Bresil Đỏ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

Có những thắng lợi không làm ta vui. Chiến thắng của Villegagnon vừa rồi là một ví dụ. Để suy ngẫm, ông tự giam mình trong phòng, ăn ngủ tại chỗ, hai ngày rồi không thấy ra ngoài. Mà thực ra hai ngày đó ông có làm việc gì đâu, chỉ đi đi lại lại rồi thở dài. Thỉnh thoảng ông dừng bước, kêu lên một tiếng và đấm thật mạnh lên bàn.

Không suy nghĩ sao được, hở trời! Đưa văn minh đến xứ sở mọi ăn thịt người này là một việc làm đúng đắn, cần thiết, vẻ vang. Nhưng để tiến hành sự nghiệp vĩ đại ấy, ông biết trông cậy vào ai đây? Toàn bọn hèn nhát và lười biếng, bọn tù tha và thợ thuyền kém cỏi. Chính trong cái đêm bọn cướp bị đánh tan, đã có ba chục tên như thế nhẩy lên bốn sà lúp bỏ trốn lên rừng. Chúng thích tung tẩy với bọn Anh điêng hơn là ở lại sống đời lương thiện.

Villegagnon đã ra nghiêm lệnh từ nay khu lán trại thợ thuyền phải được canh gác ngày đêm. Một lính canh thường trực ngủ ngay tại bến sà lúp. Ngoại địch đâu chưa thấy, hiểm nguy bây giờ là ở sự thối nát bên trong. Chả lẽ bỏ dở sự nghiệp? Chỉ nghĩ điều đó đã làm ông đau nhói trong tim. Năm 1540, trước tường thành Alger, dưới trời mưa, lúc Charles Quint – mà ông đi theo phục vụ theo yêu cầu của dòng hiệp sĩ xứ Malte – cho lệnh rút lui, một mình ông số số hai vạn hai ngàn quân, trong đó có bốn trăm hiệp sĩ, đã uất ức quay lại cắm kiếm trước cổng thành, vì thế mà phải lĩnh một phát đạn vào cánh tay trái cùng bao lời mai mỉa. Mặc, ít nhất ông cũng gào lên được với kẻ thù nấp trên thành cao: “Chúng tao sẽ trở lại!”. Thế mà cái thằng Quạ khốn kiếp ấy lại…

Càng nghĩ, Villegagnon càng thấy mình đã sai lầm, giao việc chăn dắt các tâm hồn cho Thevet. Lão này chẳng đáng một xu với vai trò tu sĩ, mà tu sĩ gì lão, chỉ có mỗi cái áo thụng khoác ngoài, còn bên trong thì rỗng không, mà đấy là chưa kể lắm lúc lão cũng chẳng buồn cài áo nữa. Cũng chẳng trách lão nhạc đạo, lão chính là hình ảnh của cái Giáo hội nước Pháp đã hư hỏng chỉ biết chăm lo quyền lợi phàm tục. Được cái lão không mê bổng lộc hay đàn bà, cái lão mê chỉ là khoa học. Có thể miễn tội cho lão.

Nhưng vấn đề vẫn tồn tại nguyên vẹn. Ngài đô đốc đã viết thư cho nhà vua và cho Coligny để xin thêm viện binh, nhân lực và tài trợ. Hai ngày nữa, thư sẽ được gửi theo tàu Grande-Roberge. Song dù những yêu cầu của ông có được đáp ứng – điều này ông chưa dám chắc – thì vẫn còn lại vấn đề chính: đó là sự chăn dắt linh hồn cua những tên khốn nạn ấy, là xương sống tinh thần của nước Pháp Nam cực, là linh hồn của miền đất Genèbre.

Genèbre là cái tên êm ái ông gọi vùng đất mới chiếm này. Genèbre vang lên từa tựa Geneviève, mà Geneviève là tên người con gái mười lăm tuổi đã cự tuyệt ông lúc ông là chàng trai hai mươi. Genèbre Geneviève, Genève.

Calvin!

Nắm đấm của Villegagnon đập mạnh xuống bàn, làm chiếc bình sắt nhẩy dựng lên.

