng. Colombe tỏ vẻ coi thường, nói:
- Chỉ có thế thôi ư.
Dù sao, cũng là qua một cơn thử lửa, và Just hãnh diện như người đã tham chiến.
Những đêm hè dài hơn thường lệ, nhưng với sự thay đổi vĩ độ, chúng lại ngắn dần. Dù sao, không còn là những đêm hãi hùng lạnh lẽo; họ nằm dài trên boong còn ấm hơi nóng ban ngày, vì từ nay họ được phép nằm ngủ bất kỳ chỗ nào tùy thích. Ban ngày, họ vẫy vùng ngoài trời để thi hành các lệnh của thuyền trưởng Imbert. Colombe hơi ghen tị với anh: giờ cậu leo trèo giữa các dây buồm rất giỏi, người đen sạm, bắp thịt nở nang. Công việc của Colombe hơi buồn, cô tìm cách bắt chuyện với thủy thủ và những người khác qua lại trên boong, nhưng không đi đến đâu. Cô thường gặp lại cái người thấp bé đã bắt chuyện với hai anh em ngày nọ, biết tên ông là Quintin. Ông đã bị tù do dị biệt về tôn giáo, và luôn cầm quyển sách trong tay. Colombe đang thèm đọc, ông hứa lúc nào sẽ cho mượn sách.
Just, với công việc leo dây như làm xiếc, có nhiều dịp để mơ mộng. Nhiều lúc cậu đứng chót vót trên vị trí canh gác và để mình buông thả theo những ước mong mà chân trời bao la vây quanh làm nẩy sinh trong lòng cậu.
Tối đến gặp lại, họ nằm sát nhau, kể cho nhau nghe những gì xẩy ra trong ngày. Thời gian trôi qua, họ càng lấy làm lạ sao cha họ ở xa thế. Có lúc họ tự hỏi cha có trải qua bão tố và say sóng như họ không, có được hưởng những đêm hè êm ả thế này không. Có lúc họ tưởng tượng ông là chủ soái của một hạm đội giống Villegagnon; có lúc họ lại hình dung ông bị bắt nhốt dưới hầm tàu như những kẻ khốn khổ nọ. Lúc khác, họ lại nghĩ mình bị đánh lừa, chứ không khi nào cha họ lại rời xa quê cha đất tổ đến thế. Và họ sinh ra tiếc, giá cái đêm giông bão ấy cũng trốn đi như có người đã liều, thà xông vào phiêu lưu mạo hiểm còn hơn cam chịu chuyến đi bấp bênh này. Và họ nhẩm định kế hoạch, nếu tàu đi gần bờ biển nào đó thì sẽ tìm cách trốn.
Song những giấc mơ đó có lúc nhòa đi, nhường chỗ cho những giấc mơ hoang đường hơn, dẫn họ đến những xứ sở kỳ quặc đầy quái vật mà con tàu Rosée sẽ đưa họ tới. Nhất là khi nghe Quintin kể về những bí ẩn của Tân Thế giới, họ càng tò mò nóng lòng muốn biết. Cứ vậy từng ngày, từng tuần qua đi, dù nước trữ trong thùng đục dần và cái ăn ngày càng kham khổ, họ quen dần với cuộc sống tạm thời ổn định, không còn muốn có sự thay đổi nào nữa.
Lý do e ngại duy nhất còn lại là tên Martin, hắn lảng vảng khắp các xó xỉnh, con mắt luôn gườm gườm như dọa trả thù. Phía Just cũng không kém, và Colombe không vui thấy anh vẫn âm ỉ nuôi ý phục thù. Đành là anh muốn có sự thanh toán công khai dưới hình thức một cuộc thách đấu sòng phẳng chẳng hạn. Nhưng Martin lại có âm mưu khác. Sự thù địch của hắn là ngấm ngầm, hiểm độc. Chắc chắn hắn sẽ thực hiện trong bóng tối, lừa lúc Just sơ ý không phương chống đỡ. Nên Colombe đặc biệt sợ lúc đêm xuống, và khi ngủ cô quàng tay ôm lấy anh như để che chở.
