Từ nay Colombe sống hoàn toàn khỏa thân. Nàng quyết định như vậy từ khi trở lại với Paylo. Lúc rời đảo nàng mới chỉ hậm hực tức tối, nay thì nàng căm hận sâu sắc tất cả những gì dính tới đảo. Nó đã không dung nàng, thì nàng không cần đến nó. Cái mưu đồ xâm chiếm đất đai của Villegagnon sao mà lố bịch và tội lỗi! Dưới mắt nàng, ông ta là con quái vật say sưa quyền lực. Hắn hay thở ra những lời mạt sát phụ nữ, đó là vì hắn sợ hãi cuộc đời, thiên nhiên và tình yêu. Đáng lẽ gieo cấy những sự đẹp đẽ đó, hắn chỉ vun trồng chiến tranh, tàn phá, thù hận. Dần dà nàng cũng ghép luôn hình ảnh Just vào bức tranh đen tối mà nàng tự vẽ ra trong trí tưởng tượng về đảo và về những người sống ở đó. Một khi chàng đã dễ dàng chấp nhận quyền lực của đô đốc và còn là công cụ trong tay ông ta nữa, thì chắc tính cách của chàng phải hèn hạ và yếu đuối hơn nàng vẫn tưởng. Thà chon chặt kỷ niệm dưới bao tội vạ mà nàng gán cho đảo còn hơn tiếp tục đau khổ chờ đợi tin tức về anh mà nàng chẳng có hy vọng nhận được.
Số phận run rủi nàng bỏ cái đảo chết tiệt ấy, thế mà lại hay. Trong cái rủi có cái may, miễn là dám chấp nhận thử thách và định rõ con đường đi. Và nàng đã quyết định hai điều. Thứ nhất: không bao giờ trở lại thế giới châu Âu. Thứ hai: từ nay, nàng là người của rừng châu Mỹ, sống hòa vào sự giản dị, thanh bình của nó. Paylo chỉ là giai đoạn đầu. Rồi nàng sẽ nhập một bộ tộc và sống cùng thổ dân Anh điêng. Từ nay đến đó, phải gắng rũ bỏ tất cả những định kiến, những nhu cầu của thế giới cũ ngăn cách nàng với cuộc sống tự nhiên này. Trút bỏ hết quần áo là bước đi đầu tiên theo bước ấy.
Những bà vợ của Paylo có lúc ở trần, cũng có lúc khoác lên người các loại trang phục khác nhau. Trước quyết định của Colombe, họ hoan nghênh một cách tự nhiên, cắt tóc cho nàng theo kiểu Anh điêng, vẽ lên da nàng những hình xăm xanh đỏ. Lần đầu nhìn thấy nàng như vậy, Paylo không ngạc nhiên. Thay lời khen, ông chỉ bảo, như một lời khen âu yếm và kính nể, nếu ông không già và xấu xí thế này, ắt sẽ lấy nàng làm vợ. Ông đưa tặng nàng nhiều vòng tết bằng vỏ trai và ốc.
Chỉ riêng Quintin hơi ngượng nghịu trước cô gái da trắng hóa trang thành người da đỏ. Thế mà chính ông lại là người đầu tiên dạy nàng sống tự nhiên, coi thường những ràng buộc vô nghĩa của vật chất. Nay ông lại cuống lên khi thấy thân hình lõa lồ của nàng, có lẽ do da nàng quá trắng. Thời kỳ này, ông già khốn khổ đang trải qua một cơn khủng hoảng niềm tin. Bị đột ngột xô đẩy vào một môi trường toàn đàn bà, đám vợ của Paylo, thế nhưng ông vẫn đem theo được cả tham vọng truyền đạo cháy bỏng, và thực tế, ông đã truyền được đức tin của tình yêu thương sang khoảng nửa tá đàn bà trong nhà. Ông vừa lần lượt giảng đạo cho từng người, vừa ôm hôn, vuốt ve. Nhưng rồi rất nhanh, ông nhận thấy, các bà ấy chỉ chịu nghe ông giảng như một trò tiêu khiển. Họ luôn sắp xếp cho một người đến cắt ngang giữa bài giảng, và kẻ được truyền bá đức tin liều bỏ chạy cùng bạn gái, cười rúc rích, để ông Quintin ngồi lại một mình, trong tâm trạng hết sức rối bời.
