Khi còn sống ở Ý, Just và Colombe coi cái tên Clamorgan là nơi đầy mộng mơ, vì đó là quê cha đất tổ. Bố chúng phải lâm vào đường cùng lắm mới liều gửi hai đứa trẻ về đó, và chúng biết hết sự thật đáng buồn về cái nơi hằng mơ ước. May thay người bố không phải chứng kiến nỗi thất vọng đó: hồi ấy ông bị thất sủng trước Hoàng đế nước Pháp nên không thể thân đưa các con về. Cách đây bốn năm, ông đã gửi gắm một sĩ quan cùng đi với chúng bằng xe ngựa về Rouen. Từ đó hai đứa trẻ lên xe bò đi Clamorgan.
Ông bác của chúng đã quá già yếu, cả ngày ru rú trong căn phòng duy nhất còn có rèm cửa và lò sưởi. Lão sống bảo thủ như còn thời Trung Cổ, vẫn quản lý cơ nghiệp như thời chúa đất phong kiến, dẫn đến phá sản. Không chịu mua chịu bán cái gì, đến viên ngói vỡ rơi xuống cũng không buồn thay, và để cho nông dân sống vật vờ nghèo đói. Toàn bộ lương thực không dùng đến đều mục nát, mốc meo trên kho sát mái, khiến chẳng ai còn muốn làm việc nữa, và thế là dân quê lũ lượt bỏ đi. Không phải do lão keo kiệt, mà do sĩ diện hão ở cái thời thương nhân đã lên ngôi thay thế hiệp sĩ. Rồi một ngày kia, lão tắt thở.
Một bà quản gia, trước kia là vú em, đã đón hai đứa trẻ về nuôi trong nhà mình. Đó là một ngôi nhà cũ kỹ, lợp rạ, bên trong đen kịt mồ hóng, trên tường và trần trang trí toàn các loại dụng cụ gia đình cần thiết, xoong nồi, cào cỏ, giỏ xách, tất cả treo lủng lẳng, không bày biện cầu kỳ gì cả.
Just bế Colombe vẫn bất tỉnh về đó, đặt lên chiếc giường lớn trải nệm rơm sát lò sưởi. Cô bé rên rỉ và kêu đau đầu. Một ông chăn cừu già nua võ vẽ chút nghề lang – ít nhất lão cũng biết chữa bệnh cho cừu – vừa thở phì phò vừa vượt qua đoạn ổ gà lầy lội, đến xem và kê cho cô một thứ thuốc sắc gồm toàn cây cỏ.
- Không sao, cô ấy sống.
Lời phán quyết ấy giờ mới cất được nỗi lo cháy bỏng trong lòng Just. Bà vú Emilienne lập lại lần nữa lời khẳng định cho cậu yên tâm. Just muốn nghe bao nhiêu lần thì bà cũng vui lòng lớn tiếng nhắc lại bấy nhiêu lần. Cậu giả vờ nặng tai bốn lần liền như thế. Người mềm nhũn và sốt rất cao, Colombe nhăn nhó cố nuốt bát thuốc đen kịt và bốc khói nghi ngút, trên đó nổi lều bều những mảnh nấm vụn, rồi lại ngủ thiếp đi.
Just ngồi canh ở đầu giường. Cậu đau thắt người nhìn tính mệnh em gái – là một nửa cuộc đời của cậu – mong manh như ngọn nến thoi thóp. Những gì đến nay còn nhớ được thì cuộc đời của hai anh em chỉ toàn là di chuyển, đi bộ, hành quân, nghỉ đêm trong những quán trọ lạnh lẽo… tất cả cứ xen lẫn chẳng có thứ tự và chẳng hợp lẽ gì với những kỷ niệm tươi đẹp sáng ngời về nước Ý và các trận đánh. Mọi việc xung quanh không bao giờ tĩnh lặng, và họ cũng không bao giờ hiểu tại sao nữa. Họ không có người thân nào khác ngoài người cha mà sau bốn năm trở về Clamorgan, hình ảnh đã nhòa dần trong ký ức.
Song tất cả sự quay cuồng hỗn độn giữa người và sự kiện ấy, có một cái trục không thay đổi khi tất cả đã thay đổi, và vẫn trong thành khi tất cả đã bỏ đi: đó là tình cảm gắn chặt hai đứa trẻ với nhau. Từ quá khứ xa xôi nhất còn nhớ được, trong tâm trí Just luôn có Colombe.