Đoàn tàu thẳng mũi về phương nam. Những đám mây rộng lớn che khuất hết bầu trời, giữ cho mặt nước lăn tăn lúc nào cũng âm ấm và bốc hơi hầm hập. Nguồn nước ngọt dự trữ gần như cạn kiệt. Từ tàu chỉ huy phát ra lệnh quay mũi vào bờ.
Tàu neo trước mặt một bờ biển khúc khuỷu, hy vọng ở đó có suối để lấy nước. Các thuyền nhỏ được hạ thủy và phải đi lấy, đến sẩm tối mang về những thùng nước vàng khè lẫn bùn. Mà cũng chỉ lấy được nửa khối lượng dự tính, vì bị thổ dân da đen hung hăng ra ngăn cản.
Trong thủy thủ lan truyền cái tin là tàu đang đi dọc bờ biển châu Phi. Mọi người nguyền rủa những kẻ trên tàu chỉ huy, đã có đủ các loại máy móc dụng cụ phức tạp và hay làm ra vẻ thông thái, mà lại không dẫn nổi đoàn tàu đi đúng hướng, trong khi bên này, thuyền trưởng Imbert chỉ cần hướng dẫn bằng kinh nghiệm cũng đã có thể đi đến nơi về đến chốn một cách chắc chắn. Nhận thấy mình sai lầm, các hoa tiêu bên tàu chỉ huy liền đổi hướng và quay sang phía tây. Thật là đúng lúc, nếu không thì nguy to.
Họ bắt đầu nhìn thấy những cánh buồm xa xa, phía chân trời, đó là dấu hiệu tốt cho thấy, cuối cùng, họ đã đi đúng hướng. Mỗi lần như thế là một lần báo động. Villegagnon đã ra lệnh cấm tiệt việc áp sát để cướp bóc, nên họ để cho nhiều tàu thuyền Tây Ban Nha lẻ loi đi qua mà không gây chuyện, mặc dù chúng là miếng mồi ngon, dễ tấn công. Nhưng mỗi buổi sớm, đài quan sát báo tin thấy nhiều cánh buồm ở hướng tây bắc, dần dà hiện rõ là một đoàn tàu Bồ Đào Nha gồm sáu chiếc. Chỗ này còn lâu mới tới châu Mỹ, song dưới mắt người Bồ Đào Nha thì rõ ràng ba chiếc tàu Pháp này đang đi Brésil, như vậy đủ để chúng coi là thù địch.
Khoảng cách còn khá xa, nên chưa rõ bọn Bồ Đào Nha có chủ động tấn công hay không. Dù sao, cứ cẩn thận chuẩn bị nghênh chiến vẫn hơn. Trên tất cả các boong trước, boong sau của tàu Rosée đều diễn ra cùng một cảnh nhộn nhịp. Thùy thủ, binh lính và cả những dân thường nữa – những người này được thuyền trưởng giao cho việc chuẩn bị đạn dược cho đại bác, người nào việc nấy: mở lỗ châu mai ở thành tàu, khênh hòm đạn chuẩn bị tiếp ứng cho đại bác, căng hết mọi cánh buồm để lợi dụng sức gió đi thật nhanh.
Colombe được giao nhiệm vụ giữ boong tàu sạch và quang, phòng phải đánh giáp lá cà. Cô hăng hái lăng xăng suốt từ đuôi đến mũi tàu, không tiếc sức. Lúc luồn qua cột buồm lái, thấy ông Quintin chắp tay đứng im, cô ngạc nhiên hỏi:
- Bác không phải làm gì à?
- Có, bác phải lau nòng súng.
- Và bác xong việc rồi?
- Không, bác không làm.
Từ nãy tới giờ, Colombe đã rất gắng sức làm việc nên lúc nãy, cô tranh thủ thở một chút. Hơn nữa, chính công việc luôn chân luôn tay, chứ không phải mục đích dọn dẹp boong tàu, đã làm cho đầu óc cô đỡ căng thẳng. Cô thắc mắc:
- Cháu nghe nói nếu bọn Bồ Đào Nha cướp tàu và bắt sống thủy thủ, chúng sẽ chặt chân tay mọi người rồi bỏ mặc cho chết khát trên tàu, trôi đi đâu thì đi.
