Trong đội cận vệ Xcốtlen của Villegagnon, có anh lính Rupert Melrose, đã đi theo phục vụ ngài đô đốc từ tám năm rồi. Lòng tận tụy ấy bắt nguồn từ một sự tình cờ kỳ lạ mỗi lần nghĩ tới Rupert không khỏi bồi hồi đến rưng rưng nước mắt.
Đó là cái thời mà công chúa Marie Stuart mới sáu tuổi mà gần như đã bị gả bán tới hai lần. Hoàng đế nước Anh muốn có nàng làm vợ, hòng chiếm đất Xcốtlen. Mặt khác vui Henri II nước Pháp lại nhăm nhe chọn nàng làm vợ cho thái tử con mình: bằng cách ấy ông nghĩ sẽ cứu được phái công giáo ở Xcốtlen. Lúc đó nàng công chúa bé bỏng cùng mẫu hậu đang bị giam lỏng tại lâu đài Dumberton và bị các tín đồ tin lành giận dữ nổi lên phong tỏa.
Rupert bấy giờ chỉ là lính trơn đến từ vùng cao nguyên Ecốt, nằm trong đội quân công giáo tuần tra quanh những bức tường thành dọc sông Clyde. Như mọi đồng đội khác, anh ta rất yêu quý nàng công chúa nhỏ tóc nâu. Mỗi sáng khi nàng đi dạo trên sân thượng tòa thành, Rupert đều dõi theo trìu mến. Mới còn bé như vậy, thơ ngây như vậy mà đã là trung tâm của biết bao mưu mô chính trị, Rupert thật không thể hiểu. Dưới trời ấm áp tháng Năm, nhìn nàng đi dạo dưới đôi cánh tay trần mà vẫn trang nghiêm, Rupert thầm nhủ sẽ sẵn sàng bảo vệ cái kho báu trong trắng đó dù có phải chết ngàn lần.
Than ôi, vòng vây kinh khủng của lũ tín đồ Luther tiếp tục siết chặt. Mùa đông tới, lâu đài chắc sẽ khó lòng giữ vững. Trước viễn cảnh bi thảm đó, thì mùa xuân cuối cùng dù đầy hoa nở rộ này vẫn buồn thảm hơn bất cứ mùa xuân nào trên đất Xcốtlen từ trước tới nay.
Ngoài việc ngắm nhìn nàng công chúa nhỏ, Rupert chỉ mê một thú vui khác, đó là thổi kèn túi. Từ trước tới nay, anh vẫn hài lòng với nhạc cụ của mình. Anh đã học thổi nhiều giai điệu bằng cách nhìn ông chú bấm ngón và đối với anh, không gì du dương bằng một cuộc song tấu kèn ống quyển xứ Brơ-ta-nhơ, đệm bởi các ống phát âm trầm ở kèn túi, song anh bàng hoàng khi nghe viên lãnh đội cảnh báo: công chúa không ưa nghe tiếng kèn túi ỉ eo, thậm chí nàng còn ghê sợ coi những âm thanh ấy là tiếng báo điềm gở. Vậy là anh được lệnh không được thổi kèn trong những giờ nghỉ rỗi rãi của mình, nếu muốn thì phải đi ra mỏm núi thật xa kia mà thổi, để cho gió lộng cuốn bay đi ra biển khơi, không cho tiếng nhạc vọng tới lâu đài.
Tất cả binh lính đều nghe đồn vua nước Pháp đang phái một hạm đội mạnh tới giải thoát cho hai mẹ con công chúa. Song về thủy quân, xưa nay người Anh vẫn là bá chủ. Đô đốc Strozzi, người chỉ huy hạm đội Pháp, khó lòng mon men tới Xcốtlen, trừ khi chấp nhận một cuộc đụng đầu quyết liệt trong đó thuận lợi không nghiêng về phía Pháp. Còn thì không có cách nào khác để bẻ gãy hàng rào phòng thủ của quân Anh.
Số quần thần người Pháp theo hầu hai mẹ con công chúa ngày đêm chĩa ống nhòm về phía tây nam ngóng đợi. Nhưng không thấy bóng vía Strozzi.