Rồi có một người tỏ ra nghiêm túc, khiến ông Quintin hơi bất ngờ. Người này cao lớn, mặt góc cạnh, hơi bẹt, ít linh hoạt cười đùa hơn đám đàn bà cùng nhà, tên là Ygat. Lần ấy, khi đang say sửa giảng Thánh Kinh, ông Quintin chợt nhận thấy bà ta thật sự hứng thú không phải cái hứng thú nhẹ dạ, lông bông như ở những người mà ông từng cố truyền đạo cho. Bà này không nghe một cách thụ động và không thắc mắc hỏi những câu vớ vẩn: bà chỉ đáp trả bằng những cử chỉ nghiêm trang, thấm đượm tình cảm. Thế là ngay ngày đầu tiên, ông đã đặt niềm tin vào bà ta, người duy nhất, ông sung sướng vì đã thành công thì ít mà vì nụ cười mãn nguyện, ngây ngất mà ông đã làm nở trên đôi môi dày của bà ta thì nhiều.
Chẳng có nhà truyền giáo thành tâm nào không muốn phát huy thắng lợi. Quintin bắt đầu dành nhiều sức lực và thời giờ để giáo huấn cho Ygat. Nghiêm trọng hơn, ông không còn thấy hứng thú truyền thụ giáo lý cho những người khác nữa. Tâm trạng ông rất phức tạp, và một lần, ông đã đánh bạo cởi mở lòng với Paylo.
Ông lão hỏi lại:
- Thế trong việc đó có điều gì làm ông khổ tâm vậy?
- Ông không hiểu sao? Tôi đã cống hiến cả đời để truyền bá những giáo lý về tình thương yêu trong Kinh Phúc âm. Thế mà bây giờ, bỗng chốc tôi lại thấy mình bất lực.
Paylo đưa bàn tay xương xẩu lên vuốt râu và thật thà hỏi:
- Ông có thể chia sẻ cho tôi một ít đức tin của ông không?
- Không bao giờ! – ông Quintin bất bình từ chối thẳng thừng – Tôi giảng đạo theo chí hướng riêng, tức là tự do tìm đối tượng cần giảng đạo. Mà đối tượng của tôi chỉ là đàn bà.
- Tôi không có ý như thế. Ông có thể giảng cho tôi hiểu, tình thương yêu mà ông chưa đựng trong thông điệp của Chúa thể hiện như thế nào không?
Ông Quintin nghiêm trang đáp:
- Đó là một thứ ngôn ngữ mà thể xác con người là chữ cái. Nó biến thành cử chỉ âu yếm và kết thúc trong sự nhất tâm, hé mở cho con người thấy cuộc sống vĩnh cửu.
Paylo suy nghĩ rất lung. Rồi, khi một chú sóc con lông nâu nhẩy nhót qua, ông chìa tay ra đón nó và nói:
- Tôi sẽ thách thức ông một chút, có được không? Theo tôi thì người Tin lành muốn cho ông lên giàn thiêu là có lý đấy.
Ông Quintin giật bắn người:
- Tại sao vậy?
- Tại vì họ bãi bỏ sự cứu rỗi linh hồn bằng côn đức, còn ông thì lại thực hành việc đó.
- Tôi chẳng hiểu ông nói gì cả.
Chú sóc đã leo lên tay Paylo và ông nâng nó lên ngang mặt. Con mắt tròn xoe của con vật nghi ngại nhìn Quintin. Paylo thủng thẳng nói:
- Ông bạn ạ, ông quan trọng hóa cử chỉ quá. Để chứng minh tình yêu thương, mà tôi cũng thống nhất với ông là nó rất thiêng liêng, ông thấy chỉ thực hiện nghi lễ là đủs Xin phép ông cho tôi được nói thẳng, ông chỉ làm về hình thức thôi.