- Bác cũng nghe nói vậy. Quintin đáp, bộ mặt hốc hác và tai tái vẫn giữ vẻ âu sầu ảm đạm như lần đầu họ gặp nhau.
- Thế thì càng phải ra sức chống cự chúng.
- Không, Quintin vẫn khoanh tay trước ngực, đáp.
Gió vẫn thổi căng phồng các cánh buồm, lấp đầy khoảng không gian yên ắng ngoài khơi xa. Mấy con tàu nghiêng ngả, chưng diện đầy đủ cả bộ, nào váy lót, nào áo yếm và khăn trùm đầu, trông như ba cô gái già chuẩn bị đi vũ hội.
- Nếu vậy thì chịu để cho chúng lột da ư? – Colombe ngạc nhiên hỏi.
Quintin quay ngoắt lại, nắm lấy tay cô và ngắt lời:
- Cháu ơi, con người tự cho phép mình làm quá nhiều điều ác, để cho cái xấu lan tràn không giới hạn. Ta, ta chủ trương điều trái lại, vì thế họ mới bắt giữ, xét xử ta.
- Điều trái lại?
- Nghĩa là không bao giờ ngừng yêu thương và làm điều thiện.
Vừa nói, ông vừa siết mạnh tay cô. Mắt ông vụt lóe sáng, đầy nhiệt huyết, chan chứa hy vọng lẫn tuyệt vọng, một việc mà cô chưa từng thấy ở ông. May thay, tiếng reo hò từ tháp phía sau vang lên, lan nhanh đến boong thượng, chấm dứt tình cảnh khó xử của Colombe: bọn Bồ Đào Nha đã đi qua mà không gây chuyện.
Khắp tàu vui mừng la hét. Các bình rượu, thường thì phải để dành cho những dịp lớn, nay được đem ra chuyền tay nhau, ai cũng được uống từng ngụm lớn.
Thuyền trưởng ra lệnh hạ bớt buồm. Colombe chạy đi tìm Just đang làm việc ở khu vực này, nhưng không thấy. Cô liền lặng lẽ quỳ xuống cùng với mọi người để tạ ơn Chúa. Tàu Rosée không có cha tuyên úy: giáo sĩ duy nhất của cả đoàn không bỏ lỡ cơ hội được gần cận các vị chỉ huy cao nhất, trên tàu dẫn đầu. Vì vậy, mỗi người phải tự cầu nguyện theo cách của mình, và hướng lên một Đức Chúa Trời vừa là Chúa của chung vừa là Chúa của riêng từng cá nhân. Bọn thủy thủ, với những bộ mặt cướp biển dày dạn sương gió thì gọi tên Đức Mẹ và Chúa Hài đồng còn trần truồng trong tranh ảnh, trong khi các tội phạm về tín ngưỡng khờ khạo vừa bị lôi ra khỏi nhà tù, tay vẫn còn trắng xanh, thì ngửa mặt lên trời cao, kêu cầu một Đức Chúa của khổ hình và máu huyết.
Giữa cảnh yên tĩnh ấy, chợt nổ ra dấu hiệu bạo lực trên không: tiếng kêu, tiếng buồm rách đánh phựt, rồi tiếng người ngã. Mặt trời chói chang giữa những cột buồm cao, đứng dưới boong nhìn lên không thể nhận thấy điều gì. Colombe càng khó đoán vì lâu nay Just vẫn giấu em không nói ra những hiểm nguy rình rập thường trực bên mình. Từ bữa hai bên xô xát, Martin luôn rình mò chờ có dịp. Những lúc làm việc ở trên cao, hắn thường buông lời chửi rủa, thóa mạ Just và đe dọa cho cậu biết tay. Just đáp lại bằng cách đề nghị đấu tay đôi. Nhưng rõ ràng tên kia không dám chấp nhận và ngầm nuôi dịp trả thù hèn hạ.
