Thời kỳ này, nước Pháp sống yên bình, nhưng ngoài biên thùy thì chinh chiến liên miên. Từ cuối thế kỷ trước, với giấc mộng bành trướng sang phía đông của Charles VIII, Pháp đã chọn nước Ý làm chiến trường cho các tướng lĩnh của mình. Dù thắng dù bại, khi trở về họ vẫn đầy vinh dự. Nước Pháp thích thú với trò đi lật đổ các ngai vàng để rồi lại đánh mất nó ngay tức khắc, liên kết với nước này nước nọ chỉ để rồi lại cắt đứt, thi nhau xáo những con bài lớn nhất, con K, con Q, con mã, của trò chơi không có luật lệ ấy. Các chuyến đi liên tiếp của những giáo hoàng đầy mưu lược, của những ông hoàng say mê nghệ thuật và của những kẻ đi chinh phục đau đầu nhức óc với hết âm mưu này đến âm mưu khác đã mang lại mối lợi cho vương quốc Pháp: trong nước được hưởng thái bình, còn quân đội thì có việc làm ở nơi xa. Không gì, ngay cả vụ thấy trận ở thành phố Pavie bên Ý, có thể phá vỡ nổi an ninh quốc nội được lập lại từ sau cuộc chiến tranh Một Trăm Năm. Khắp nơi thóc chất đầy kho, chỗ nào cũng ê hề vải, rượu, gia vị và sản phẩm thủ công. Các ông hoàng chan hòa gặp gỡ thần dân; giới quý tộc an hưởng bổng lộc từ đất đai. Những lâu đài mới theo kiểu cổ, mang màu sắc Ý, mọc lên ở khắp nơi.
Ngài Gonzagues đang suy ngẫm như vậy về thế sự lúc đứng nhìn ra ngoài qua cửa kính tu viện. Mưa bụi vùng Noóc-măng-đi lâm thâm rơi trên cỏ xanh mướt đến não lòng. Cảnh thanh bình trải ra trước mắt: lũ bò đực no tròn, đàn dê gặm cỏ, đám bò cái vú căng sữa, rặng táo phủ kín những chùm hoa dày đặc còn trĩu nước mưa, hứa hẹn một vụ bội thu, lạ thay lại đè nặng lên tâm hồn người chiến binh già nua. Hai mươi năm nay, từ khi đeo chiếc thập tự xứ Malte và phục vụ dưới trướng ngài hiệp sĩ Villegagnon, đời ông toàn là binh đao, hành quân và đói rét. Ông đã chiến đấu với quân Thổ trước thành Alger, rồi sang Hung-ga-ri, rồi lại chiến đấu một cách vẻ vang nhưng không thu được lợi ích gì với các đế chế Sforza ở Milanais, với quân Anh ở Boulogne và cuối cùng đã phải chịu thấy thủ trước Tripoli. Và trong khi ông xông pha tên đạn, chịu thiếu thốn và bệnh tật, thì cánh đồng cỏ trước mặt ông đây vẫn không lúc nào thôi xanh tốt.
Thế mà lẽ ra ông đã có thể sống một cuộc sống êm ả trong cơ nghiệp của gia đình ở Agenais. Dù là em út, ông vẫn có thể được các anh chia một phần đất cho riêng mình để hưởng lộc suốt đời. Ý nghĩ đó luôn bứt rứt lòng ông từ khi ông đến vùng này. Nhưng rồi có hai di chứng những viên đạn còn găm trong người ông, một ở bẹn, một ở vai, khiến ông hồi nhớ thời binh nghiệp vẻ vang, kích thích ông nghĩ tới những chiến tích sắp tới. Suy cho cùng, mình cóc cần gì bò với ruộng…
Tiếng nói êm dịu của một nữ tu gọi đúng tên ông, chấm dứt hẳn cơn sầu muộn dằn vặt mới đè nén được phần nào:
- Ngài Gonzagues de La Druz, phải không ạ?
- Vâng, thưa mẹ, tôi đây.