Các chùm hoa đậu tía màu lơ bò cao khắp mặt tiền tòa lâu đài, rừng liễu đã lóng lánh những lá non nõn nà, cây sồi dẻ đã nhú lên những nụ xanh xanh. Trên phím đôi tạo âm trầm của kèn túi, Rupert diễn tả niềm hân hoan của thiên nhiên bằng nhạc nền bi thảm toàn âm thấp và ấm. Anh đứng thổi kèn trên một mũi đá hoa cương nhô ra biển ở phía đông thành, nơi người ta không nhìn thấy anh, sóng đánh liên tục dưới chân. Chính ở nơi đó, vào một buổi sáng giữa tháng Năm, anh đã gặp một chuyện bất ngờ sẽ ảnh hưởng đến cả cuộc đời sau này của mình.
Ba chiến thuyền có những tay chèo hết tốc lực vun vút rẽ sóng nước. Biển lặng, chúng nhanh chóng đến gần. Rupert nhìn rõ các cờ hiệu: tàu của Pháp. Anh tưởng mình hoa mắt, vội ngước nhìn về phía mặt trời để định hướng. Thật lạ: nhưng không thể sai: những chiến thuyền kia rõ ràng từ hướng đông bắc tới, dù chuyện đó thật khó tin.
Rupert vội ôm kèn trong tay, chạy về lâu đài báo động. Bọn trẻ đang chơi đùa tên sân thượng: Marie Stuart cùng ba bạn gái: Seton, Fleming và Livingstone. Chúng lao ra lan can, ở phía đối diện với phía mà bao lâu chúng vẫn chờ đợi. Ba cỗ chiến thuyền – mà nay đã nghe rõ tiếng trống hiệu – đã ghìm tốc độ để chuẩn bị cập bờ. Lính Pháp cũng như lính Xcốtlen quá ngỡ ngàng, nghĩ đây là mẹo đánh lừa của địch, vội chĩa hết nòng súng về phía những con thuyền. Song thuyền càng áp mạn, càng nhìn rõ những toán lính đứng trên boong vẫy mũ, vung gươm tỏ vẻ hoan hỉ. Chiếc thuyền đầu tiên chạm bến, đổ xuống bờ một toán lính Pháp ào ào chạy tới. Dẫn đầu là một người cao lớn như hộ pháp, vẻ mặt hớn hở, mắt đỏ hoe, áo trước ngực in hình thập tự dòng Malte. Ông ta chạy thằng đến chân thành. Trong khi chờ cửa mở, ngài hiệp sĩ quay mặt lại trước ba quân, lệnh cho họ quỳ xuống rồi đọc một bài kinh bằng tiếng la tinh với giọng oang oang vang động các vách đá. Đến cua trong lỗ cũng phải bò ra để chứng kiến giờ phút lịch sử này. Cuối cùng, cổng thành nặng nề mở, và nhiếp chính hoàng hậu xuất hiện. Nicolas Durand de Villegagnon lập tức quỳ gối xuống đất, trịnh trọng xướng tên mình trình diện.
Rupert đứng trên tường thành cao chứng kiến toàn bộ cảnh tượng đó. Lần đầu tiên anh nhìn thấy con người táo bạo đã chỉ huy đoàn tàu này. Thì ra Villegagnon đã thuyết phục đô đốc Strozzi để mình ông làm cái việc mà trong lịch sử chiến binh từ trước đến nay chưa ai làm: đó là dẫn hạm đội đi vòng Xcốtlen về phía bắc, len lỏi giữa các hòn đảo Bắc cực để tránh sự tuần tiễu của thủy quân Anh. Và ông đã làm được kỳ công đó nhờ một bản đồ do gián điệp lấy cắp được của người Anh.
Hai mẹ con nữ hoàng cùng quần thần lên thuyền ngay tối hôm đó, và Vileegagnon có vinh dự vô biên được đưa hai ngón tay dài ngoẵng ra để nàng công chúa bé nhỏ bíu vào bước xuống tàu Réale an toàn. Vài hôm sau, nàng đã cập bến Morlaix, ở bờ biển miền Bắc nước Pháp.
Chuyện đó là từ năm 1548. Giờ đã là 1556, suốt thời gian ấy Rupert không dời Villegagnon nửa gót. Anh nằm trong đội cận vệ Xcốtlen của đô đốc, và lại ở trong tổ gần gũi nhất thay nhau canh gác trước phòng của ngài. Ai muốn đụng tới Villegagnon thì phải bước qua xác anh trước.