Làm việc trên các cột buồm cao đòi hỏi phải thận trọng, nhanh tay, tinh mắt; riêng Just phải cảnh giác gấp bội đề phòng một trò ác ý. Cứ cuối ngày là cậu lại thấy rất mệt mỏi. Nhưng hôm đó, do tàu hơi nghiêng sang một bên, thời tiết lại nóng ấm, một đàn cá heo lưng đen lại đến tung mình nhẩy lên lặn xuống ngay trước mắt khiến cậu buông lơi chú ý.
Cậu đang đứng bám vào trục buồm mũi, bụng đè vào thanh gỗ đánh bóng, tay chân quắp chặt để giữ thăng bằng. Bỗng một sợi dây chão, đầu buộc thành nút to, quăng rất mạnh từ đâu đó đập vào sườn cậu. Just thét lên và mất thăng bằng. May mắn thay, cậu lại ngã xuống một cánh buồm căng phồng và nhanh trí bám cả hai tay vào bờ vải dày cộp. Cậu treo lơ lửng trong tư thế ấy một lúc, mạn sườn đau nhức chưa kịp hoàn hồn về cú ngã và về việc mình thoát chết. Rồi cậu trấn tĩnh lại: cần phải tìm cái gì bấu víu vào. Cậu vớ lấy một thanh trượt bằng sắt và leo lên thanh căng buồm; nhìn đoạn dây chão đã đập vào cậu đang lủng lẳng dọc cột buồm, cậu hiểu ra, đã có người sử dụng nó như con lắc để hại cậu; thôi đúng rồi, những lời đe dọa của Martin! Cậu không phải tìm lâu: nó đang bám vào dây néo ở trên cao quan sát cậu.
Colombe không được chứng kiến từ đầu. Cô chỉ nhìn thấy Just lúc cậu leo lên thoăn thoắt về phía kẻ ám hại mình. Cô thét thất thanh:
- Họ đánh nhau kìa!
Thấy những người khác chưa hiểu gì, cô chạy lung tung kêu ầm lên. Tới chỗ thuyền trưởng đứng, cô giật tay áo ông:
- Thuyền trưởng thuyền trưởng! Nhìn kìa: họ đánh nhau.
Tiếng huỳnh huỵch từ trên cao vọng xuống, nghe khuếch đại hẳn lên nhưng không ai còn nhìn rõ được hai đấu thủ nữa. Họ đang vật nhau trên sàn đài quan sát.
Gần chục thủy thủ liền bám các dây néo trèo lên. Thuyền trưởng Imbert thấy là mình phải ra oai một chút thì hay hơn. Ông cất cao giọng ra lệnh nhưng họ đã lên được lưng chừng. Martin chiến đấu rất hùng hổ nhưng không táo tợn và khôn ngoan lắm. Ngược lại, Just đánh khôn khéo, mưu mẹo, nếu không bị vướng víu vì cái võ đài chật hẹp thì chắc cậu đã giải quyết xong. Cậu bị đấm khá đau. Cuối cùng, đám thủy thủ cũng tách được hai đối thủ ra. Just có cảm tưởng như mình bị buộc phải hèn nhát khi chấm dứt trận đấu mà chỉ có cái chết mới giải quyết được, cậu nghĩ vậy. Chính mối nhục tưởng tượng ấy, chứ tuyệt nhiên không phải nỗi lo sợ bị trừng phạt, đã làm cậu phải cụp mắt không dám nhìn thuyền trưởng Imbert.
Ông này thì lại ưa yên ổn hơn là lẽ công bằng. Chuyện ẩu đả trên tàu là cơm bữa, có trời mới biết, ông đã gặp những chuyện như thế này biết bao nhiêu lần, và ông có quy tắc là không bao giờ phân xử xem ai là kẻ có tội. Ông ra lệnh:
- Cùm cả hai đứa lại cho tao!
- Không đâu! Colombe kêu lên và định quỳ gối.