Vóc người lùn mập, tròn trĩnh, mắt tinh nhanh và bộ râu nhọn hoắt, nhọn đến nỗi người ta tưởng như chính nó gây ra vết sẹo dài lộ rõ giữa hai ve cổ áo, ngài Gonzagues lại còn đeo một lô gươm dao, dù không ở ngoài chiến trường. Lúc ông đỏ mặt đứng lập nghiêm, tiếng binh khí kêu lách cách âm vang dưới vòm tu viện, khiến bà mẹ cả phải mỉm cười. Bà hiểu sự luống cuống của viên tướng già không phải do đứng trước mặt một nữ tu, mà do thấy mình đối diện với một phụ nữ thực sự. Hẳn bà cũng vui thầm trong bụng. Bà nhìn ông bằng đôi mắt xanh biếc, nói:
- Tôi mới nhận thư ông hôm qua. Vậy là ông cần tìm trẻ mồ côi để đưa sang Mỹ?
- Thưa vâng – vị tướng lúng búng, bụng rủa thầm tại sao ông Trời oái ăm xui khiến ông tiếp xúc với một nữ tu xinh đẹp dường này.
- Nhờ ngài thưa với hiệp sĩ Villegagnon rằng chúng tôi không mong gì hơn được giúp ích các ngài. Các ngài đem lời Chúa đi rao giảng ở các vùng đất mới, là làm việc vô cùng phúc đức. Nếu Chúa không đã dành cho tôi một phúc phận khác, ắt tôi sẽ là người đầu tiên xin đi theo các ngài.
Chỉ một lời nói ấy thôi đủ khiến ngài Gonzagues tội nghiệp muốn bay ngay đến mọi vùng man di mọi rợ: ông không sao tưởng tượng nổi mình lại bị tác động một cách tai ác đến thế. Song, ông vẫn đủ can đảm để nhếch môi gượng cười, khiến cho mấy cái lông thưa thớt trên mặt vểnh cả lên. Mẹ cả nói tiếp:
- Vậy là ngài cần kiếm trẻ mồ côi. Thời trước thì chúng tôi rất sẵn, các bà nữ tu kỳ cựu nhất của chúng tôi vẫn còn nhớ rõ. Nhưng đất nước ngày càng khấm khá, lo được tất tần tật mọi việc. Đúng là chúng ta còn nhiều người nghèo thật, nhưng may là chưa đến mức tín đồ của chúng ta bị cấm cửa thiên đàng chỉ vì không có tiền bố thí cho kẻ khó. Nhưng, thưa ngài, trẻ mồ côi thì thật là không còn, không còn nữa…
Mẹ cả lắc lắc cái đầu có đường nét tuyệt mỹ của hình thể và của sự thánh thiện.
Vốn là người không chịu khuất phục lâu – dù trước vũ khí của đàn bà ông thường tỏ ra yếu đuối, bất lực hơn – Gonzagues hỏi thẳng vào vấn đề, hy vọng sớm chấm dứt câu chuyện:
- Có nghĩa là mẹ không có ai để giới thiệu?
Song mẹ cả chưa chịu thua. Giữa những bức tường đá lặng lẽ âm u này, dường như mẹ muốn kéo dài những dịp được trò chuyện cho khuây khỏa. Mẹ vừa suy nghĩ vừa thong thả đi một vòng quanh phòng ra tới tận cửa sổ, mơ màng nhìn ra cây táo ngoài vườn:
- Không, có, có chứ, ngài yên tâm.
Gonzagues thốt lên một tiếng mừng rỡ, suýt nữa thì văng ra một câu “Bố khỉ!” thô tục.
Vẫn có, vì tội lỗi luôn hiện diện, và những lần hỗn loạn về xác thịt vẫn sản sinh ra những đứa trẻ ngoài hôn thú. Biết bao cô gái khốn khổ bị nhục dục cám dỗ đành vứt bỏ chúng và các xứ đạo lại đẩy đến chỗ chúng tôi. Nhưng xem ra càng ngày càng nhiều gia đình chấp nhận những đứa trẻ báng bổ Chúa ấy.