Calvin! Genève! Calvin, nhà cải cách ở Genève, Calvin nhà tư tưởng vĩ đại đang kêu gọi cải cách đức tin, Calvin, con người thông thái, con người khác hẳn với cái lão Luther thô bỉ chỉ gây rối loạn và suy đồi trong xã hội Đức, nhưng may quá, lão Luther đã chết cách đây mười năm cầu cho lão ta sa xuống chín tầng địa ngục. Calvin bạn thân ông!

Dù sau này đường đời rẽ đi hai ngả, Calvin và Villegagnon từng là đồng môn ở Đại học Orléans. Vì ngài đô đốc lúc đầu không định ngả về binh nghiệp. Gia đình ông thuộc loại tiểu quý tộc pháp đình ở Provins, ai nấy đều theo nghề luật. Học luật xong, Villegagnon đã đăng ký làm luật sư ở Paris. Nhưng đến tuổi hăm mốt thì ông chọn ra con đường đi thực của mình. Có phải tại ba thanh kiếm cắm xuống cát, là biểu tượng trên huy hiệu của dòng hiệp sĩ cứ Malte? Có phải tại những sách truyện phiêu lưu ông đọc hồi nhỏ? Có phải tại khuôn viên tòa án quá chật hẹp với sức dài vai rộng của ông, khiến ông thích hợp với việc hành quyết hơn là việc bào chữa? Có phải tại mối thất tình với Geneviève? Chỉ biết là cuối cùng ông chọn choàng vào mình tấm áo có thập tự trắng của dòng hiệp sĩ cứ Malte.

Tuy nhiên, khi nhìn lại quá khứ, điểm lại những nhân vật ông từng gặp, ông luôn luôn thấy mình khâm phục các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ và triết gia. Với ông, Cicéron, Plutarque, Justinien, Alciat là những thần tượng. Và Calvin, với cuốn Thể chế của đạo cơ đốc xuất bản cách đó hai mươi năm, nằm trong số đó.

Sự ngưỡng mộ vẫn nguyên vẹn dù từ ngày ấy hai người không gặp lại nhau. Nghĩ tới Calvin, Villegagnon vẫn hình dung thấy cậu học trò xanh xao cặm cụi trên trang sách, cậu thanh niên gầy gò và sôi nổi do gặp chuyện bất ưng trong gia đình nên luôn vươn tới đỉnh cao trí tuệ để trả thù.

Thật không ngờ cậu học trò ấy lại viết nên những trang Thể chế tuyệt vời. Cuốn sách đã gây bao cuộc tranh luận, bao lời công kích, điều ấy ông không quan tâm. Ta đang sống ở thời đại có nhiều tư tưởng mới, táo bạo. Villegagnon tin rằng Calvin, người chủ trương quay về với những nghi thức đơn giản thời kì đầu của Giáo hội, sẽ là người giúp ông vũ trang tinh thần cho đạo quân ô hợp của mình đang rệu rã.

Ông liền thắp một ngọn nến, vì lúc này trời đã tối, lấy giấy bút viết thư cho Calvin. Trước hết, ông gợi lại tình bằng hữu đã qua, rồi mô tả công việc ông đang theo đuổi, có tô vẽ một chút nhưng không xa sự thật là mấy. Ông nói nhiều về viễn cảnh vinh quang của nước Pháp Nam cực, song thú thật rất cần một sự viện trợ tinh thần để lên dây cót cho đoàn quân của ông. Calvin cần phái đến giúp ông bao nhiêu mục sư? Sau khi nghĩ kỹ – trước đó ông đã để trống con số – ông nhủ thầm: năm là đủ, song muốn có năm, có lẽ phải xin gấp đôi. Ông liền viết: mười. Rồi lại dừng để nghĩ, rồi lại cầm bút. Đã bạo mồm xin, ông mạnh dạn viết thêm rằng nếu gửi sang một số gái chưa chồng thì càng tốt cho công việc. Tất nhiên sự có mặt của phái yếu ở chốn thâm nghiêm này có thể gây nhiều phức tạp, song thực tế đã khiến ông mở mắt. Có cấm gì thì những tên đàn ông vũ phu này cũng kiếm ra được. Thà rằng đưa vào tay họ những cô gái nhà lành, sẽ giúp làm cho các quan hệ đạo đức ổn định. Như vậy, hôn lễ đầu tiên sẽ được tổ chức với các cô gái từ Genève gửi sang. Ai chưa có may mắn này ít nhất cũng lấy đó làm gương để điều chỉnh quan hệ với con gái thổ dân. Thêm nữa, nếu Calvin kiếm được ở Genève những thợ khéo, những nông dân chăm chỉ và các loại người khác đủ ý chí và đức tin, sẵn sàng cống hiến vào sự nghiệp lớn ở Brésil, thì xin cứ gửi sang.

