Vết thương của Just đã lành. Tuy nhiên, dù thể chất đã hồi phục, chàng vẫn nằm dài, đờ đẫn, không nghị lực. Hết bệnh xác thịt đến bệnh tinh thần, cứ như Aude đâm vào sườn chàng nhưng đã đánh trúng tim.
Chàng hồi tưởng lại những hình ảnh của cuộc đời đã qua mà. không mảy may xúc động. Những giấc mộng của chàng đã vỡ tan như những quả bóng bị lưỡi dao oan nghiệt của Aude đâm thủng. Nào dòng họ Clamorgan với truyền thống thượng võ, nào những trận chiến vẻ vang của cha ở Ý, nào những mơ ước huy hoàng về nước Pháp Nam cực, những thứ trước đây chàng coi như vật thể có thực, nay chỉ còn là ảo ảnh trong sương. Từ nay, mắt chàng đã mở, không gì có thể đánh lừa nữa. Nhưng thế giới tầm thường của hình thức bên ngoài không thể quay trở lại được nữa, tuy đã thay thế cho thế giới của ảo tưởng. Bởi vì chúng đã bị nhìn thấu rồi. Bề ngoài của tất cả những người xung quanh chàng đều che giấu những vực thẳm thật ghê sợ. Aude, thoạt đầu kiều diễm, đáng yêu là thế, đã nhanh chóng chứng tỏ hận thù có thể khoác áo tình yêu, hèn hạ đội lốt sắc đẹp, và những lời ân ái ngọt ngào có thể che giấu âm mưu tội ác. Villegagnon nữa, ông ta cũng là con người khác, không như chàng tưởng. Từ khi chàng bị thương, đô đốc vẫn hàng ngày đến thăm, kể chàng nghe những việc vừa làm và sắp làm, và để chàng thêm khuây khỏa, mô tả tỉ mỉ cách trừng phạt, tra tấn mấy tên huygơnô bị bắt, không giấu giếm lòng hận thù tàn ác từ nay ông sẽ lấy làm phương châm hành động. Sao Just lại đi ngưỡng mộ một con người như thế? Tại sao có lúc Just tưởng ông ta tốt bụng? Trong hai người, không rõ ai đã thay đổi. Nhưng Villegagnon không thể trút lên đầu mọi người cơn giận dữ độc ác đến thế, nếu không nung nấu tâm địa ấy từ lâu. Như vậy là trước đây, ông đã tự kiềm chế không để lộ ra. Từ nay mỗi lần phải tiếp ông, chàng rất chán và hờ hững; thái độ đó Villegagnon coi là xuất phát từ sự mỏi mệt, thực ra là sự phản kháng không thể nói ra.
Và Just buộc phải nhìn ra cho rõ mặt xấu xa được che giấu ở bất cứ người nào trên hòn đảo này. Dường như ai cũng bị lộn ngược lại như ta lộn một cái áo, để lộ mặt bẩn thỉu bên trong. Bản thân chàng cũng phải chịu sự lột mặt ấy. Cả cuộc đời chàng đã để lộ sự hèn nhát, bất định, sai lầm. Dưới điệu bộ phong lưu cao quý, chàng chỉ làm mỗi việc là thỏa hiệp và chịu đựng bao điều dối trá dựng lên để tự huyễn hoặc và làm ra bộ tin tưởng.
Riêng Colombe là người duy nhất không phải xét lại theo lăng kính ấy. Just nghĩ đến đôi mắt trong sáng của em gái, đôi mắt không còn muốn nhìn thẳng vào mắt chàng nữa, và chàng thử đặt mình vào địa vị của nàng để nhìn nhận lại mọi việc. Sao ta không hiểu em sớm hơn? Sao ta lại hèn nhát không chịu nghe điều nàng định nói? Nàng đã sớm nhìn ra thực chất của mảnh đất thuộc địa này sẽ chỉ là tàn phá và máu lửa. Nàng đến báo tin sẽ bỏ đi, mà chàng không thèm nghe. Nàng đã nhìn thấy trước sự phản trắc trong cái mà chàng tưởng là tình yêu ở con người sau này sẽ cầm dao đâm chàng.