Mẹ hạ giọng xuống như tâm sự:
- Mà một số cha xứ lại còn khuyến khích họ theo hướng ấy. Ngài biết không, ở những làng ven biển nơi dân chài thường vắng nhà lâu ngày, lắm ông thầy tu quả quyết với con chiên rằng thời gian mang thai kéo dài lâu mau tùy theo từng người. Tôi nghe người ta kể một cách nghiêm chỉnh trường hợp một đứa trẻ sinh ra sau mười tám tháng người mẹ mang thai. Cả làng đều khen ông Tạo khéo xếp đặt để nó cố chờ đợi lúc ông bố về rồi mới ra đời. Và ông bố khờ khạo vẫn tấm tắc khen con giống mình như đúc…
Nghe nói về bí ẩn xấu xa của quá trình mang thai và sinh nở, ngài Gonzagues cúi đầu nín thinh, lòng đầy phẫn nộ. Chủ soái của ông, ngài hiệp sĩ Villegagnon, nói phải cải tổ cái giáo hội nước Pháp vì quá phồn vinh mà sinh hư hỏng, là rất đúng. Không tưởng tượng nổi sự sa đọa đã đến mức ấy trong khi ông phải chiến đấu đánh lùi bọn dị giáo ở tận đâu đâu. Lại cái bà nữ tu vẫn nhơn nhơn nói cười này nữa! Bà ta còn tỏ vẻ thích thú trước sự phẫn nộ mà ông tưởng đã cố kìm giữ được – không kể tiếng lách cách của thanh kiếm bên hông do cơn phẫn nộ của một người xứ Gat-xcô-nhơ chân chính khiến chân ông cứ rung rung.
- Là tôi không muốn giấu ngài điều gì. Cơ sở tôi hiện đang nuôi giữ tám trẻ mồ côi. Bốn đứa là con gái, mà trong thư ngài nói không lấy con gái. Trong số con trai, một đứa có tật bẩm sinh tiên thiên bất túc, dở ngô dở ngọng. Ba đứa kia thì bé quá: mới lên bốn và lên sáu, chả là có hai đưa sinh đôi.
Gonzagues lập tức nói luôn, vừa nói vừa thở như sau một sự cố gắng dài đầy vất vả:
- Thưa mẹ, nếu vậy, cho tôi được thành thật cảm ơn, và xin kiếu từ.
Nơi ông đến đây là tu viện thứ ba. Về phía Le Thoret, cũng đang có nhiệm vụ như ông, chắc cũng đã mò tới ngần ấy chỗ. Đâu cũng trả lời như nhau, và than ôi, đâu cũng thấy đạo đức suy đồi, cả cái bà nữ tu trời đánh này nữa, chưa bao giờ ông gặp ai khêu gợi sỗ sàng đến thế. Thà dứt khoát như vậy cho xong, để ông còn đi nơi khác – trong danh sách còn hai địa chỉ nữa.
Nữ tu đặt bàn tay lên áo ông:
- Khoan đã. Tuy đã khá gấp rồi nhưng dù sao thì cũng không phải lý do để ngài không có thời gian nghe tôi nói tiếp.
Bị bàn tay hiểm độc chạm phải, Gonzagues thoắt cứng nghiêm người như kẻ chịu nạn. Nữ tu khoan thai nói tiếp:
- Ngài hỏi xin trẻ mồ côi, nếu là con nhà cùng khổ càng tốt. Vì vậy tôi nói là không có. Nhưng có lẽ chúng ta chưa bàn đến những khía cạnh khác. Phải chăng ngài cần trẻ con để luyện cho chúng thành thông dịch bên những thổ dân Brésil, đúng không ạ?
Gonzagues nghiêm nghị gật đầu thay lời đáp.
- Ngài cần những đứa nghèo khổ, chắc chỉ vì ngài nghĩ dễ đưa chúng đi hơn?
Lại một cái gật đầu nữa.