Họ cùng trải qua các thử thách như nhau, cùng mơ những giấc mơ giống nhau, cùng đọc chung các sách vở: Arioste, Virgile, Homère, cùng chơi những bản nhạc, gái thì thổi sáo, trai thì đờn măngđôlin. Chút ít thơ, nhạc ấy là tất cả hành trang của họ những lúc cùng thất thểu trên đường hành quân với binh lính. Nhưng giờ đây, Just không còn tâm trí nào để nghĩ đến thơ ca nữa. Vừa chất thêm củi vào lò sưởi, Just vừa nghĩ đến những tên đẹp đẽ mà em gái từng gán cho mình, mới đây nhất là danh hiệu Chàng Trai Dũng Cảm! Cậu giơ tay quệt mũi và tự thề là sẽ không bao giờ rời xa em gái, cả trong cõi chết. Cậu đang ở cái tuổi sẵn sàng thề thốt bất cứ điều gì, nhưng Just cho rằng trên đời này chưa có ai thốt lên lời nguyền một cách nghiêm túc và quyết tâm như mình.
Đến sáng, Colombe đạp tung cái chăn lông ra, người đầm đìa mồ hôi nhưng đã mát hẳn, hình như cơn sốt nóng đã hoàn toàn trút hết sang cái bao đắp nhồi lông. Đến trưa, cô mở mắt và cất tiếng gọi. Ai nấy mừng rỡ, lại ứa nước mắt nữa. Ở cái xứ Noóc-măng-đi này, thời tiết hay thay đổi từng giờ, và trong tâm hồn con người cũng có những phút trời quang mây tạnh bất ngờ.
Mặc dù cơn sốt đã lui, bà Emilienne vẫn bắt cô bé nằm yên. Cô vẫn có một cái bướu sưng u gần thái dương. Bà còn đe, cô mà ra khỏi giường thì chắc vui sẽ biến thành buồn mất. Câu này nghe thật thần bí, như lời chú của thầy phù thủy, lại có sức thuyết phục rất lớn. Nhưng cô vẫn tiếp tục nhí nhảnh, còn làm trò nhăn mặt nhíu mày để trêu Just.
Chiều đã muộn khi họ bất chợt nghe thấy tiếng bánh xe cọc cạch ngoài đường. Bà Emilienne đang ở ngoài vườn rau. Rất nhiều gia đình đã bỏ đi nên bà tha hồ chọn miếng đất tốt nhất: bà ra đào cà-rốt gần đống rạ, ở đó có những củ rất to. Khi chiếc xe đến gần, hai đứa trẻ liền ngừng chuyện trò, bởi vì ở đây chẳng mấy khi có ai đi qua. Nghe thấy nó dừng lại trước nhà, Colombe nhỏm dậy gọi:
- Anh Just, ra xem ai!
Nhưng Just chưa kịp đụng đậy thì một bóng người đã đứng chắn giữa khung cửa. Đó là Belloy, tên hầu cuối cùng còn ở lại lâu đài. Hai đứa trẻ rất sợ hắn: hắn vừa lùn vừa xấu. Biết cơ nghiệp này giờ không chủ, hắn lên mặt quát lác và xử tệ với hai anh em, như muốn cảnh cáo chúng đừng hòng có quyền gì đòi hỏi ở cái cơ ngơi xập xệ này.
Hắn vừa từ ngoài sáng bước vào nên chưa nhìn thấy gì. Hai anh em im thin thít định thu người lại để trốn tránh, thì hắn đã huơ tay sờ soạng tới bên giường, hét tướng:
- Chúng mày đâu, đi ra!
Tay hắn quờ phải Just:
- Em gái mày đâu?
- Tôi đây – Colombe miễn cưỡng lên tiếng, giọng không mấy nhẹ nhàng, vì cô không mong được đối xử tử tế hơn.
- Cả hai theo tao, bà nhà gọi.
Just chống chế rằng Colombe đang ốm, song cuối cùng hai anh em vẫn phải mặc vội quần áo, đi lên xe bò kéo. Xe chuyển bánh tới khúc đường quanh họ mới nhìn lại, thấy vú Emilienne từ vườn rau chạy ra rối rít xua tay.
༺༒༻
Chiếc xe bò đã tới trước lâu đài. Belloy dùng lưỡi chậc chậc thật to để thúc con vật đi qua cây cầu rút ọp ẹp. Nhìn trên đầu, thấy cái cổng sắt răng bừa bị kẹt, không hoạt động được do gỉ vàng. Ngôi thành xưa, nay chỉ có hai con chó dữ bị xích chặt thay lính gác.
Họ bước vào vọng lâu. Belloy bảo họ chờ trong gian gác. Đó là phòng tường đá rất lớn, có vòm cao vút. Chiếc lò sưởi đồ sộ, dễ có thể ngốn tới vài khúc cây to, nhưng lúc này lạnh ngắt. Sàn vương đầy rơm rạ và gỗ vụn. Tất cả đồ đạc chỉ gồm một cái hòm lớn bằng gỗ sồi đặt sát tường và một chiếc ghế bành cũ kỹ. Hai anh em đứng yên lặng, chờ xem sẽ bị trừng phạt gì về tội để xổng con ngựa.