Đối lại những tiếng nói chân lý, chàng toàn viện ra những điều dối trá. Dối trá về việc cải trang thành con trai mà chàng đã dễ dàng chấp nhận, mà chính nàng đã vứt bỏ trong một cơn tuyệt vọng. Dối trá về một ảo vọng vinh quang mà chính chàng cũng không tuyệt đối tin tưởng. Dối trá, việc cứ để nàng tin hai người là anh em để che giấu những tình cảm của mình. Lúc nhỏ, để cho nàng tưởng mình là em gái, là một cách để tỏ lòng yêu quí nàng. Song kéo dài mãi trò đó chỉ có tác dụng ngăn không cho tình yêu đó lớn lên và trưởng thành, cũng như hai anh em đã lớn lên và trưởng thành.
Khi phá tan bức tường ảo ảnh sai lầm, ít ra Aude cũng làm một việc hay: làm lộ ra cái lõi bên trong của tất cả các vỏ bọc, đó là tình yêu của chàng với Colombe. Khốn thay, khi chàng nhận ra điều đó thì đã quá muộn để nuôi dưỡng cho nó lớn lên, quá muộn để tỏ bày cũng như để hưởng niềm hạnh phúc.
Dần dần, Just đứng dậy, mặc quần áo, đi dạo trên bãi cát. Chàng chỉ nhìn ra biển, tránh hết sức quay nhìn phía đảo, nơi có những giá treo cổ và phòng tra tấn. Kể cả bức tường thành, trước đây chàng hãnh diện là thế, nay chỉ gợi những đau thương. Chàng chỉ nhìn ra biển. Trong cảnh thiên nhiên rục rỡ nhiều mầu xanh, nơi ánh xanh biếc của nước hòa tan nắng vàng thành nhiều mảng đậm nhạt khác nhau, chàng tưởng như đọc được bức thông điệp bí ẩn và khó nắm bắt của những tình cảm dạt dào trong lòng. Còn tâm hồn nhức nhối và monh manh của chàng thì lại trơ trọi giữa một tương lai trống trải như bầu trời và một quá khứ đầy sóng gió như biển thẳm.
Chính trong một lần chàng đi dạo, cách buổi hành hình không lâu, Villegagnon đã đến gặp chàng để nói ra quyết định của ông. Thấy ông tiến tới gần, Just có cảm giác khó chịu của người bị quấy rầy trong lúc đang suy nghĩ mơ màng. Nhưng sáng hôm đó, Villegagnon có vẻ ít hung hăng hơn mọi ngày. Dường như khi đi dọc bờ cát, ông cũng được thấm lây cái yên hình của biển. Bộ quân phục lòe loẹt, đính dải trang sức kim tuyến lóng lánh, mà thường ngày ông vẫn diện trong nhà, giữa đám tủ gỗ mun kiểu cách và thảm phương đông treo la liệt, trông đỡ kỳ cục hơn nhiều trong khung cảnh hùng vĩ của vịnh biển. Ông cất giọng nói nhỏ, như nói cho chính mình. Just cảm thấy, từ khi bị thương, chàng cần cho Villegagnon nhiều hơn. Ðến thăm chàng hàng ngày, có lẽ đô đốc muốn tìm đến một niềm thương mến nào đó làm dịu bớt cơn lốc bạo lực ông đang lao vào. Không may cho ông, ông lại tìm đúng vào con người đang chuyển lòng ngưỡng mộ thành căm ghét, nên không thể đáp lại tình thương của ông.
- Ta đã nghĩ kỹ – Villegagnon nói – Tình cảnh chúng ta thật bế tắc.