Song thuyền trưởng nhìn cô một cách vô cùng tức giận, khiến cô khựng lại. Chỉ một lần van xin nữa là ông sẽ bắt nhốt cả ba mất. Nếu muốn giúp Just, biện hộ cho anh, xin cho anh được thả sớm, cô chỉ còn cách là phải được tự do. Nghĩ vậy, cô im lặng nhìn theo anh bị giữ chặt bởi chính những thủy thủ đã tách cậu ra khỏi Martin và bị điệu đi.
Cuộc sống bình thường trên tàu lại tiếp diễn. Đó là một ngày đặc trưng của miền nhiệt đới, nơi các loại màu xanh như muốn chiếm lĩnh cả vũ trụ: bầu trời xanh trắng, chân trời xanh lục, biển cả xanh tím và bọt sóng xanh xám. Giữa cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt trần này, con người phải là thiên tài mới nghĩ ra được cảnh giam cầm nhau. Colombe ngồi cạnh chiếc canô buộc ở đuôi tàu, khóc thút thít.
Cô lo cho Just đã thương tích còn bị bỏ đói, bị hành hạ trong một căn hầm tối tăm bẩn thỉu như cái mà hai anh em đang tạm trú. Rồi cô nghĩ đến thân phận của mình, cô đơn giữa những người xa lạ. Nhưng phút mềm yếu ấy không kéo dài. Với thói quen lấy nghị lực đối lại với bất hạnh vốn là truyền thống của dòng họ Clamorgan, cô tự nhủ: ta là Colin, thủy thủ tự do, không ngu đần, ta sẽ tìm ra cách giải thoát anh trai.
༺༒༻
Trong quá trình lênh đênh trên biển cả, giữa binh lính, thủy thủ và những khách còn lại dần dần hình thành những nhóm nhỏ, chơi thân và câu kết với nhau. Họ mua bán từ thức ăn cho đến nước ngọt, và cả những thông tin nhỏ nhất về lộ trình và kế hoạch của ngài đô đốc mà ai cũng muốn tích lũy thêm và giữ bí mật, gây nên mối hiềm khích giữa các nhóm. Tất nhiên, Colombe cùng với anh mình thành một nhóm riêng. Tình cảm thân thiết giữa hai anh em cũng đủ với cô, nhưng ngay, cô phải chịu cảnh bơ vơ đơn độc. Các nhóm luôn nghi ngờ lẫn nhau và chẳng ai muốn kết bạn với cô. Cô có thể chủ động bắt chuyện với một ai đó và trao đổi vài lời. Nhưng chỉ thế thôi, kẻ kia nói xong là bỏ đi ngay, trở về với công việc – hoặc lại chạy về với đồng bọn, chụm nhau thì thầm để kể lại. Vì với cuộc sống tẻ nhạt trên tàu, thì việc nhỏ cũng trở thành đại sự.
Colombe đã gần như mất hết can đảm thì chợt nhớ đến Quintin. Mấy ngày hôm nay, không thấy ông đâu. Cô rình vào lúc chia thức ăn buổi trưa, cũng không thấy ông ra. Cô xách một xô nước, làm bộ lau chùi, chui vào một nách boong giữa để tìm, cuối cùng mới thấy ông nằm vo tròn trong chiếc võng căng ngay trên một cỗ pháo. Cô leo lên nòng và khẽ mở hai mép võng. Quintin nằm ngửa, mắt mở trừng trừng như muốn đếm từng đường vân trên trần.
- Ông làm gì ở đây? – Colombe dè dặt hỏi.
- Cháu thấy đấy, ta cầu nguyện.
- Mọi khi ông vẫn cầu nguyện, nhưng vẫn lên boong cơ mà.
Ông bíu lấy dây võng nhổm người lên, nheo mắt lúc lắc đầu và nhìn quanh như chợt tỉnh. Làm điệu bộ tạ lỗi nhưng lại giống một nụ cười hơn, ông nói tiếp:
- Ấy là ta đang đắm mình trong suy tưởng. Ta hoàn toàn hòa vào với Thánh Ý.
Trông ông như vừa từ một cõi xa xăm lắm trở về. Chợt nhận ra Colombe, ông hỏi:
- Anh cháu đâu?