Lòng trung thành đã trở thành quán tính: cứ được đi theo chủ là Rupert cảm thấy hạnh phúc, dù ở Brésil hay bất kỳ đâu. Chỉ một điều gợn nhỏ: giống Marie Stuart, Villegagnon không ưa tiếng kèn túi: mỗi lần muốn chơi, anh đều phải tìm nơi xa.
Hôm đó Rupert có trách nhiệm áp tải chiếc sà lúp sang bờ bên kia lấy nước nên tranh thủ cơ hội mang kèn đi theo. Còn hai ngày nữa là hết hạn quy định của bức tối hậu thư Villegagnon gửi Quạ. Bờ biên vắng lặng, cảnh vật im lìm.
Rupert không phải là người giàu trí tưởng tượng. Yên tĩnh tức là yên tĩnh và không cần phải xem xét kỹ làm gì cho mất công.
Các thủy thủ neo thuyền trên bến nổi dựng đối diện với dòng thác và vần các thùng to xuống đế hứng đầy nước, Rupert lãng đi theo rặng dừa theo phía tây. Từ đây vẫn có thể nhìn rõ con thuyền, vậy là anh không lơ là nhiệm vụ canh chừng. Nhưng anh không cưỡng lại được thú vui nho nhỏ là ra tận nơi có con cá voi bị mắc cạn. Con vật to lớn ấy bị phơi nắng không biết bao lâu rồi mà da nó đã khô cong và bắt đầu sứt nẻ. Bíu vào tấm lược ở miệng nó có thể dễ dàng trèo lên đỉnh đầu. Rupert thích ngồi trên đó, trên cái khối đen đen giống như một tảng đá ấy, ngắm cảnh vịnh. Anh cố tình lờ ngọn núi giống cái bánh ngọt rất dễ nhận ra ấy để tưởng tượng mình đang ở Xcốtlen. Mùa này, ở đây cũng có những màn sương mù tối như mùa hè quê anh. Rupert bắt đầu thổi một giai điệu của vùng Aberdeen ở Biển Bắc, xuất xứ từ một bài hát xướng của trẻ em.
Phải mất nhiều thời gian mới vần lại những thùng nước lên thuyền. Từ ngày đôi bên căng thẳng, thủy thủ phải tự làm hết, không có thổ dân giúp sức. Khi mọi người chuyển được thùng cuối cùng lên thuyền thì trời đã tối.
Rupert thấy trong người thật thoải mái, lâng lâng vì đã có một buổi thổi kèn thỏa thích. Anh đã nhả miệng kèn và đang định tháo ra thì bất chợt có một đôi tay khỏe như gọng kìm kéo giật anh ngã ngửa. Hình ảnh cuối cùng mà anh còn thấy được là một cái hoa lơ trắng ngần, to tướng trên bầu trời mà chắc anh sẽ chẳng bao giờ được ăn nữa. Cùng lúc đó, một lưỡi dao sắc ngọt cắt đánh xoẹt một cái, cứa đứt cổ họng anh.
Đêm đã tối đen khi từ sà lúp các thủy thủ huýt sáo gọi Rupert về. Mãi mới thấy anh lính Xcốtlen chậm chạp đi tới, đầu gần như trùm kín trong tấm áo choàng vải dày. Trăng chưa lên, anh thủy thủ cầm lái chỉ có trong tay chiếc đèn đỏ quạch. Người mà ai nấy tưởng là Rupert lại ngồi ở đầu kia, trong bóng tối. Suốt quãng đường về, không ai nói câu nào, vừa mệt mỏi, vừa chán ngán vì từ nay sẽ hết được tiếp tế cả rượu cahouin lẫn con gái.
Phía bên đảo cũng tối mò; có bao nhiêu nến đã dùng phung phí thời gian đầu nên cuộc sống chỉ trông vào ánh sáng trời cho được chút nào hay chút ấy. Trong những đêm không trăng không sao như đêm nay, cứ mặt trời lặn là ai nấy đi ngủ sớm. Đám thủy thủ chéo thuyền, xong việc về ngay chỗ ngủ, còn tên Rupert giả mạo, có vẻ thành thạo đường lối, đi thẳng đến chỗ đội gác. Một chiếc đồng hồ nước đặt trên giá cho phép người lính gác ở cửa phòng đô đốc có thể biết khi nào hết phiên trực, nhờ ánh sáng một cây đèn nhỏ. Lật ngược chiếc đồng hồ nước đến lần thứ hai rồi, anh ta ngáp dài, đứng dậy đi gọi “Rupert” ở chỗ đội gác. Việc đổi gác diễn ra nhanh chóng và lặng lẽ, vì một anh thì đang buồn ngủ, anh kia lại đang ngái ngủ.