Sự thú nhận thất bại từ miệng đô đốc nói ra là không bình thường. Quả nhiên, ông chuyển sang hành động tiếp. Ông ngẩng mặt kiêu hãnh nhìn ra phía chân trời, tuyên bố:
- Ta phải về Pháp.
Mặc lời tuyên bố bất ngờ, Just giữ vẻ dửng dưng.
Villegagnon nói tiếp:
- Đồn đã xây xong. Lúc chúng ta còn yếu, bọn Bồ Ðào Nha không tấn công, vậy là chúng đã mất cơ hội. Mảnh đất này từ nay sẽ an toàn. Chúng ta phải tiến xa hơn, khai thác thật nhiều gỗ, đi sâu vào lục địa, ở đó chắc có nhiều mỏ vàng. Bọn Tin lành cuốn xéo rồi, đã đến lúc ta phải tiến đánh quét sạch bọn lục lâm ở bờ bên kia. Khốn thay, theo những tin tức ta nhận được về lực lượng của chúng, muốn thắng chúng ta cần có hẳn một đạo quân hùng mạnh, nhiều phương tiện mới, và cả tiền nữa để mua tin tức. Cứ ngồi đây thì không thể có. Ta sẽ về kiếm những thứ đó ở Paris, thuyết phục nhà vua để ngài ủng hộ sự nghiệp của chúng ta.
Ông ta lại sắp say sưa diễn thuyết về nước Pháp Nam cực vinh quang đây – Just nghĩ vậy, và thấy mình không còn sức để nghe. Nhưng đột nhiên, Villegagnon lái sang chuyện khác:
- Hồi đánh thành Alger, ta có gặp Cortés. Chưa bao giờ ta thấy người nào thảm hại hơn ông ta. Just từng nghe đô đốc so sánh công cuộc chinh phục Brésil của mình với việc Hernan Cortés chinh phục Mêhicô. Nhưng đây là lần đầu ông kể chuyện gặp Cortés.
- Ông ta người bé nhỏ, đen như củ súng, lại lắm thói tật, trông như một lão keo kiệt, vậy mà đã đem lại cho Charles Quint nhiều vương quốc mới, hơn tất cả mọi tướng tài nào khác. Mình ông đã đánh bại vua Mêhicô, đem vàng châu Mỹ về làm giàu cho Tây Ban Nha. Lúc ta gặp ông là lúc ông đang bị thất sủng và ra sức lập công để mong quân vương đoái thương.
Vài người đi dạo ở mép nước, thấy đô đốc đi tới, vội lảng xa. Song ông không để ý, tiếp tục đoạn hồi ức:
- Trong khi ông ta xả thân để chinh phục Tân Thế giới, lại có người vu cáo ông. Bọn nịnh thần xảo trá tâu lên rằng ông là mầm phản trắc, và Charles Quint dại dột nghe theo chúng. Khi Cortés trở về, ông bị đối xử không ra gì. Song ông vẫn tìm mọi cơ hội để vua nghĩ lại. Nhân vua muốn tiến hành cuộc chiến thập tự chinh đánh Alger, diệt trừ ổ cướp biển hoành hành ở vùng Ðịa Trung Hải, Cortés liền nắm lấy cơ hội này để lập công.
Just chẳng có bụng dạ nào để hỏi tại sao Villegagnon là người Pháp lại dính vào chiến dịch của Tây Ban Nha chống Thổ Nhĩ Kỹ, trong khi vua Pháp François đệ Nhất coi Thổ như đổng minh. Song Just không hỏi mà Villegagnon đã nói:
- Lúc bấy giờ ta phục vụ theo yêu cầu của dòng Malta, dòng này cũng mong bọn man rợ ở Địa Trung Hải bị tiêu diệt.
Rồi ông hạ thấp giọng, nói thật khẽ như sợ có ai nghe biết:
- Và tất nhiên, ta còn làm tình báo cho Hoàng đế nước Pháp.