Quintin cúi xuống đăm chiêu.
- Ông ban cho người ta những cái vuốt ve thì chẳng khác gì những kẻ đầu cơ thánh tích hay buôn bán lòng tốt để được lên thiên đàng.
Quintin cãi:
- Tôi có thể làm gì khác, nếu đó là mong muốn của người đời.
- Ồ, tôi không dám dạy bảo gì ông đâu – Paylo bình tĩnh đáp – Tôi chỉ thấy là những việc xảy đến với ông có khi lại là một may mắn lớn thôi.
- May mắn ư! May mắn không thể gieo trồng được tình yêu thương nữa sao?
- Có lẽ thế…
Mỉm một nụ cười hiền hậu và vô tư không thể làm ai phật lòng được, Paylo nhìn ông Quintin và dịu dàng nói tiếp:
- Không gieo trồng được nữa nhưng hiểu rõ về tình yêu thương.
༺༒༻
Rồi một ngày đẹp trời nọ, Paraguacu tới. Bộ tộc của cô ở gần đó, và cô đến một mình để thăm bạn. Sáng hôm đó, Colombe đang tắm ngoài thác với các bạn gái khác. Paraguacu tới đó tìm, và cuộc tái ngộ diễn ra trong nước mắt và nước mát, trong tiếng nô đùa, cười vui nghịch ngợm.
- Chị Mắt – Mặt Trời, chị thay đổi nhiều quá!
- Thay đổi về trang phục?
- Không, thay đổi về cả thân thể. Hồi trước trông chị còm nhom, nay lớn phổng, là đàn bà rồi. Đã ngủ với đàn ông chưa?
Colombe nhăn mặt. Sự phóng khoáng của các cô gái Anh điêng về vấn đề này không làm nàng bối rối. Nàng cũng muốn như họ, thoải mái kể về ham muốn và những mối tình của mình. Song dù đã trút bỏ quần áo, nàng vẫn chưa gột hết thói e thẹn nặng nề mà người châu Âu dùng để chôn chặt những vết thương lòng.
- Chưa – nàng thú thật.
Paraguacu cười, và Colombe cười theo.
- Thế… ông anh trai chị? – Cô gái Anh điêng nhớ lại lời tâm sự trước đây của Colombe, hỏi.
- Chết rồi – Colombe nhanh nhẩu đáp.
Nàng đỏ mặt, rồi khi thấy Paraguacu có vẻ tin thật, nói tiếp:
- Anh ấy đã chết trong lòng chị.
Nàng tự ngạc nhiên với mình về lời thú nhận ấy, và không có lòng dạ nào để tiếp tục câu chuyện, nên chuyển hướng ngay, hỏi Paraguacu đã làm những gì suốt thời gian qua. Cô gái Anh điêng buồn bã nói:
- Gia đình em đã bị các thần linh trừng phạt, giết chết chú em, cha em, mẹ em và tất cả em họ em. Chúng em không có cách nào khác là phải bỏ trốn. Nhưng dù đã cúng lễ, thần linh vẫn không để yên. Nay chúng em chỉ còn sáu người.
Colombe nghĩ đến những xác chết đã gặp trong rừng và trong ngôi làng hoang vắng. Nàng ôm Paraguacu vào trong vòng tay, mặc cho cô thút thít khóc một lúc.
Nàng không dám hỏi tin tức về Karaya, chàng tù binh mà Paraguacu thường ân ái hồi trước, sợ lại được nghe rằng anh ta cũng đã chết, hoặc do bệnh tật, hoặc bị giết.