Và thế là vào lúc một giờ đêm, trong y phục cận vệ Xcốtlen, Martin đã có mặt ở cửa phòng Villegagnon đứng theo kế hoạch. Chờ cho ánh trăng mờ mờ đủ soi sáng qua cánh liếp thưa và thầm cầu khẩn thần của bọn ăn trộm mà hắn tin tuyệt đối phù hộ cho, hắn từ từ đẩy cửa phòng.
Kế hoạch của bọn thổ phỉ khá đơn giản: cô lập Villegagnon, rồi hạ thủ. Bước một của chương trình đã hoàn thành. Phần lớn dân đảo đều chán nản và bất mãn vì công việc quá nặng nhọc. Bao oán hận đều đổ lên đầu vị hiệp sĩ xứ Malte, mà tội lớn nhất là đã cấm chỉ những thú vui duy nhất còn lại của họ. Trong cuộc đối đầu giữa đô đốc và những kẻ ở đất liền, tất nhiên họ sẽ đứng về phía những người sau. Họ thèm muốn tự do, cuộc sống nhàn nhã ăn chơi của bọn kia và, trong hoàn cảnh xa lạ ở vùng nhiệt đới này, họ tưởng đó là hạnh phúc lý tưởng nhất, lớn nhất và duy nhất. Trường hợp bên phía đất liền có tấn công thì có thể họ sẽ đứng trung lập và rất có thể họ sẽ đứng về phía những kẻ gây hấn hơn là phía đô đốc.
Còn lại số binh lính. Phần đông họ đã mệt mỏi, mất tinh thần, ngoại trừ đám cận vệ Xcốtlen có vẻ tận tụy đến cùng với chủ. Tuy nhiên từ những người dũng cảm nhất cho đến những kẻ đã mất tinh thần, bọn này theo đúng nghiêm lệnh nhà binh, làm gì cũng phải chờ lệnh. Vậy ngay từ đầu, phải cắt cổ kẻ ra lệnh.
Martin lĩnh trách nhiệm quan trọng này: hạ sát vị tư lệnh tối cao của đảo; mọi việc sau này sẽ tùy thuộc vào đó. Lúc này hắn đã đứng cách giường Villegagnon hai bước. Giường có rèm che. Trên đầu một cột giường, còn thấy cái đầu võng mắc ngang. Cứ để thế mà đâm qua rèm, hay mở toang rèm ra, là một thế đôi ngả của kẻ sát nhân mà Martin chưa nghĩ tới trước. Bọn gái điếm ở cảng thường nói có hai loại đàn ông: loại để đèn sáng khi làm tình, và loại thích tắt hết đèn đóm. Hắn thì chẳng cần rắc rối vậy, có thế nào hưởng thế. Ý nghĩ ấy làm hắn mỉm cười trong tối, và vì hắn thích đường hoàng, lần này hắn chọn cách mở rèm đánh soạt.
Trên võng không có người.
Hắn cuống lên nhìn vào trong giường và cả dưới gầm giường, nơi đô đốc cất giấu kho báu, theo kế hoạch thì hắn phải lấy được kho bấu ấy sau khi giết đô đốc. Nhưng chiếc hòm nhỏ không có ở đó. Hắn giật tung chiếc mũ chụp đầu làm hắn nghẹt thở, và vốn vẫn hết sức tỉnh táo những lúc gay cấn nhất trong một cuộc đột kích, hắn giơ đèn soi khắp phòng. Không một bóng người, đúng là hắn sa bẫy rồi. Đã đến lúc phải thu hết can đảm hành động theo linh tính. Không làm được thích khách thì đành làm kẻ cắp: hắn vớ vội cái khung mạ vàng của bức tranh nhỏ lấp lánh trên bàn, bỏ vào túi rồi chạy ra ngoài. Khốn thay, nhìn thấy hắn cầm đèn đứng trước cửa, đồng bọn của hắn phục bên ngoài lại tưởng hắn ra hiệu lệnh tấn công như quy định. Một mồi lửa lập tức được tung lên mái lá nơi trú của các hiệp sĩ xứ Malte, cháy đùng đùng. Quạ Mổ chỉ huy đoàn quân tấn công xả súng vào các gian nhà bốc cháy. Thực ra chúng chỉ có ba khẩu súng hỏa mai, hai do số lính đào ngũ chuyển cho Martin, một do Egidio lấy cắp được. Song với kiểu đánh bất ngờ này, chúng tin là sẽ giải quyết được vấn đề. Thực tế là đám vận vệ Xcốtlen đang ngủ, cuống lên không kịp vớ vũ khí, cứ trần trùng trục mà tháo chạy lung tung, làm mồi ngon cho sung đạn.