Chuyện đã đi quá xa. Villegagnon vội trở lại vấn đề:
- Tóm lại, ở Alger, khi chúng ta đổ bộ lên thì bão to, không thể tiến công. Công tác chuẩn bị kém. Ai cũng thấy thất bại đến nơi, kể cả ta trước đó khá hung hăng. Nhưng Cortés cứ muốn lập công. Ông ta đứng giữa trời mưa, ướt như chuột lột, gào: “Phải tiến lên! Phải tiến lên!” Hoàng đế nhìn ông ta, khinh bỉ như nhìn một chàng hề. Thảm hại, thật thảm hại.
Ðô đốc ngắm nhìn biển, lắc đầu:
- Cortés chết trong cảnh bần cùng. Người ta nói phút cuối ông còn chạy bám sau xe của vua để xin cứu giúp. Ta thì không muốn bao giờ rơi vào cảnh ấy.
Lần đầu tiên Just nghe Villegagnon nói tới cô đơn và thất bại.
- Mẹ kiếp, không bao giờ! Ta sẽ không để cho bọn hèn nhát vu cáo. Đành rằng ta muốn bọn huygơnô cuốn xéo, nhưng bây giờ chúng đã tìm được về châu Âu thì cũng đáng ngại đấy, cháu hiểu không? Truy hỏi mấy tên trôi giạt vào đảo vừa rồi chứng tỏ: nhất định chúng sẽ nói xấu ta, rêu rao những điều không hay về ta. Và thế nào cũng có những quân sư quạt mo tâu lên Hoàng đế Pháp rằng không có lửa sao có khói. Thế là mọi chuyện có thể xẩy ra: hoàng đế sẽ không tán thành ta. Tối thiểu thì ngài cử một đội quân sang do một tên Du Pont khác cầm đầu, vừa bước chân lên đây hắn sẽ tuyên bố thay thế ta.
Vừa đi vừa giảng giải dài dòng, Villegagnon cùng Just đã tới trạm canh phía tây. Ðô đốc đứng thẳng, nhìn ra biển rộng:
- Vì thế cho nên ta phải đích thân về nước trình bày. Ta còn một tàu, và đã ra lệnh chuẩn bị. Tám ngày nữa ta sẽ lên đường.
Just từ nãy đầu óc như rỗng tuếch, không biết nên quyết định thế nào: tháp tùng đô đốc về Pháp, hay còn khả năng nào khác?
Chàng đang lựa chọn thì nhận ngay được mệnh lệnh:
- Trong khi ta đi vắng, cháu sẽ nhận trách nhiệm đứng đầu đảo – Villegagnon tuyên bố trịnh trọng.
Mệnh lệnh ấy đến với Just như mũi tên trúng giữa trán. Xét cho cùng, như vậy là hợp lý, không cách nào khác. Le Thoret đã bỏ đi. Bois-le-Comte đã về và ở lại Normandie. Gonzagues đã hoàn toàn kiệt sức trong các cuộc xung đột tôn giáo. Các sĩ quan khác cũng tốt, song không có khả năng lãnh đạo. Villegagnon đã dày công dạy dỗ Just, coi chàng như thái tử kế nghiệp. Chàng có đủ đức tính cần thiết, chỉ thiếu lòng tự nguyện. Đô đốc dù vô tình, cũng cảm thấy điều đó, song lại nghĩ tự nguyện rồi sẽ đến bằng mệnh lệnh, nếu tốt hơn nữa bằng một lời tuyên thệ. Ông đưa ngón tay chỉ lên ngục Just, nói:
- Cháu hãy thề trên hương hồn bố cháu là sẽ giữ mảnh đất này cho đến khi ta trở về. Hãy thề bảo vệ lãnh thổ này chống bất cứ ai xâm phạm nó, thà hy sinh chứ không chịu đầu hàng.