Cô kể lại việc anh bị Martin trả thù, rồi cả hai bị trừng phạt. Như một con sâu giãy giụa trong màng nhện, ông lúng túng gỡ mình ra khỏi võng. Chỉ thiếu chút nữa là ông rơi bịch xuống cỗ pháo. Đứng vững được dưới sàn rồi, ông liền sửa lại cái cổ áo dính ren lỗ chỗ vết nhện cắn và kéo lại quần nịt cho phẳng phiu. Quần áo đã chỉnh tề, ông mới nắm tay Colombe và bảo:
- Ta đi nghe ngóng xem sao.
Quintin không thuộc nhóm nào, nhưng có lẽ vì thấy ông cô độc, khổ hạnh, âu sầu nên nhóm nào cũng chấp nhận ông. Theo chân ông, Colombe được tiếp xúc với các nhóm người dù sao cũng có tí chút hơi hướng gia đình ấy. Việc tập hợp lại với nhau thì ít mà vì cùng chia sẻ thành kiến thì nhiều. Sức lực để tự vệ đối với bên ngoài đã hao phí hết nhưng thời gian thì còn thừa thãi để cằn nhằn, chửi thề, thở vắn than dài thay cho chuyện trò. Rượu lại rất hiếm – thuyền trưởng để dành những giọt cuối cùng để ăn mừng ngày đến đích – nên thời gian càng dài lê thê, mọi người càng uể oải. Nhưng may nhờ có các con súc sắc bằng sừng và các mẩu xương ngón của cừu để chơi chuyền, đám người vẫn còn được nghe tiếng lóc xóc, tuy rất nhổ, của trò chơi may rùi văng vẳng trong không khí im ắng.
Quintin dẫn Colombe tới một nhóm thợ gồm một anh làm bánh, hai thợ một, một ông bán thuốc tự xưng là thầy lang. Nhóm này, do công việc nên phải đi lại khắp tàu, nhận lời ông Quintin để ý tìm kiếm Just, chuyển cho cậu những thứ cần thiết và tìm hiểu tình trạng sức khỏe của cậu.
Hai người lại đi gặp một nhóm thủy thủ mà Quintin quen biết nhờ cuốn thánh kinh của mình. Ngay từ trước khi lên tàu, Villegagnon đã thông báo ai muốn cầu nguyện Chúa nào thì tùy, nhưng cấm tiệt mọi sự thuyết giáo. Không có thầy tu cử lễ, tất nhiên thủy thủ phải tự lo thức ăn tinh thần để nuôi dưỡng lòng tin. Họ rất mê tín và tin chắc rằng chăm làm việc thiện, cầu nguyện, lần tràng hạt, làm lễ thì trời mới yên, biển mới lặng để mà đi trót lọt. Quintin không tán thành kiểu mê tín quăng xiên đó, nhưng không ngăn cản làm gì. Ông chỉ tin vào sức mạnh của lời Chúa, nên thường đem sách Phúc Âm và Kinh Thánh đọc hàng giờ cho thủy thủ nghe, những người đã chai sạn không sợ bão táp của biển cả nhưng lại rất sợ một địa ngục giả tưởng nào đó đang chờ đợi.
Quintin bảo họ nói cho Colombe rõ mục đích, thời gian và nơi đến của chuyến đi này. Trước đó, ông đã nói với cô gái:
- Ta không biết họ đã kể với các cháu những gì nhưng nghe các cháu nói là đi gặp cha ở Ý, ta có cảm tưởng cháu còn lơ mơ không rõ con tàu này sẽ đi đâu.
Quả vậy, cả Colombe và Just, khi nghe thủy thủ chuyện trò với nhau và nhắc đến cái tên Brésil, đều không rõ xứ sở ấy là đâu. Hồi ở Gênes nước Ý, họ có nghe cha kể về những chuyến đi mạo hiểm của những hoa tiêu ở đó từ phương Tây sang phương Đông. Song cô vẫn nghĩ là, dù đi xa những đâu đâu, thì cũng chỉ là những chặng đường để cuối cùng là tới Địa Trung Hải, với nước Ý, nước Tây Ban Nha, nước Hy Lạp và những vùng đất phụ thuộc xứ Bác-ba-ri ở Bắc Phi.