Lúc gắn dấu xi vào phong thư, Villegagnon bỗng tỏ ra phân vân. Chắc gì Calvin đã đáp ứng yêu cầu của mình, ông ta còn bao công việc và tham vọng khác. Mà nếu ông ấy đáp ứng, thì dư luận Paris sẽ nói sao? Villegagnon thừng than cận với dòng họ Guise – cũng là hiệp sĩ xứ Malte và phó đô đốc Bretagne như ông – liệu ông có bi quy là phản bội khi cầu đến những người mà Giáo hội nghi kỵ? Calvin vốn bị coi là thuộc phái huygơnô, bị bỏ cùng một giuộc với Luther.

Villegagnon còn đi đi lại lại một hồi nữa. Cuối cùng, ông tặc lưỡi gạt bỏ mọi do dự, như xua đuổi lũ bướm đêm mà cây đèn của ông thu hút vào. Ông nhớ lại không khí trong lâu đài công tước Ferrace mà ông từng lui tới. ở đây, phu nhân công tước, nguyên là công chúa Renée de France, con vua Louis XII, tỏ ra có trí tuệ uyên bác, khoan dung, cho phép bàn bạc mọi thứ chuyện chung quanh các tư tưởng mới. Phu nhân tiếp nhiều giám mục, vậy mà Calvin vẫn được phu nhân đánh giá cao. Người ta còn bảo Calvin là cố vấn tinh thần thân cận của phu nhân.

Villegagnon cố kìm hãm không đập bàn nữa vi sợ làm tắt đèn. Đó! Ông muốn Genèbre này cũng là một miền đất như vậy: Một nơi yên bình ở đó ai cũng có chỗ đứng, và mọi ý tưởng táo bạo đều được phát huy để nuôi dưỡng niềm tin thực sự, niềm tin phù hợp với các tầng lớp xã hội có nguồn gốc bình dân, với sự hỗ trợ tự nhiên của hoàn cảnh nơi đây.

Ông tạm cất lá thư vào trong bàn gỗ mun cùng với những thứ khác sẽ gửi theo tàu Grande-Roberge. Rồi, ông gieo mình xuống chiếc võng mắc ngang giường, trong tiếng cọt kẹt ghê sợ của mộng gỗ bị ẩm thấp và mối mọt ăn, và lập tức ngáy khò khò.

༺༒༻

Sau chiến thắng, nhiều tin không vui dồn dập tới. Trước hết kiểm lại những tên bỏ trốn, thấy có nhiều đứa thuộc những nghề chủ yếu, như thợ mộc, thợ rèn, và một thầy bốc thuốc. Tiếp đó, trong khi đi lấy nước ngọt, thủy thủ bị tấn công và bốn người bị tên bắn dày đặc. Lúc đưa xác về, xem xét các mũi tên thì đúng là vũ khí thường dùng của thổ dân, làm bằng cây sậy, mũi bằng xương và có lúc bằng đuôi cá đuối độc. Rõ ràng là không còn trông đợi được gì ở sự thân thiện của thổ dân Tupi nữa, ít ra là thổ dân ở bờ biển gần đó, họ đã nằm dưới sự khống chế hoàn toàn của bọn thông dịch bị đánh tan tác kia. Vậy là nguồn thực phẩm tươi sống từ nay không thể trông cậy vào đất liền, phải cầm cự bằng những thứ bột, sắn, đồ khô mà may mắn Villegagnon đã cho mua dự trữ bấy lâu nay. Cũng phát hiện ra là dưới các gầm tàu còn tồn đọng một số thùng hạt giống chưa đưa lên bờ: lúa mì, lúa mạch, củ cải, bắp cải… có thể gieo trồng. Tuy nhiên, do ý đồ tăng cường năng lực phòng thủ của đảo, Villegagnon cho xây dựng khắp nơi nhà cửa và công sự, không để thừa mảnh đất nào để trồng trọt, bây giờ khắc phục thì đã quá muộn. Vả lại, khi xem kỹ, thì phần lớn hạt giống đã hỏng vì ẩm móc và mối mọt. Mọi hy vọng chỉ còn trông chờ vào sứ mạng con tàu Grande-Roberge. Nếu trót lọt, nó sẽ mang về đủ thứ cần thiết. Nếu phải chờ sáu tháng, thì sẽ thắt lưng buộc bụng và nếu cần, tìm đến các cửa hàng của người Noócmăng mua vài thứ – đó là điều sỉ nhục mà Villegagnon hy vọng tránh đươc.