Như mỗi lần có việc công, Villegagnon cất cao giọng với bộ dạng cường điệu đến lố bịch. Song đồng thời, thân hình cao lớn, dáng dấp nghiêm trang của ông cũng nói với Just rằng đây không phải chuyện để lẩn tránh hay đùa cợt. Chàng bất giác thốt lên:
- Tôi xin thề!
Và thế là chàng trở thành thống đốc của nước Pháp Nam cực.
༺༒༻
Paylo ngày càng yếu. Dù thời tiết tốt, mặt trời ló rạng, ông vẫn ho và nằm một chỗ. Người ta đưa ông ra sân nằm võng hàng giờ liền, bất động đến mức có lúc hai, ba con sóc chạy nhẩy và đến ngồi lên người ông. Tuy vậy ông vẫn nghe ngóng các tin tức mang tới. Ông biết Le Thoret, được ông cử người dẫn đường chu đáo, đã tới các cơ sở buôn bán của người da trắng, và từ đó đã về Pháp. Mấy hôm sau, lại có tin đưa về: con tàu cuối cùng đậu ở đảo đã nhổ neo, trên tàu có Villegagnon.
Colombe không rõ Just có rời đảo theo ông ta không. Từ khi được Le Thoret nói rõ nguồn gốc, nàng càng cảm thấy hai người có hai số phận riêng rẽ, thậm chí đối nghịch. Từ nay mối quan tâm chính của nàng là sắp xếp cuộc sống hòa nhập với thổ dân, tự tạo lập vị trí của mình để có tương lai sáng sủa. Paraguacu đi rồi, nàng ít ở với cánh phụ nữ, mà thích cuộc sống hoạt động của các chiến binh nam giới. Lúc nàng ngỏ ý ấy, họ có vẻ e ngại. Tục lệ Anhđiêng không muốn để phụ nữ dính tới việc phiêu lưu chiến đấu của đàn ông. Nhờ Paylo can thiệp, cuối cùng họ cũng dành biệt lệ cho Colombe. Hai người con trai của vị già làng nhận bảo trợ nàng. Họ dạy nàng bắn cung, vót tên, săn thú, hú giả các tiếng của rừng xanh. Rồi trong một buổi lễ do các phù thủy tổ chức, đẩy tràn những lời thần chủ và rượu cahouin, họ vẽ lên người nàng nhiều hình thù kỳ quái nhằm để thần linh phù hộ. Họ dán lên vai và thắt lưng nàng những chùm lông xanh và vàng. Ngoài việc gây cảm giác vướng víu khó chịu, bộ lông sặc sỡ ấy còn có tác dụng tránh cho người được trang trí khỏi bị thương và che bớt sự lõa lồ của thân thể.
Colombe tham gia chuyến đi săn đầu tiên cùng một nhóm mười người, và cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Ra đi từ mờ sáng, họ qua nhiều chặng đường, cảnh giác với mỗi tiếng động, ngủ dưới chân những ngọn núi cao, lội những con suối nước trong đến mức nhìn lầm con cả đứng im là đá.
Luôn phòng ngừa nguy hiểm, gặp điểu gì bất ngờ người trưởng nhóm đứng dừng lại, lặng im nghe ngóng, và Colombe cảm thấy rất yên tâm. Dù đi giữa rừng rậm âm u, nàng thấy luôn được che chở. Tối đến, họ đốt lửa, lấy thịt khô mang theo ra ăn. Một lần họ săn được con nai, giết thịt, ăn một phần còn bao nhiêu lại mang đi.