- Nhưng nếu tôi giới thiệu những đứa có gia cảnh khá hơn, ngài có đồng ý không?
Một lần nữa, Gonzagues gật đầu đồng ý.
- Nếu vậy, mời ngài đi theo tôi.
༺༒༻
Chạy lon ton theo sau cái bà mẹ cả quỷ quái đang nhanh nhẹn rảo bước, ngài Gonzagues đi xuyên suốt chiều sâu của tu viện. Họ gặp nhiều nữ tu sĩ, cả người có thâm niên lẫn người mới. Không phải tất cả đều xinh đẹp, song họ đều mặc áo tu một cách thoải mái, điều này khiến ông hiệp sĩ xứ Malte không thể đánh giá tốt được. Trên môi họ luôn phảng phất nụ cười vui vẻ hơi quá trớn. Sự có mặt những người như thế ở một nơi chuyên phụng thờ Chúa là một tội lỗi. Lại thêm mùi sáp nồng nặc bốc lên từ sàn đá, nơi đặt hàng loạt ngọn nến đều thắp lung linh dù không phải ngày lễ trọng. Qua những cánh cửa mở, thấy những ngăn tủ to đầy ắp những thứ tiện nghi mà lẽ ra con chiên của Chúa phải nguyện không được dùng. Suốt đường đi, Gonzagues cố luôn nhìn thẳng phía trước, tránh không ngó ngàng để khỏi bị cám dỗ. Cuối cùng, qua mấy bậc đá, họ đi vào dãy hành lang xây trên một cây cầu. Nữ tu chỉ về phía trước mặt, nơi có mấy cửa sổ soi sáng, nói:
- Cuối hành lang này là bờ bên kia rồi, ta có thể vào rừng và vào làng. Đôi khi chúng tôi theo lối này vào làng làm lễ.
Gonzagues không nói gì, nhưng lòng giận sôi lên vì cái lối ra đáng ngờ này. Ông nghĩ đến bao sự qua lại lén lút có thể diễn ra nhờ con đường kín đáo.
Đến giữa hành lang, họ dừng lại. Một phòng nhỏ xây trồi ra trên một trụ cầu. Nữ tu mở cửa, dẫn ông vào bên trong. Hai mảng cửa kính lớn nhìn ra sông, một ô để mở nghe lọt tiếng nước chảy rì rầm: nơi này thật thuận tiện cho những cuộc bàn bạc kín. Một chiếc bàn hình tam giác và ba ghế đẩu là những đồ đạc duy nhất. Nữ tu ngồi xuống một ghế, ra hiệu cho Gonzagues ngồi theo, rồi nói, vẫn với nụ cười mà hình như chính bà gieo rắc tại đây, bất chấp lời thề nguyện khổ hạnh.
- Ta chờ một lát, không lâu đâu.
Gonzagues im lặng, ngồi ngay ngắn trên ghế, lúng túng vì binh khí lỉnh kỉnh trên người một phần, phần chính là vì phập phồng cảnh giácTiếng nước róc rách, tiếng chim ríu rít bên ngoài khiến người chiến binh già thấp thỏm, dù đã quen với những cuộc phục kích, với những tiếng rúc giả chim muông mà chiến hữu dùng để liên lạc với nhau trong rừng. Hai phút trôi qua, một phụ nữ nữa mở cửa bước vào, lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế thứ ba, gật đầu chào hai người. Người mới đến không mặc áo nữ tu, vậy mà không hiểu tại sao Gonzagues lại thấy ở bà vẻ khiêm nhường, ngoan đạo hơn tất cả các cô gái nhí nhố gặp lúc nẫy. Giống như ông, người này có vẻ đã vất vả vật lộn với cuộc đời đến tận tuổi năm mươi bây giờ và tỏ ra mệt mỏi nhưng thanh thản. Những nếp nhăn trên mặt bà mà ngài Gonzagues thầm so sánh với mấy vết sẹo dài của mình do chiến tranh để lại, được làn phấn thoa nhẹ khóe léo che giấu, mái tóc búi gọn gàng, cách ăn vận bình dị nhưng không kém phần kiểu cách. Tai đeo đôi hoa nhỏ lóng lánh vừa đủ để nổi lên trên nền bộ váy áo đen, có đăng-ten viền quanh cổ và cổ tay. Gonzagues thầm biết ơn người phụ nữ bằng dáng điệu khoan thai lịch sự đã xóa đi những ấn tượng không hay ông có từ lúc đến đây. Ông chỉ để lộ niềm thích thú bằng một chút ươn ướt, rân rấn trong mắt phải mà ông vội kín đáo lấy tay áo quệt nang, tránh không phải khóc thực sự trước mặt người lạ.