Tối trước ngày tàu Grande-Roberge nhổ neo, đô đốc mời các sĩ quan cao cấp, Thevet và hai cậu thị đồng đến dự bữa ăn chia tay. Phải làm thật vui để thực khách quên bớt sự nghèo nàn của mâm bát. Villegagnon rất khéo làm việc này. Từng xông pha chiến trận, nhưng ông cũng từng dự các cuộc chiêu đãi nơi cung vua phủ chúa, nên biết cách gây men bằng thi ca. Ông sang sảng cất giọng ngâm thơ, thể hiện đủ mọi trạng thái hỉ, nộ, ái, ố. Ông còn biết cả hát, một giọng nam trung êm dịu và ấm áp, tóm lại ông đủ khả năng làm mọi người quên đi trong chốc lát tình thế tuyệt vọng mà hòn đảo lâm vào.

Một chai vang không hiểu sao còn sót lại một cách thần kỳ sau bao biến cố, được đội cận vệ Xcốtlen mang ra đặt lên bàn, long trọng như một thành tích. Villegagnon sau mở hòm lấy bộ cốc pha lê. Rượu này thì phải vừa uống vừa ngắm mới đáng. Và trước khi nâng cốc, ông trịnh trọng vừa nhìn Just vừa rút trong túi áo ra một tờ giấy, đọc:

- “Ông Just Clamorgan, thừa ủy nhiệm cấp trên thuộc dòng hiệp sĩ xứ Malte, tôi tuyên bố…

Toàn cử tọa đột nhiên nghiêm nét mặt, mọi con mắt đổ dồn vào Just.

- … trong trận chiến đấu ngày 12 tháng 2 năm 1556 tại vịnh Genèbre, trên đồn Coligny, ông đã chứng tỏ lòng dũng cảm phát hiện, tấn công và đánh đuổi kẻ thù. Một kẻ địch đã gây thương tích cho ông một cách hèn hạ và xuýt làm ông phải bỏ mạng. Căn cứ điều ấy, tôi vinh dự tuyên bố từ nay ông được phép mang tước hiệu hiệp sĩ.”

Một nghi thức bất ngờ, cổ lỗ và ở vào lúc khác có lẽ sẽ là lố bịch, song Villegagnon đã thể hiện hết lòng nhiệt thành chỉ có ở những người ra sức níu giữ một truyền thống đã mất. Just không mừng vui hơn bao nhiêu, song cũng chấp nhận việc này là có thật ở cái nơi người đời chẳng ai biết đến này. Chàng đứng dậy, Villegagnon giơ kiếm làm dấu chạm lên đầu, lên vai chàng, nói mấy lời công thức, rồi ôm lấy chàng trai.

Tiếng hoan hô vang dậy, mọi người chúc rượu nhau. Men say hơi có mùi vị của tiếc nuối và chia tay. Từng người lắng nghe dòng nước âm ấm ấy trôi dần trong cơ thể mình, như thể họ đang theo dõi ngọn lửa càng xuống sâu càng tìm lại được những nơi chốn than thiết đã xa và những tình yêu đã mất. Villegagnon nói với Colombe.

- Rồi sẽ đến lượt cháu. Đến khi nào cháu mọc đủ râu cằm.

Ai nấy đều cười, riêng nàng tỏ vẻ ngượng ngập.

- Hai cháu này – Villegagnon nói tiếp – tư chất các cháu không phải do ngẫu nhiên. Là con nhà nòi đấy. Cha các cháu là một chiến binh thực thụ.