Trong những chuyến hành quân dài dặc, Colombe ngắm nhìn đồng đội, ngửi mùi da thịt họ, ngưỡng mộ sức mạnh của những bắp thịt cuồn cuộn dưới làn da bóng nhẫy. Nàng ngẫm nghĩ mãi có bao giờ nàng trở thành vợ của một trong số họ được không... Tuy nhiên, dù vẻ đẹp, sức mạnh của họ có sức hấp dẫn nhất định, nàng cảm thấy có một trở ngại bí ẩn cho ý tưởng ấy, mà nàng không thể nói rõ nguyên nhân. Phải chăng nét đẹp của người Anhđiêng thuộc một dạng khác, gần với thiên nhiên hoang dã? Mùi hương toát ra từ da thịt kia, dù khác hẳn, phải chăng cũng có họ hàng với mùi húng rừng, mùi kinh giới mọc đầy trên các sườn núi? Và sự mềm mại, tinh khéo, nhanh nhẹn của họ phải chăng là một dạng khác của sức mạnh những con báo và linh dương thoăn thoắt giữa rừng già? Song vừa nghĩ vậy, nàng đã xua ngay cách giải thích ấy khỏi đầu óc. Nàng tự thấy mình đã quá thân thuộc với mảnh đất mà nàng giẫm lên bằng đôi bản chân trần này, quá hòa hợp với cỏ cây và thú vật trong rừng này, sao lại có thể coi mình khác họ, để có thể ngăn nàng gắn bó với người nào đó.
Ðôi lúc, nàng nghĩ có lẽ trở ngại là ở đấy: phải chọn một người trong khi nàng thân với tất cả nhóm. Họ còn coi nàng là bạn nữa hay không, nếu nàng tỏ tình với chỉ một. Nhưng lý lẽ đó cũng không thuyết phục. Nàng liền xua đuổi nó khỏi đầu óc, giữ riêng suy nghĩ cho mình và trở về tận hưởng niềm vui sống hiện tại.
Sau mỗi chuyến đi, họ lại có niềm vui trở về với Paylo, với tiếng cười tiếng nói náo nhiệt trong nhà, với các lễ hội. Nhiều lần như thế, Colombe thấy mình trưởng thành rất nhiều. Paylo khen nàng dũng cảm, tường thuật lại những lời anh em nói tốt về cách xử sự, sự dẻo dai, nhanh nhẹn của nàng mà trước mặt, ít khi họ nói ra.
Tuy nhiên, ông già đã quá suy yếu, và Colombe quyết định tạm ngừng các chuyến đi để ở nhà chăm sóc ông.
Không gì có vẻ bất tử bằng những người ta thường thấy yếu ớt, dễ tổn thương. Với Colombe, Paylo là người không có tuổi, vậy không có tận cùng, dường như ông đã qua cái chết rồi và nói với nàng từ bờ bên kia cuộc sống. Song những biến chuyển gần đây, cổ và tay gầy khủng khiếp, hơi thở gấp gáp, mắt lờ đờ, miệng há hốc nằm im hồi lâu, chứng tỏ ông sắp đi đến hết cuộc đời.
Tất cả mọi người trong nhà đều đi lại, cử chỉ thật nhẹ nhàng để ông được ra đi trong thanh bình yên tĩnh, ai có ngờ đâu mọi việc lại rối loạn đến vậy. Vì đột nhiên một buổi sáng, có tiếng chạy và rượt đuổi ầm ầm ngoài rừng. Colombe vừa kịp nhổm dậy ngó ra cửa, đã thấy hai người xồng xộc lao vào. Buổi sớm tinh mơ, trong rừng thường sáng chậm hơn. Những mảng tối nhập nhoạng vẫn còn lẩn quẩn trong nhà khi ngoài trời đã sáng rõ. Lúc đầu, nàng chưa nhận ra là ai. Hai cái bóng cầm tay nhau, một người lớn hơn người kia và đều lõa thể, chứng tỏ đó là hai thổ dân. Paylo nằm ở phòng bên, cửa để ngỏ và có ánh đèn leo lét suốt ngày đêm. Tiếng đuổi bắt bên ngoài ngày càng gần, hai kẻ chạy trốn hoảng sợ chạy thộc vào phòng ông già. Ánh đèn soi vào mặt họ, và Colombe thốt lên một tiếng kêu: nàng nhận ra là Paraguacu, còn người đàn ông bên cạnh là chàng tù binh trẻ tuổi Karaya, mà trước đây nàng ngại không dám hỏi tin tức và cho là đã chết.