Tiếc thay, lúc mà người đó xuất hiện, mẹ cả lại không biến mất đi cho rồi:
- Xin giới thiệu với bà, ngài Gonzagues de La Druz, hiệp sĩ xứ Malte.
Người đàn bà cất tiếng bằng một giọng nói rất phù hợp với tính cách của mình, vừa nghiêm nghị vừa từ tốn:
- Thưa ngài, tôi rất lấy làm hân hạnh. Và xin cảm ơn mẹ cả đây đã vui lòng giới thiệu tôi với ngài.
- Ồ, chuyện nhỏ ấy mà. Mẹ cả cười đáp lại – chúng tôi chịu ơn bà nhiều. Bà là ân nhân tu viện chúng tôi từ bao năm nay…
Người phụ nữ hạ thấp giọng, người run run vì xúc động:
- Vâng, chúng tôi luôn đền đáp ơn Chúa đã ban phúc lộc. Chúng tôi luôn vâng theo lời răn của Người khi nó thuận lợi với mình và không quên nhớ rằng nếu lúc nào đó không thuận lợi thì vẫn đinh ninh một dạ. Tiếc rằng lúc này tôi đang ở trong trường hợp không thuận lợi.
Trốn chạy là một từ mà ngài Gonzagues đã loại bỏ trong vốn từ ngữ quân sự của mình, nhưng, trong hoàn cảnh này thì ngài lại sẵn sàng làm việc ấy, nếu trốn chạy lúc này là vẻ vang. Bà nói tiếp:
- Thưa ngài, biết ngài sắp lên đường, tôi không dám làm ngài bận tâm phải nghe kể lể nỗi bất hạnh của chúng tôi. Nhưng mẹ Catherine đây mới cho biết: ngài cần những đứa trẻ để đưa sang lập nghiệp ở châu Mỹ, phải không ạ?
- Vâng, thưa bà, ngài Gonzagues khẽ nhè một cục đờm vào chiếc khăn tay và khò khè nói:
- Nếu vậy, ngài sẽ không mất công vô ích nghe những gì tôi nói. Tôi sẽ rất vắn tắt.
Bà cụp mắt xuống rồi lại ngước lên đăm đăm nhìn những ô kính màu hình thoi nho nhỏ ở cửa sổ:
- Thế này, em út của chồng tôi đi lính, chiến đấu ở Ý phục vụ hoàng đế nước Pháp, rồi còn phục vụ nhiều ông hoàng khác nữa. Ba năm nay không có tin tức gì. Thế rồi, trước khi bặt tăm, chú ấy gửi về Ý hai đứa trẻ. Cứ cho rằng chú ấy là bố chúng, nhưng không biết người mẹ là ai. Thôi, ta bỏ qua, đời lính tráng mà, tôi đâu dám phán xét. Họ lắm vinh quang và cũng lắm tật.
Quả là nhiều binh lính và tướng tá đã mắc vào những chuyện đó trong khi chinh chiến ở Ý. Một số lại còn rơi vào bẫy tình của những mụ vô lại đã từng lôi cuốn được cả những người dũng cảm nhất. Ngài Gonzagues cũng đã tham gia vào những chuyện điên rồ ấy nhưng vẫn còn tự kiềm chế được đối với những nỗi đam mê quá cuồng dại – trừ phi là ông không có khả năng khêu gợi được loại tình cảm mạnh mẽ, điều mà, mỗi khi nghĩ đến, lại làm cho ông buồn bã. Dù sao, lúc này, từ miệng phu nhân này nói ra, những việc điên rồ ấy đối với ông cũng thật đáng ghét. Ông không dám hỏi tên người lính nọ, sợ rằng, chẳng may mà mình quen biết anh ta, thì sẽ bị coi là góp phần trong nỗi ô nhục ấy.