Ông ngồi xuống, chứng tỏ có sự suy nghĩ không vui:

- Điều đáng tiếc là ông ấy mở đầu sự nghiệp bằng một cuộc thất trận, đó là ở Pavie, vua Francois đệ Nhất bị bắt làm tù binh. Và ông phải tháp tùng nhà vua đến nơi giam hãm. Khởi đầu bất lợi là từ đó…

Mặt ông sa sầm, theo đuổi ý nghĩ nào đó không nói ra. Đột nhiên, ông nói to:

- Sau đó, ông đã tham gia chiến dịch Cambrai, rồi Đức hoàng thượng phái ông đi Roma thương lượng cuộc hôn nhân giữa Catherine de Médicis với hoàng tử, tức Hoàng đế nước ta hiện nay.

Just theo dõi từng lời, đôi mắt long lanh.

- Và thế là ông trở thành người hoạt động trong bóng tối, nhà thương lượng, phái viên bí mật chuyên trách các vụ việc phức tạp, có khi rất hiểm nguy. Hai phái viên của nhà vua như vậy đã bị ám sát trên song Pô năm 1544, ngay trong thời bình.

Colombe hỏi:

- Vậy ra, lúc cha mang chúng cháu đi hết thành phố này đến thánh phố khác, không phải là đang trên đường chiến đấu?

- Có, đôi khi ông ấy cũng chiến đấu bằng vũ khí thực sự. Song thường ông sử dụng những vũ khí khác bí mật hơn; ông đi thương lượng hòa bình hoặc chiến tranh.

Ông dừng lại, ho mấy tiếng.

Just và Colombe nhìn nhau. Thật lạ rằng cha của họ không hoàn toàn là chiến binh, mà lại là nhà ngoại giao.

- Ta không còn gì để nói nhiều hơn, các cháu ạ, vì chúng ta cũng ít gặp nhau – Villegagnon nói như để kết thúc.

Nhưng Just chưa thôi:

- Còn tại sao cha cháu chết?

Đô đốc nhìn xuống và suy nghĩ. Quanh bàn, Bois-le-Comte, viên sĩ quan sẽ chỉ huy tàu Grande-Roberge, đứng nghiêm như tượng. Thevet ngủ gà ngủ gật, còn Gonzagues đang lơ mơ tìm vần cho bài thơ tặng nàng Marguerite. Riêng Le Thoret chăm chú theo dõi.

- Ta chỉ biết những gì mọi người đều biết – Villegagnon đáp. Ông ấy bị giết ở Sienne, xứ Toscane, trước cái năm chúng ta lên tàu.

- Xứ Toscane có phải là… thuộc Tây Ban Nha? Just biết rõ về nước Ý qua sách vở, hỏi.

- Phải, của Tây Ban Nha. Nhưng thành Sienne đã nổi dậy và gọi quân Pháp đến cứu.

Có một sự ngượng ngập kỳ lạ trong giọng nói của Villegagnon. Ông ngại ngần liếc mắt nhìn Le Thoret, rồi nói:

- Cuối cùng, hai bên đánh nhau, và bố cháu thiệt mạng.

- Cháu nghe nói, lúc đó bố cháu đang bị thất sủng trước Hoàng đế – Just nói.

- Đúng vậy, trước đó ông đã từ chối không đi với quân đội bảo vệ xứ Piémont.

- Nếu cha cháu đã từ chối đi chiến đấu ở Piémont, sao nhà vua lại phái ông ấy đến Sienne?

- Hoàng đế không phải – Villegagnon vội nói, nhưng lung túng không giải thích gì thêm.

Le Thoret vẫn chăm chú theo dõi đô đốc, rồi đưa mắt nghiêm khắc nhìn hai anh em Clamorgan. Just vẫn chưa chịu thôi, hỏi tiếp:

- Như vậy, có nghĩa là cha cháu ở bên phía Tây Ban Nha?

- Tất cả chuyện này rất rắm rối, – Villegagnon vội ngắt lời Just và cao giọng nói tiếp. – Vả lại ta không ở đó nên không rõ.

Mọi người im lặng một lúc lâu. Đến lượt Colombe hỏi:

- Còn mẹ chúng cháu, bác có biết không?