Cùng lúc, khoảng năm sáu chiến binh tay cầm chùy xông vào.
Định thần một lúc trong bóng tối, và khi trông thấy hai kẻ trốn chạy, họ lao tới, tay vung vũ khí. Nhưng lúc nhìn thấy vị già làng nằm đó, họ bỗng dừng cả lại, im lặng. Colombe cũng lẻn vào phòng. Paraguacu quỳ xụp xuống bên võng Paylo, van vỉ:
- Cứu chúng con với!
Karaya vẫn đứng và lùi một bước, nép vào vách.
- Chuyện gì vậy? – Paylo mệt nhọc hỏi.
Tiếng nói của ông đã rất yếu và cố lắm ông mới giữ yên được bàn tay đang giơ ra để ngăn cản cảnh giết chóc. Một chiến binh liền tiến lại gần, cất giọng còn hổn hển nhưng rất cung kính:
- Người này thuộc bộ tộc Margageat, đêm nay phải chịu hiến thân.
Karaya cúi mặt, có vẻ sẵn sàng chịu chết. Nhưng Paraguacu đã xấn lại như để che chở anh, lặp lại lời van nài:
- Người hãy cứu chúng con!
Paylo bỏ tay xuống, thong thả chớp mắt và gọi Colombe:
- Cháu đỡ ta dậy.
Nàng đến xốc nách đỡ ông ngồi trên võng. Ông nhăn mặt ra vẻ mệt, song đưa mắt nghiêm nghị lần lượt nhìn cả kẻ chạy trốn lẫn người đuổi bắt, nói:
- Các anh muốn ăn thịt hắn, phải không?
- Thưa, đó là luật – một thổ dân Anhđiêng đáp.
Paylo gật đầu:
- Ðúng.
Paraguacu khẽ kêu lên, song ông già đưa tay, ra ý chưa nói hết:
- Anh ta bị bắt bao lâu rồi? – Ông hỏi.
- Dạ, hai mươi tuần trăng.
Paylo gật gù, yên lặng một lúc lâu, miệng trệu trạo như Colombe chưa từng thấy. Cuối cùng ông nói:
- Nay ta đề nghị các người hãy ăn thịt ta, thì anh nói sao?
Người Anhđiêng mở to mắt, ngạc nhiên.
- Phải, ta đây, các người có đồng ý ăn thịt ta không?
Nói rồi, ông hất hàm chỉ thân hình gầy đét phẳng lì dưới tấm chăn.
- Ông Paylo! – Người Anhđiêng thốt lên, thực sự ngỡ ngàng.
- Đúng như ta nghĩ, – ông già nói tiếp, giọng vui vẻ một cách khác lạ – các người không muốn. Anh có biết tại sao không? Ồ, không phải vì ta quá gầy, mà vì lý do khác.
Ở phòng bên, nghe có tiếng rì rầm của người kéo đến xem.
Paylo nói chậm rãi:
- Để ta nói nhé. Các người không muốn ăn ta, vì các người đã ăn ta từ lâu.
Trên bộ mặt nhẵn nhụi, ngay cả lông mi cũng bị nhổ sạch, của người Anhđiêng lộ rõ về kinh ngạc đau đớn và sợ hãi.
- Ta ở đây đã hơn năm mươi năm – Paylo nói. Thử tính xem: là mấy trăm tuần trăng. Ông buồn bã gật đầu. – Thế mà trong suốt thời gian ấy, có ngày nào mà các người không ăn thịt ta. Có mảnh nào của thân thể mà ta không giao phó cho các người. Các người đã ăn trái tim ta, cánh tay, trí óc ta, mắt mũi, dương vật ta và bụng ta. Tất cả, tất cả, các người đã nhai, đã ngốn hết và đã tiêu hóa hết.