- Chúa chứng giám cho rằng khi hai đứa trẻ được chú em giao cho chồng tôi, thì chúng đã được nuôi dưỡng êm ấm trong gia đình tôi, bất kể nguồn gốc tội lỗi từ đó chúng ra đời. Hỡi ôi, cơ nghiệp chúng tôi, ở cách đây vài dặm, đã bị ông Trời gieo họa không thương tiếc. Đủ các thứ dịch bệnh làm cây cối và gia súc chết hết. Tháng tám là mùa mưa, thì đồng ruộng ngập úng, sau đó là sâu bọ, châu chấu, mưa đã tàn hại tất tật. Đã thế, ba lần liền bọn bô hê miêng lại tràn qua cướp hết đồ đạc và của cải. Tóm lại, thưa ngài, gia đình chúng tôi trước đây thuộc loại khá giả, nay không thể nói gì khác hơn là rơi vào cảnh bần hàn.
Chưa lúc nào bằng lúc này Gonzagues thấy bực mình với số binh khí đeo trên người, chúng đã chẳng có ích gì cho ông, lại còn kêu lanh canh khi ông nhét lại khăn tay vào túi.
- Và bây giờ bà lại chịu cái họa nặng cuối cùng nữa – cho đến lúc này, mẹ cả vẫn ngồi yên, bây giờ bà mới đưa ra một lý lẽ cuối cùng nặng cân nhất. Phu quân của bà đây, một lãnh chúa danh giá, lâm bệnh nặng và qua đời cách đây ba tháng, sau một đời vất vả, với nhiều điều không may.
Nghe nhắc đến tang chồng, người phụ nữ ứa nước mắt và đưa bàn tay run rẩy lên lau nhưng rồi cuối cùng chỉ bôi nhoe nhoét thêm. Mẹ cả tiếp:
- Trước mặt ngài đây là một người vợ và mẹ đáng kính, trong muôn ngàn đau thương vẫn lo lắng đến trách nhiệm của mình. Trong phá sản và cô đơn, bà biết ngôi nhà của Chúa luôn sẵn sàng giơ tay đón tiếp, và chúng tôi sẽ đền đáp biết bao công ơn mà bà dành cho tu viện bấy lâu nay. Nhưng bà không đành, vì không thể bỏ rơi hai đứa trẻ được giao phó. Tương lai chúng sẽ ra sao? Bố của chúng trước đây còn có thư về hàng tháng, nhưng từ lâu đã bặt tin, có lẽ đã từ giã cõi đời này rồi. Cơ nghiệp rồi phải phân tán hoặc bán đi. Vậy hai đứa trẻ tội nghiệp sẽ đi đâu? Vào cửa Chúa chăng? Chúng lại không có thiên hướng về mặt đó. Chẳng thể trách được chúng, chúng vốn được sinh ra trong tội lỗi. Rồi Đức Chúa Giêsu sẽ tìm đến chúng, dù chúng ở phương trời nào. Gắn đời chúng với Chúa khi chúng chưa muốn là không nên, sẽ mang tội cưỡng ép.
- Xơ Catherine nói phải – người phụ nữ hưởng ứng. Tôi còn nghĩ xa hơn. Thôi thì hai đứa trẻ không còn gia đình nữa rồi, nhưng tôi muốn cho chúng một cơ may để lập gia đình mới. Chúng phải bắt đầu lại từ đầu, có một cuộc sống mới, quên đi những khổ đau của quá khứ. Vì vậy khi nghe nói đến “Tân thế giới”, tôi vội đến đây để cầu xin ngài đoái thương hai đứa, vui lòng mang hai cháu đi theo.