Nàng đã chờ rất lâu dịp thuận lợi này để hỏi cho ra nhẽ. Nhưng chắc vấn đề này không nhạy cảm lắm nên nàng mới dám đánh bạo nêu thắc mắc của mình.

Ai nấy nín thở im lặng, đến Gonzagues cũng ngừng làm thơ và Thevet thì tỉnh ngủ hẳn.

- Không! – Villegagnon chỉ đáp có vậy, rồi để khỏi bị hỏi dồn ông vụt đứng lên, nâng cốc chúc mừng chàng hiệp sĩ, rồi nói luôn:

- Bây giờ ta có điều cuối cùng này muốn nói với các cháu. Dù các cháu đã bị đưa lên tàu một cách khuất tất, nhưng các cháu đã chân thành phục vụ ta. Vậy trách nhiệm của ta là…

Nói đến đây, ông do dự và trên khuôn mặt đen đen những lông là lông của ông, một sợi dây thần kinh nho nhỏ trên cằm bắt đầu giật giật.

- Là phải nói rằng các cháu được tự do. Ngày mai tàu Grande-Roberge về Pháp, không chở một hành khách nào ngoài ông tu sĩ, nhưng nếu muốn, các cháu có thể đi, ta cho phép.

Just và Colombe cùng rùng mình và nhìn nhau, tự hỏi không biết lời cho phép này có ý nghĩa gì.

- Ta không đòi hỏi các cháu trả lời ngay. Cứ bàn bạc đi. Chiều mai tàu nhổ neo. Cho đến khi cất ván cầu, các cháu quyết định vẫn kịp.

༺༒༻

Cho đến lúc đi ngủ, Just không nói câu nào. Sáng hôm sau, chàng kéo Colombe ra xa để bàn bạc. Hai anh em đi theo con đường nhỏ ở móng phía bắc của tường thành một bên và một bên là hàng đá lởm chởm, lâu nay thường là nơi để người mơ mộng đi vẩn vơ và kẻ âm mưu đến để bàn việc kín.

Just đã chuẩn bị đủ các lý lẽ, trình bày rất dài; Colombe thong thả đi bên cạnh, vừa đi vừa nghe. Chàng thẳng thắn nêu các lý do cần phải trở về, nào quyền thừa kế dòng họ Clamorgan, nào tương lai và địa vị cao quý của Colombe. Rồi chàng điểm tất cả các lập luận đối lập: tình thế khó khăn của Villegagnon, những gì hai anh em có thể làm để ủng hộ ông, vinh quang của nước Pháp Nam cực…

Colombe mỉm cười, mắt lơ đãng nhìn ra phía bờ biên xa xa, phía hòn đảo Margageat rộng lớn mà họ vẫn nhận ra được hình dáng. Mặt trời chói chang hơn lúc nào hết; mây thấp vờn trên các dãy núi chạy dài về phía tây. Qua những trận mưa mấy tuần qua, cây cối càng xanh rì, thiên nhiên tăng thêm sức sống và quyến rũ.

Cuối cùng, đợi Just ngừng nói, Colombe mới ngước đôi mắt trong xanh nhìn anh và rủ rỉ:

- Anh mất công nói nhiều thế làm gì! Anh tưởng em không biết rằng từ lâu anh đã muốn gì rồi ư?

- Có nghĩa là? – Chàng đỏ mặt hỏi lại.

Nàng dắt tay anh, rồi nhẩy nhót đi trước, kéo anh tới ngồi xuống một mô đất. Những đống vôi gạch vụn đã khô cứng, tỏa hơi nóng của nắng. Một vài bụi cây còn sót lại phủ đầy muối và bụi đất run rẩy trong gió.

- Chúng mình sẽ ở lại, em cũng thích như thế – nàng thủ thỉ.

Lòng Just tràn đầy những cảm xúc trái ngược. Chàng không thích bị người khác đọc được tâm can mình như thế. Theo chàng, đàn ông, lại là hiệp sĩ, phải vừa dũng cảm vừa bí hiểm. Mặt khác, chàng cảm thấy nhẹ nhõm chưa phải nói hết những ý nghĩ thầm kín không tiện nói ra.