Phe tấn công tưởng đã thắng lợi hoàn toàn. Nhưng Martin không tin là thắng nhanh đến vậy. Có điều kì lạ: căn nhà của các hiệp sĩ bốc cháy song tịnh không một tiếng lêu la, cũng không một ai chạy ra ngoài.
Trừ tiếng lửa cháy lép bép, không gian lặng như tờ. Những ánh chớp nhấp nháy đằng đông làm nổi rõ hình bóng quả núi giống cái bánh ngọt trông có vẻ đầy đe dọa. Martin linh cảm mình bị sa bẫy. Hắn hít hít không khí như con chó săn và bất giác ném đèn xuống đất vỡ tan. Vừa lúc ấy, từ công sự phía trước vút qua một viên đạn, nhưng do ánh sáng tắt phụt, nên Martin không bị dính.
Nhiều phát sung khác tiếp theo, và trong đám quân đánh úp nổi lên những tiếng kêu la do trúng đạn.
Martin lập tức hiểu rằng kế hoạch của hắn đã bị lộ, và Villegagnon đã tương kế tựu kế đưa chúng vào bẫy. Phe phòng thủ nấp trong đồn lúc này xả súng như vãi đạn. Có tiếng ngã, tiếng chạy hoảng loạn. Lính Xcốtlen lợi dụng lúc đó mặc vội quần áo, xông ra tham chiến. Từ trên đồn, quân của Villegagnon ào chạy xuống bãi biển để chặn đường rút của đối phương. Giữa trận tiền vang lên tiếng đô đốc thúc quân.
Kế hoạch của Quạ và Martin chỉ đúng ở phần đánh giá thái độ của các thành phần dân sự trên đảo: tất cả thợ thuyền đều nằm im trong lán trại, nhìn xem mà không tham gia.
Các thuyền chở quân của Quạ cắm neo ở hai nơi, một ở phía nam của bãi biển, một ở đầu kia của vịnh, giữa các kè đá. Lũ thua trận chạy toán loạn và nhầy đại lên thuyền làm thuyền chòng chành chực đắm; cả bọn chèo thuyền lẫn bọn chúng, trong đó có những tên bị thương, kêu la rầm trời.
Martin tìm cách thoát khác. Biết mọi việc đã hỏng, hắn trở lại với phương châm cố hữu: ai chết mặc ai, cứu mình trước đã.
Hắn đi về bến sà lúp, nhưng vệ binh Xcốtlen đã có mặt ở đó trước rồi. Hay nhẩy xuống nước bơi về? Đã nhiều lần hắn tập bơi để phòng những khi cần trốn. Song nhìn thấy bờ bên kia khá xa, hắn không dám.
Chỉ còn một lối: đi ngược lên dinh thống đốc, rồi băng ngang giữa công trường xây đồn và công sự phía bắc. Nhưng hắn vừa đi đến chỗ quành thì một bóng đen, tay cầm kiếm, vụt xuất hiện. dưới ánh lửa của đám cháy gần đó, hắn nhận ra Just. Just nghiêm giọng ra lệnh:
- Đứng im!
- Ô, Clamorgan đấy à – Martin cố giữ bình tĩnh – Sao lại chĩa kiếm vào tớ. tránh ra cho tớ đi. Nên nhớ là tớ đã định cứu cậu.
- Mi muốn kéo ta ra xa thì có.
- Và thế là đúng, vì tớ thấy cậu có vẻ sẵn sáng đánh nhau chết thôi để phục vụ chủ mới.
Just vẫn cảnh giác, giữ thế phòng vệ. Martin tiếp:
- Trước đây cậu vẫn muốn có một trận đấu tay đôi công bằng. Nhưng lúc này không phải như thế.
Hắn đã nói trúng điều làm Just bận tâm. Martin thấy chàng liếc nhìn nhanh chung quanh, liền cười gằn:
- Cậu định tìm vũ khí cho tớ sao?