Hai người không đả động chuyện ấy nữa, chỉ tận hưởng hạnh phúc được ở bên nhau. Nhờ Paraguacu, Colombe có thể nuôi hy vọng sẽ hoàn toàn hòa nhập vào thế giới của người Anh điêng. Nàng mong muốn như vậy, và đã sẵn sang. Khi Paraguacu trở về bộ tộc của cô, nàng sẽ đề nghị được theo về.
Buổi tối, Paylo tổ chức tiệc lớn mừng Paraguacu. Hôm ấy trời đẹp, tuy vẫn nóng bức và mây càng lúc càng dày đặc, báo hiệu thời tiết sắp thay đổi. Bữa tiệc được dọn ngay trên bãi đất trống sáng trưng đèn nến. Món thịt thú rừng có ướp nhiều gia vị thơm phức, ăn kèm với sắn, được bưng từ nhà bếp lên. Thức ăn toàn được nấu bằng nồi đất, đun trên bếp lửa củi gỗ hồng sắc Brésil, lại được bầy trong các đĩa bạc có huy hiệu của Hoàng gia Anh quốc lấy được từ xác một chiếc tàu đắm, ai nấy dùng tay bốc ăn ngon lành.
Trong đống hòm xiểng chất đầy nhà, Colombe tìm thấy một cây sáo rất đẹp, nhãn hiệu ghi làm tại Áo, còn nguyên hộp, gỗ cẩm lai lót lụa trơn. Sau bữa ăn, nàng đem ra thổi vài bài. Paylo lim dim đôi mắt như chìm vào trong mơ mộng. Thổ dân Anh điêng ngồi im phăng phắc, thưởng thức nhịp điệu hơn là giai điệu, nết mặt chuyển biến theo những khoảng âm của sáo. Lúc thì họ ngây ngất với những đoạn láy rền êm dịu, lúc thì họ vểnh tai nghe ngóng một cách lo âu bởi những hợp âm rải trầm trầm và hồi hộp. Colombe chuyền cho họ cây sáo, họ chuyền tay nhau xoay ngang xoay dọc, mãi mới tin rằng nó chỉ là một cái ống bằng kim khí. Họ nhìn Mắt – Mặt Trời bằng con mắt ngưỡng mộ gấp bội, vì cho rằng một con chim thần đã nhập vào nàng, điều này hiển hiện trên nét mặt nàng, vì thế họ càng tin chắc linh hồn thiêng liêng của những người đã chết ẩn nấp trong nàng. Họ cứ đinh ninh là mình vừa được nghe tiếng hót ríu rít của nó từ người nàng phát ra.
Colombe tấu nhạc xong, ai nấy đều ngà ngà. Paylo có nhiều thùng rượu Madère mới lấy được từ tàu đắm, nên đã đưa ra dùng trong bữa tiệc. Khác với rượu cahouin có tính kích thích, vang Madère êm dịu đưa mọi người vào trạng thái lâng lâng. Từ khu rừng bao quanh vọng tới tiếng động của muôn loài xào xạc kiếm ăn hoặc đấu tranh vì sự sống còn. Nhưng cũng phân biệt được ngày càng rõ tiếng người ồn ào cười nói xen lẫn tiếng trống thùm thùm như ở một lễ hội.
Colombe hỏi đó là tiếng gì, Paylo thản nhiên đáp:
- À, từ sau dịch bệnh, thổ dân đã dần tập hợp lại. Họ gấp rút tổ chức lễ hiến sinh trước mùa dông bão.
- Hiến sinh…?
- Phải, hiến mạng người tế thần.
Colombe giật mình kinh hoàng. Kỳ lạ thế đấy, nàng chấp nhận sống với thổ dân chỉ là sự trở về với thiên nhiên phóng khoáng. Nghe gọi thổ dân là “mọi ăn thịt người”, nàng coi đó chỉ là cách nói của Villegagnon vốn đầy khinh miệt và hận thù. Nàng thực thà cho rằng không có chuyện ấy.
Paylo bình thản, lặng lẽ hút thuốc. Nàng nhìn ông, ngờ vực:
- Vậy là ông cũng tin?