Hy vọng lóe trở lại trong lòng Gonzagues. Qua những lời tâm sự rắm rối nọ, ông đã thấy hé mở lối ra. Việc người phụ nữ cầu xin thật rõ ràng, đơn giản. Dưới mắt ông, làm được điều phúc cho ai vẫn là châm ngôn hàng đầu. Giả thử ông có ngại ngần gì nữa thì ánh mắt cao quý của hai người phụ nữ, một rưng rưng lệ, một đầy nhiệt thành tuy từ bỏ đời trần tục, đã đánh tan mọi do dự cuối cùng.
- Chúng bao nhiêu tuổi?
Người phụ nữ ngập ngừng.
- Tôi không nhớ rõ, vào khoảng mười một và mười ba.
- Thế là được – Gonzagues gật đầu.
Rồi, do dự một lát như e lệ, ông hỏi nhỏ:
- Đứa lớn đã… hoàn chỉnh chưa?
- Nó đã có lông tơ trên mép, da nó nâu sẫm nên trông rất rõ. Nhưng tôi nghe bà trông nom chúng nói chắc như đinh đóng cột: nó chưa phát triển đầy đủ thành đàn ông.
- Chúng có bằng lòng đi không?
Có thể những câu hỏi như thế này đã được tiên liệu trước, nên lời đáp cũng đến một cách dễ dàng, tự nhiên:
- Chúng sẵn sàng rời bỏ lâu đài. Chúng chỉ mong cơ hội được gặp bố – mà chúng chỉ nhớ một cách mơ hồ. Nếu bảo với chúng là chúng đi gặp bố, thì đi đâu chúng cũng đi.
- Nhưng bà có biết chúng đi là sẽ đi vĩnh viễn, không bao giờ trở lại?
- Tôi không mong gì hơn là được thấy chúng tham gia công cuộc chinh phục những miền đất mới như tổ tiên chúng đã từng đi chinh phục, nhưng rồi lại để mất.
- Về chuyện ấy, xin bà yên tâm. Tôi xin đảm bảo.
Nói rồi, Gonzagues đứng dậy trong tiếng gươm đao lách cách.
Tiếp theo là một loạt các cử chỉ xã giao xúc động, cảm ơn, cúi chào… mà Gonzagues phải chịu đựng như một thử thách cuối cùng: ông vẫn sợ bà nữ tu còn bày trò chèo kéo gì nữa.
- Nào, bây giờ cho tôi gặp hai đứa. Chúng đâu?
Mẹ cả đáp lời thay:
- Thưa ngài, chúng hãy còn ở nhà, cách đây vài dặm. Ngài hiểu cho, chúng chưa biết gì, vì chúng tôi còn phải chờ ý kiến ngài hôm nay. Giờ ngài đồng ý nhận, chúng tôi sẽ báo để chúng chuẩn bị. Đúng hôm tàu nhổ neo, chúng sẽ đến trình diện ngài ở bến.
Gonzagues thoáng chút do dự: chưa được nhìn tận mắt… Ông cân nhắc nhanh chóng rồi gạt đi ngay trước sự đau khổ của người phụ nữ hiền lành nọ. Vả lại, ông đã chót hứa.
- Ba hôm nữa, tàu chúng tôi rời bến Havre-de-Grâce.
- Sẽ có xe đưa chúng đến tận nơi hôm đó – bà nữ tu khẳng định.
Họ ra hành lang. Người đàn bà dè dặt cảm ơn một lần nữa rồi đi về phía rừng, chắc ở đó có một con ngựa đang chờ bà. Gonzagues rảo bước quay trở ra nơi buộc ngựa. Năm phút sau, ngồi trên lưng ngựa rồi, ông mới giật mình: quên chưa hỏi tên họ người phụ nữ. Rồi gạt sang một bên nỗi lo lắng cuối cùng ấy, ông bật nói thành tiếng trong luồng gió ẩm ướt:
- Ôi dào! Không sao. Chắc chắn đó là một gia đình danh giá.