Trong khi Just còn lung túng, hắn nhẩy chồm sang một bên. Just xông lên, vung kiếm nhưng đánh trượt, quay người lại. tình thế vẫn như cũ, có điều lúc này Martin không tựa lưng vào tấm liếp cọ nữa, mà đứng giữa bóng tối mênh mông.
- Người ta nói sáng nào cậu cũng tập kiếm với Villegagnon. Cho nên dù bây giờ tớ có cầm kiếm, thì hai bên vẫn không cân bằng… ngài quý tộc ạ.
Làm bộ cúi chào thật thấp, Martin thõng tay xuống đất vốc một nắm cát ném vào giữa mặt Just. Bị tối tăm mặt mũi, chàng trai bỏ lỏng kiếm, lấy tay kia ôm mặt. Lập tức chàng cảm thấy bị nắm đấm của Martin thúc vào bụng, ngã lăn xuống đất.
Loáng thoáng nghe thấy tiếng Villegagnon quát tháo om sòm và bước lại gần. Rồi có những bàn tay xốc chàng lên, hình như là Colombe. Và tiếng ai đó phàn nàn là đã để Martin xổng mất.
༺༒༻
Rạng sáng, người ta bắt đầu kiểm điểm số người bị bắt, bị thương và chết. Số chết thì rõ rồi: ngoài Rupert mất tích, ba binh sĩ khác qua đời. Về phía bọn cướp, một tên chết vì đạn, hai tên chết đuối không kịp lên thuyền về. Hai binh sĩ bị thương nhẹ. Ngoài ra trên sân đất đối diện dinh thống đốc, bốn tù binh bị xích chặt vào cột, trong đó có Quạ, Vittorio và Egidio. Tên thứ tư có bộ mặt rỗ nhàng rỗ nhịt, răng sứt, xấu như con cú vọ.
Just được đưa lên phòng của đô đốc, có Colombe săn sóc.
Đã đến giờ đọc kinh buổi sáng. Villegagnon cho người đi tìm Thevet, thấy ông ta hãy còn nấp ở một xô bể nước, dưới tường thành công sự phía nam. Lão vẫn run cầm cập, thú thật cả đời chưa bao giờ sợ đến thế. Viện cớ là cần lấy lại bình tĩnh, Thevet liên tục rít một điếu thuốc lá cuốn to đùng mà lão vẫn tuyên bố là để dành cho những dịp quan trọng.
- Nào, ông có cử hành lễ cầu nguyện không thì bảo – Villegagnon sẵn giọng.
Mặt Thevet vẫn còn ngơ ngắc, lão đáp:
- Tôi đã quyết rồi. Cho tôi về Pháp.
Villegagnon nghĩ thầm, nhà thông thái này là một gánh nặng của ông hơn là một phụ tá đắc lực. Ông cũng lấy làm tiếc, tất nhiên, là đám con chiên sẽ phải chịu thiếu người dẫn dắt về tinh thần nhưng nhà bản đồ học khốn khổ này có làm được việc gì khác ngoài chuyên môn của mình đâu?
- Ngài nghe rõ chưa, – thấy Villegagnon không phản đối kiên quyết, Thevet tự nhiên lấy lại được can đảm và the thé nói. – Tôi yêu cầu được về ngay theo tàu Grande-Roberge.
Villegagnon liền cười nhạt, nhẹ nhàng đáp:
- Cha muốn đi ngay hôm nay cũng được. Không có cha cũng không sao.
Rồi ông quay lại hỏi thăm Just. Chàng trai đã ngồi dậy và ăn bát cháo đậu.
- Cháu đã khá chưa? – ông hỏi.
Just ra hiệu đã đỡ.
- Tốt lắm! Cháu chiến đấu rất tốt, ta có lời khen.
Colombe ông lấy anh. Có ai ngờ đâu bãi biển này là nơi hai anh em trải qua cơn thử lửa. Lúc này trông Just đẹp hơn lúc nào hết với đôi mắt thâm quầng do thiếu ngủ, nước da hơi xanh, và vẫn cái tư thế hiên ngang đàng hoàng của một người đàn ông thực sự.
Muốn làm cho xong việc để còn đi nghỉ, Villegagnon bước ra ngoài sân, đến đứng trước lũ tù binh. Ông nói với Quạ:
- Kế hoạch của mày suýt thành công đấy. Nhưng bộ máy nào dù tinh vi cũng có trục trặc. Nếu không có cái lão ngố đến xin cho ta được kết hôn với bốn mụ đàn bà do mày bán cho, thì tao đâu có biết chuyện. Nhân đây – Villegagnon quay lại nói với Gonzagues – có thể cho lão ra khỏi nơi ẩn nấp được rồi. Các ngài đây chắc không làm gì lão được nữa.