- Tin gì?
- Họ ăn thịt người.
Ông chậm chạp nhấp nháy mắt mấy lần, có lẽ để xua bớt khói thuốc dày đặt xung quanh.
- Vấn đề không phải là tin hay không. Đó là thực tế.
- Họ ăn thịt đồng loại?
- Phải.
- Ông đã nhìn thấy?
- Tất nhiên.
Paraguacu ngồi bên Colombe, lững lờ nhìn những con sâu bướm bay vo ve quanh ngọn đèn. Cô không hiểu tiếng Pháp, nhưng thích được nghe những âm điệu du dương của thứ ngôn ngữ lạ.
- Tại sao họ làm vậy? – Colombe rung mình và hỏi, bỗng thấy thân thể lõa lồ của mình thật chống chếnh, trơ trụi.
- Tại sao? – Paylo mơ màng lặp lại. Nào ai biết chính xác? Song chắc chắn không phải vì đói ăn, như người ngoài đảo nghĩ…
Ông nở một nụ cười buồn, rồi thấy bẻ mặt bàng hoàng của cô, ông trở lại nghiêm trang và giọng ông cũng chuyển sang ngữ điệu âu yếm. Ông nhẹ nhàng giải thích:
- Người Anh điêng sống trong rừng, nơi vạn vật chết đi rồi lại sinh sôi, nơi mọi sinh lực thường xuyên giao lưu giữa lúc hấp hối với khi sinh thành. Họ ăn thịt kẻ thù – vì họ chỉ ăn thịt kẻ thù mà thôi – là để tự đồng hóa vào sức mạnh của kẻ thù. Vả lại gần đây họ đã bắt đầu để cho tù binh cùng sống với họ một thời gian dài hơn.
- Thế sao những người bị bắt không tìm cách chạy trốn?
- Vì họ cũng có chung niềm tin như thế. Nếu trốn được mà trở về với đồng tộc, họ sẽ bị coi là hèn nhát và bị khép tội chết.
Colombe nhìn Paraguacu thiu thiu ngủ và lại nghĩ tới Karaya, bạn trai cô ta. Cô cảm thấy mình sẽ không bao giờ dám hỏi thăm về anh ta nữa, sợ lại phải nghe cô bạn Anh điêng kể chuyện dữ.
Nàng cố làm ra vẻ tự nhiên, nói:
- Vậy, họ cứ để mình bị … hạ sát như những con vật?
- Không – Paylo đáp sau một phút suy nghĩ – ta không cho là như thế. Họ cam chịu số phận, nhưng tỏ ra rất can đảm. Khi sắp phải hy sinh, họ bị trói vào một thân cây từ tám đến mười ngày, nhưng chỉ ngang thân bị trói còn hai tay được tự do, nên có thể vớ được bất cứ thứ gì ném vào những người sắp ăn thịt mình. Họ chửi rủa, kẻ ra tay hạ sát họ cho đến hơi thở cuối cùng và thề rằng gia đình họ sẽ trả thù, điều này thường là đúng.
Colombe không biết sợ gì nữa. Nàng đã đến giai đoạn bị mê hoặc và khát khao muốn biết tường tận mọi chi tiết.
- Thế họ bị giết như thế nào?
- Thế nào ư? Các thầy phù thủy tổ chức buổi lễ với đủ các nghi thức nhẩy múa, đọc thần chú. Rồi đao phủ tiến lên, tay cầm một cái chùy có vẽ một ô vuông đỏ, và vung lên đập làm sao cho ô vuông đó trúng trán…
Colombe cắn môi, mặt nhợt nhạt, nhưng vẫn hỏi đến cùng:
- Và rồi họ… ăn hết?
- Ăn hết. Mỗi miếng thịt đưa chia cho từng nhóm. Nghe những lời chắc nịch và giọng nói rất tự nhiên của ông già, Colombe bỗng ngờ ngợ:
- Ông nói chuyện này cứ như không. Hay là, ông…
- Có tham gia chứ gì? Ta ở đây đã nhiều năm, đã tham gia các buổi lễ như thế. Nhưng ăn thịt người thì chưa.