Các thủy thủ tìm mọi cách chỉ dẫn cho cô hiểu, vạch lên mặt đất hình tròn của trái đất, nói rõ đâu là Tân Thế Giới nói chung và đâu là Brésil nói riêng nơi mà họ sẽ đến lập nghiệp.
Colombe nghe và tin ngay là cha mình đã anh dũng tham gia việc chinh phục những miền đất mới đó. Phải gặp ông rồi mới biết tại sao ông lại gọi hai con đến với mình mà không muốn cho ai biết tên tuổi thực đầy hiển hách của mình. Nhưng dù sao, có giữ bí mật danh tính đến đâu cũng không đến nỗi bỏ mặc con cái phải chịu nỗi nhục gông cùm chứ. Và cô chợt nhói đau khi nghĩ đến Just.
Cô hỏi họ liệu có biết Just sẽ bị trừng phạt thế nào. Họ đáp: thuyền trưởng Imbert đang cần người, chắc sẽ giam không lau. Và họ nói thêm:
- Chắc ông ấy sẽ nọc ra đánh một trận roi, rồi cho qua.
- Đánh roi! – Colombe kêu.
Trong thâm tâm, cô căm phẫn: “Đánh roi một người dòng họ Clamorgan!” Song cô nén nhịn, không bật lên cái tên ấy như bà bác đã dặn.
Quintin hỏi:
- Một trong các anh sẽ được giao thi hành hình phạt đó phải không?
- Không, về việc này, Villegagnon đã chỉ định mỗi tàu có một người. Ở tàu này, là thằng lính người Bantích.
Quintin lắc đầu. Ông quen biết vài tên lính, nhưng tên này thì luôn xa lánh mọi người và không ai biết cách tiếp cận với hắn.
Buổi tối, ông đưa Colombe về nơi mắc võng, ở đó đã có một nhóm người ngồi quanh. Tất cả đều xanh xao hốc hác, tóc để dài, mặc áo rộng bằng vải lanh, song trên môi luôn nở một nụ cười vượt ra khỏi cõi phàm tục, như người đang nhập định, lắng nghe tiếng thánh ca từ đâu trên trời rót xuống.
Trước đó, Quintin đã nhìn quanh xem có ai nghe được không mới dặn nhỏ:
- Cháu không được nói lại với ai nhé, đây là những người Hà Lan theo giáo phái a-na-bap-ti-xtơ[1] đấy. Họ muốn tách ra thành một giáo phái riêng và tin rằng ngày tận thế sắp tới. Họ không cần đến Kinh Thánh; họ đi theo những ý hướng riêng.
Colombe liếc nhìn những bộ mặt nông dân cuồng tướng, mà không hiểu sao cô thấy không đáng tin cậy chút nào:
- Thật là những người hạnh phúc.
- Phải, hạnh phúc! – Quintin đáp – khốn nạn, họ là những kẻ bị bức hại nhiều nhất trên trái đất. Họ muốn hạ bệ tất cả mọi ông vua, mọi giáo hội, mọi vương miện. Một số họ muốn sống trần trụi giữa thiên nhiên như Adam. Họ bị toàn thiên hạ ghét bỏ, chưa bị đưa lên giàn hỏa thiêu cũng là lạ.
- Sao ông lại ngủ cùng với họ? Ông cùng một giáo phái với họ?
- Ta ấy ư? – Quintin đáp ngay. Không đời nào! Ta luôn làm theo Kinh Thánh.
Rồi ông nói thêm, vẻ bí mật:
- Song ta có vài điểm chung với họ.