Gonzagues liền bước thấp bước cao đi đến cái hầm đào dưới chân công sự, nơi Quintin được được tạm đưa vào ẩn.
Trong khi đó, Villegagnon ra các phán quyết. Nhìn vào mắt Quạ, ông nói:
- Mi sẽ bị treo cổ. Còn mi – ông nhìn sang đứa bên cạnh – mày đã đâm chết một binh sĩ của ta. Treo cổ nốt!
Ai nấy chăm chú nhìn bọn cướp để xem chúng phản ứng ra sao? Hèn hạ van xin hay điên khùng lồng lộn, những trò ma mãnh mà chúng rất tài giỏi. Từng tên lần lượt tỏ thái độ khác nhau: đứa thì hoảng sợ, rũ người ra, đứa thì ra vẻ khinh bỉ, ngạo mạn, giá ở hoàn cảnh khác thì mọi người sẽ thấy khá khôi hài. Rồi, chắc nhận ra rằng Villegagnon không thay đổi quyết định, tên Quạ liền nhổ toẹt về phía đô đốc một bãi đờm, nhưng quá gần nên chỉ rơi xuống cát. Và tất cả những người có mặt đều hiểu ngay, thế là xong, ít nhất đối với hai tên chủ mưu.
Villegagnon chuyển sang đứng đối diện hai tên còn lại đang bị trói cùng một sợi dây với tên Quạ, lưng áp sát vào lưng hắn. Ông hỏi:
- Còn hai tên này, chúng là đứa nào?
Vittorio lập tức rền rỉ:
- Dạ, hai chúng con oan ạ.
Cả hai tên đều khóc lóc thảm thiết.
Le Thoret lúc đó đứng cạnh đô đốc, liền chỉ vào hắn:
- Nó là một tên tù được giảm án.
- Chả nhẽ số kiếp mày lại phải ngồi tù mãi?
Vittorio nghĩ trong câu hỏi đó có cơ may cho hắn chuộc tội. Nói cho cùng, hắn đã dỏng tai nghe cho đến tận phút cuối trước khi đi sang tấn công đảo, vẫn không thấy ai nói ra mật khẩu “Ribère”. Vậy lũ Quạ không phải là đồng bọn, chả tội gì cùng chết chìm với chúng.
- Ôi, thưa ngài, số kiếp của con là luôn rơi vào tay những kẻ xấu, chúng xui con làm bậy. Vâng, bọn này dọa dẫm, bắt ép con phải theo chúng ạ.
Vừa nói, hắn vừa ngẩng đầu hướng về Quạ. Tên này cười khẩy:
- Tự mày bám lấy tao đấy chứ, ít nhất là cho đến sáng nay.
- Mày im đi! Mày mua chuộc tao để tao không nhìn thấy đường quang, trong khi tao đến đây cốt để sám hối những tội lỗi trước kia.
Thừa cơ, Egidio cũng lên tiếng tố cáo Quạ. Villegagnon bực bội cắt đứt những lời phụ họa:
- Có ai trông thấy những đứa này có hành động giết chóc gì không?
Không ai nói gì.
- Nếu vậy, hãy cho chúng một cơ hội. Chúng bị xích chân và bắt lao động khổ sai cho đến khi có lệnh mới.
Hôm đó, trời nắng suốt cả ngày, chứng tỏ mùa mưa đã hết. Đô đốc cho phép ai nấy được nghỉ trưa để quên đi nỗi hãi hùng đêm trước. Ngay các lính gác cũng gật gù. Bởi thế, khi Martin đã bơi đến tàu Grande-Roberge, bám được vào một sợi dây chão, trò mà hắn thành thạo từ hồi còn nhỏ, không ai hay biết. Hắn lặng lẽ tháo dây buộc thuyền, vừa bơi vừa đẩy thuyền ra xa tới vài sải, rồi nhẩy lên mắm môi chèo miết. Hắn gần sang tới bờ bên kia thì một vệ binh Xcốtlen mới biết. Thời gian để tên lính tìm được súng và lên đạn thì Martin đã nhẩy lên đất liền và biến mất.