Ông lặp lại lời khẳng định:
- Chưa bao giờ.
Giả thử ông nói có ăn thì Colombe vẫn quý ông, song lời đáp đó khiến nàng nhẹ mình.
- Ta cực lực phản đối giết người. Thổ dân Anh điêng biết rõ, vì thế những người sống ở đây với ta đã chấp nhận thôi những trò đó.
Colombe vặn:
- Họ đã vậy, nhưng còn những người khác, những người đang hò reo ngoài kia?
Tiếng ồn rất gần, đôi lúc gió hổi tới mùi mỡ khét lẹt và tiếng thần chú nghe như đã tới sát cạnh Colombe không dừng được nữa:
- Nhưng nếu ta ra gặp họ, can ngăn họ?
Nàng gần như đã sắp vùng dậy khiến Paraguacu đang ngái ngủ cũng phải nghểnh cổ lên xem chuyện gì xảy ra.
- Thế thì họ sẽ nhìn cháu như một kẻ quấy rối, muốn làm hại cuộc sống của họ. Họ muốn nhập sức mạnh của người chết vào mình để tăng thêm sinh lực. Và chính cháu sẽ là người phải chết.
- Cháu nghĩ trường hợp này thì phải lấy vũ lực…
Paylo cười khục khục theo kiểu Colombe không ưa chút nào:
- Cháu có vẻ đang muốn theo gương các vị tu hành dòng Tên ở Sao Vicente. Họ đốt các làng của người Anh điêng có tục ăn thịt người, với phương châm là: phải giết họ để họ khỏi giết người khác!
Colombe im lặng, nhưng nàng tức run bần bật. Nàng bỗng muốn chạy trốn ngay khỏi đây. Song biết đi đâu khi đã bị thế giới cũ xua đuổi, và thân hình lại trần trụi thế này?
Paylo nhẹ nhàng an ủi:
- Ta hiểu sự bất bình của cháu, hãy giữ nó cho nguyên vẹn. Cháu cũng cần biết ta bất bình không kém, và từ bao lâu nay rồi. Tuy nhiên, ta thành thực tin là nếu muốn làm người Anh điêng thay đổi, trước hết ta buộc phải công nhận là họ… có lý.
Ông có vẻ cân nhắc kỹ trước khi bật ra mấy tiếng cuối.
- Cháu thấy không, cả ta và cháu đều sinh ra trong một thế giới ở đó tiêu diệt kẻ thù là chuyện bình thường. Thì người Anh điêng lại nhập kẻ thù vào mình. Họ có đức tính tuyệt vời là lấy cái đối lập với mình để nuôi mình. Họ học điều đó từ cuộc sống rừng xanh, nơi muôn vật thâm nhập lẫn nhau và sinh sôi, cái gì không bị ngốn thì ngốn cái khác. Cái tư tưởng nhà nông chúng ta tiêu diệt tất cả các loài, chỉ giữ một loài duy nhất mang lợi cho mình, rất xa lạ với họ. Và cái điều họ không làm với cây cỏ, họ cũng không làm với con người.
Paylo đưa tay vuốt trán Colombe. Mặc dù bàn tay ông lạnh ngắt và xương xẩu, nhưng lớp da thịt áp vào da thịt nàng làm nàng dịu lại.
Paraguacu với tay lấy một nhúm bột sắn và vo viên lại.
Paylo nói tiếp:
- Phải chấp nhận để họ thay đổi chúng ta, nếu ta muốn làm họ thay đổi.
Trời đã khuya, ông nặng nề đứng lên. Một bà vợ dìu ông đi vào trong bóng tối.
Hình như lễ hiến sinh ngoài kia đã xong, khu rừng trở lại yên tĩnh. Colombe ngồi lại hồi lâu suy nghĩ.