Đám a-na-bap-ti-xtơ niềm nở tiếp Colombe. Bằng một thứ thổ ngữ Đức mà ông Quintin hiểu được, họ đã cho biết một số thông tin. Điều kỳ lạ nhất là, họ nắm được những việc xảy ra trên tàu này và cả hai tàu kia nữa, thật không sao hiểu nổi. Theo họ, trên tàu chỉ huy đã xảy ra một vài bất đồng giữa Villegagnon với nhà nghiên cứu vũ trụ và các hoa tiêu trong việc xác định tọa độ của tàu. Người muốn hướng nữa về phía nam, kẻ lại bảo phải đi chếch lên phía bắc. Tóm lại, còn lâu mới tới nơi, mà các thứ dự trữ đang cạn dần.
Tàu Rosée hóa ra lại may mắn nhất trong số ba tàu vì trong cơn bão, người bỏ trốn khá nhiều. Song trên tàu chỉ huy, tình hình nguy ngập hơn vì không còn đủ lương thực. Nước ngọt cũng thiếu và bẩn, và có vẻ như bệnh dịch đang xẩy ra.
Quintin truyền đạt lại cho Colombe những gì họ nói:
- Theo họ, có thể sẽ chuyển một số người từ Grande Roberge sang tàu ta.
Colombe bỗng sinh lo: có thêm nhân lực, người ta sẽ không cần đến hai người bị cùm và bỏ mặc họ rục xương dưới hầm.
Thật phức tạp. Trong khi chờ đợi, trời đã ập tối, Just không có đây, cô sẽ phải ngủ một mình.
- Cháu sẽ ngủ đâu? – Quintin hỏi.
Colombe nhún vai:
- Không biết. Kiếm một góc, trên boong thượng.
- Thế thì ở lại đây. Ngủ chung võng với ta.
Chuyện ấy là bình thường. Để dành chỗ cho những thực phẩm dễ hỏng, người ta hạn chế không cho đem đi nhiều đồ dùng cá nhân. Không đủ võng, hai ba người thường ngủ chung.
Phải mất một lúc, Colombe mới nghĩ ra, mình được coi là con trai, vậy phải nhận lời đề nghị của Quintin một cách tự nhiên. Thật ra, cứ nghĩ đến việc phải nằm sát ông Quintin khắc khổ, với vẻ mặt âu sầu và tái xanh, đã làm cô vừa ngán ngẩm vừa lo lắng. Nhưng thôi, dù sao cô sẽ bớt cảm thấy thiếu Just ở bên mình.
Việc rửa ráy trên tàu, tùy ai người ấy lo. Có nhóm kéo nước từ biển lên giội ùm ùm. Có nhóm tắm rửa kín đáo hơn. Có nhóm, nhất là đám thủy thủ, thì phó mặc cho độ ẩm của không khí để làm tan bớt mùi hôi hám. Như mọi ngày, tối đến, Colombe rút vào một góc khuất ở boong đuôi, kiếm một thùng nước rồi rửa ráy qua loa, lén lút như người làm việc vụng trộm.
Lúc quay lại, cô đã thấy Quintin nẳm ở tư thế thiền định như lúc chiều. Tần ngần một lúc, cô mới đánh bạo trèo vào võng, làm ông bị đu đưa quăng quật tứ phía mất một lúc.
- Colin, cháu không cầu nguyện à? – Quintin hỏi.
- Thưa có, nhưng cháu cầu thầm thôi ạ.
- Chúa yêu thương tất cả chúng ta.
- Vâng… cháu biết.
Hai người a-na-bap-tit-xtơ đã ngáy khò khò và Colombe bắt đầu hối tiếc đã không nằm dưới sàn. Colombe cựa quậy một lúc rồi nằm quay lưng lại Quintin, co quắp cả tay chân, dù sao cũng thấy lòng ấm áp vì có hơi người bên cạnh. Cô nhắm mắt, tưởng như nhìn thấy Just và mỉm cười với anh.
- Và Chúa thấu hiểu mọi ước nguyện của chúng ta. Bí hiểm là ở chỗ đó.
Giọng nói của Quintin vẫn đều đều, nghiêm nghị. Nhưng Colombe không nghe thấy nữa, vì cô đã ngủ.
❀ ❀ ❀
[1] anabaptiste: người theo giáo phái rửa tội lại (L.N.D)