Vì cái mà chàng nói là bổn phận phải giúp Villegagnon trong lúc khó khăn là xuất phát từ sự quý mến đã nẩy nở trong lòng chàng đối với đô đốc. Xây dựng nước Pháp Nam cực là một chuyện, điều quan trọng với Just là nó thỏa mãn ảo mộng của thời thơ bé về vinh quang, hy sinh và danh dư.

Tàu Grande-Roberge do Bois-le-Comte chỉ huy đi rồi, nay trợ giúp Villegagnon chỉ còn Le Thoret và ông già Gonzagues sức ngày càng yếu, chỉ làm thơ chứ không được tích sự gì khác. Just cảm thấy thời cơ thi thố năng lực đã tới.

- Còn em? – Just hỏi, coi như quyết định về phần mình đã xong.

Nàng để một lúc mới trả lời. Điều nàng muốn cũng rất rõ, nhưng nàng không muốn giải thích bằng lý luận trừu tượng. Cố phân tích những cảm xúc của mình, nàng thấy có hai luồng chính. Thứ nhất là sự vui mừng được chia sẻ hạnh phúc cùng Just. Nàng không nói, cứ để Just tưởng mình cũng cùng ảo vọng như anh. Thực ra nàng có thiết gì nước Pháp Nam cực, nàng còn nực cười khi nghe những ý tưởng huênh hoang mà Villegagnon tự phụ đeo đuổi. Ngược lại, mấy ngày nay một luồng tình cảm thứ hai xâm chiếm lòng nàng.

- Em muốn quay về với người Anh điêng – nàng nói.

Nàng thấy nhớ Paraquacu cùng các bạn gái, nhớ anh tù binh mỗi tháng phải bỏ đi một hòn sỏi, nhớ tất cả những người Anh điêng già và trẻ.

- Anh điêng! – Just kêu. Em không nhầm đấy chứ. Từ nay họ đối địch với ta rồi.

- Không chỉ là số ở ven bờ thôi

Phản ứng của Just buộc nàng phải có lý lẽ phản bác. Song nàng chẳng đưa ra được một dự án nào, mục đích nào. Nàng chỉ biết mình muốn đắm chìm vào thiên nhiên yên tĩnh, được đi lại tự do, tắm táp thoải mái dưới dòng thác lạnh, cố tập đi thật nhẹ để không phá vỡ cái yên tĩnh của thiên nhiên.

- Em biết một làng Anh điêng khác, ở sâu bên trong, họ thân thiện với ta.

Nàng sáng tác thêm:

- Mà em lại là người duy nhất nói ngôn ngữ của họ.

Just nhìn em. Vẻ mặt nàng có nét gì kỳ lạ từ trước chàng chưa nhận ra đôi mắt nàng xuyên thấu tận tâm can mà còn phản chiếu tâm hồn của những người mà chúng đăm đăm nhìn; sắc đẹp của nàng ngày càng hoàn hảo, thân hình nàng thanh mảnh, mang đầy đủ tính chất tuyệt mỹ như trong các tác phẩm hội họa của trường phái Flô-răng-tin ở thế kỉ trước.

Lần đầu tiên, Just nhận ra những điểm khác nhau giữa hai anh em, rõ hơn những gì đã khiến họ gần gũi ở tuổi thơ ấu. Và sức lôi cuốn khó hiểu của những nét khác biệt ấy khiến tim chàng đập dồn dập. Chàng làm bộ như không có gì xảy ra, nói:

- Phải đấy, nếu cần thông dịch, thì em làm được việc đấy.

- Và anh có thể thuyết phục ông Villegagnon để em làm việc ấy – nàng tiếp lời anh mà không hề ngờ rằng, lời đề nghị mà nàng không để tâm lắm ấy bị chàng hiệp sĩ mới được phong nắm lấy như là cơ sở cho một sự thỏa thuận, nghĩa là một lời hứa.

Chàng nghĩ một lúc lâu, rồi mới đáp:

- Được, anh sẽ cố.

Cả hai đều ngạc nhiên, không ngờ số phận họ được quyết định nhanh chóng. Họ thong dong trở về để kịp xem tàu Grande-Roberge nhổ neo.

nh —★— BRÉSIL ĐỎ Nguyên tác: Rouge Brésil ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 2004
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jean-christophe Rufin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.