Nói xong một hơi dài, Paylo quá mệt, người lảo đảo. Song miệng ông vẫn lập bập, trông như vẫn đang đối thoại thầm những câu xã giao. Ông cố nói nốt, vừa nói vừa hất hàm chỉ Karaya:
- Cậu này cũng vậy, trong hai mươi tuần trăng, các người đã ăn đủ. Cậu ấy đã nằm trong các người, các người đã lấy được tình thần và sức mạnh cậu ấy. Cậu ấy đã thành người trong nhà. Luật đã được thực thi.
Người Anhđiêng đứng đầu nhóm có về lung lay, không nói được gì, vừa vì kính trọng Paylo, vừa vì xúc động trước vẻ hiền từ và nỗ lực của ông già. Cuối cùng anh ta chỉ nói được một câu với vẻ phục tùng nghe nể sợ hơn là dọa dẫm:
- E rằng thần linh sẽ nổi giận.
- Không đâu – Paylo đáp.
Ông đã kiệt sức, phải cố mới giữ cho đầu khỏi gục xuống:
- Không đâu – ông nhắc lại. Vì ta cũng sắp xuống với các vị thần linh đây, mà ta cũng sẽ là thần linh. Ta sẽ nói với họ những điểu ta vừa nói. Họ sẽ hiểu và nghe ra.
Lưng của ông già như gập xuống dưới sự đè nặng của thần chết. Chính là thần chết đã nói những lời vừa rồi qua miệng ông. Người ta có thể từ chối yêu cầu của một người sống, song không thể không nghe cái tiếng nói không còn của thế giới này.
- Cậu tên gì? Paylo ngước đôi mắt mờ đục nhìn lên người bạn trai của Paraguacu.
- Thưa, Karaya – chàng trai run rẩy đáp.
- Vậy thì, Karaya, ta mang cậu đi. Người ở lại đây không phải là cậu nữa, là một người khác... Người ấy từ nay tên là Angathu, và không ai đụng đến anh ta nữa.
Nói rồi, ông ngoẹo đầu, nhắm mắt.
Mọi người trong phòng đều quỳ xuống, cúi đầu. Một thời gian dài trôi qua, chỉ nghe tiếng thở dốc của người hấp hối. Im phăng phắc, và cái chết đã đến đón Paylo đi cũng với linh hồn của chàng trai ông vừa cứu vớt. Căn phòng bỗng có tiếng sột soạt, không ai biết đấy là tiếng thổi của gió hay tiếng vỗ cánh.
Lúc mọi người ngửng đầu lên, chỉ nhìn thấy đôi mắt Colombe lấp lánh bên người chết. Vừa tiếc thương mất Paylo vĩnh viễn, nàng vừa chua chát tiếp nhận bài học cuối cũng ông vừa dạy nàng. Nàng bỗng hiểu, dù gắn bó với cuộc sống Anhđiêng, có một cái gì ngăn nàng không được hòa tan vào đó. Paylo sẽ không bao giờ cứu được Karaya nếu ông không giữ nét độc lập khiến mọi người kiêng nể. Đúng là người Anhđiêng đã ăn thịt ông, nhưng chỉ vì tuân theo cái triết lý ăn thịt người của họ, đến lượt ông cũng đã ăn thịt họ đến mức ông đã buộc được họ chấp nhận khoan dung với Karaya, dù như vậy là trái với tục lệ.
Nhận thấy trong ánh mắt Colombe có cái nhìn sáng quắc của loài chim thiêng lưu giữ linh hồn người chết, thổ dân Anhđiêng hiểu ra rằng Paylo đã tranh sống lại trong người con gái ấy.