Nghe có tiếng nhạc nhong nhong cỗ xe song mã của bà bác đi qua cầu. Thường nhật bà ăn bận diêm dúa, thế mà hôm nay chỉ có bộ váy áo màu đen giản dị, khiến hai anh em ngạc nhiên. Họ biết đâu sáng hôm đó bà cố tình chọn trang phục đó để đi gặp Gonzaguea ở tu viện.
Một lát im lặng để bà nhìn thật kĩ hay đứa trẻ, như để nhẩm tính lại xem chúng có thích hợp với ý đồ của mình hay không. Hai đứa đều đầu bù tóc rối, quần áo tồi tàn dính nhiều vết bùn khô, song bà thấy hài lòng. Belloy dịch ghế cho bà khoan thai ngồi xuống trong lúc Just và Colombe vẫn đứng nguyên, chờ xem bà sẽ phán quyết gì về vụ con ngựa.
- Các cháu yêu quý! – Bà cao giọng không hợp chút nào với mấy từ thân thiết ấy.
Colombe nắm chặt cánh tay Just, đứng sát vào anh.
- Bác biết các cháu rất gắn bó với cơ nghiệp của dòng họ Clamorgan này, nhưng cũng rất nóng lòng được gặp lại bố các cháu.
Hai anh em vẫn giữ vẻ mặt bất động, vì sự dè chừng đối với người đần bà này mạnh đến mức khó có thể rũ sạch được.
- Vậy thì các cháu hãy mừng đi, ước muốn đó sắp thành hiện thực.
Rồi ngừng lại một lát như suy nghĩ, bà ta nói tiếp:
- Ít nhất là với một trong hai cháu.
Hai đứa giật cứng người. Vậy là dưới cành lá hiền lành, con rắn độc đã trườn ra và giương răng móc. Họ muốn chia cắt hai anh em.
- Cháu Just chẳng mấy lúc sẽ thành một trang nam nhi. Bố cháu sẽ luyện cháu thành chiến binh dũng cảm không thua kém. Bác sẽ cho cháu đi gặp ông ấy. Vừa lòng không?
- Thưa bác, không – Just đáp, mắt nhìn thẳng nhưng ngước lên cao để khỏi gặp ánh mắt của người đàn bà mà cậu tin chắc là có ma lực.
- Không? Bác không hiểu, tại sao vậy? Cháu không muốn gặp lại bố cháu ư? Hay là sợ phải đi chinh chiến?
- Thưa bác, không – Just vẫn chỉ nói gọn lỏn, không muốn đáp lại lời khiêu khích.
- Vậy thì vì sao?
- Cháu không muốn xa em cháu.
- Em cháu! Người đàn bà cười nhạt. Những đứa con hoang sinh ra bất chợt trên các nẻo đường, không biết mẹ là ai, mà mẹ chúng chắc cũng không rõ đã ăn nằm với ai, nay lại kiêu hãnh và ngu ngốc nhận nhau làm anh em một cách rất quả quyết! Thôi, khỏi mất thì giờ giải thích, vả tình thế này lại có cái hay.
- Nhưng các cháu không thấy là đi theo bố, cuộc sống sẽ phiêu bạt nhiều nơi, không phù hợp với con gái hay sao?
- Chúng cháu đã từng trải qua rồi – Đang lo lắng vì sự thiếu không khéo của anh, Colombe sốt ruột đợi cơ hội được tham gia câu chuyện. Và lúc này, cô bé mới nói xem được một câu. Bà bác nhìn kỹ cô cháu. Rồi nó sẽ xinh đẹp đay, tính tình lại có vẻ cương quyết, ngữ này hẳn sẽ khó bắt ép được nó vào tu viện sau khi tống được thằng anh đi. Điều này bà đã e ngại từ trước; đề phòng sẵn, bà không ngoan hứa với Gonzagues là sẽ giới thiệu hai đứa trẻ. Giờ phải biết lợi dụng chúng không muốn xa nhau để thực hiện mục đích. Bà đúng dậy, thong thả bước ra xa rồi quay lại:
- Bác rất phiền vì các cháu cứng đầu, làm ta thêm khó xử, thực ra kế hoạch của bác chỉ nhằm lợi ích của các cháu thôi.
Bà lại ngồi xuống ghế, cố nở một nụ cười trìu mến:
- Tuy nhiên bác thấy hai cháu rất quấn quít nhau, không nỡ lòng nào chia cách. Nhưng các cháu cần giúp bác, kẻo bác làm phúc hóa ra mang tội.
Hai đứa trẻ càng xích lại gần nhau, phấp phỏng chờ một cái bẫy khác.
- Các cháu lại gần đây, bác nói điều này phải giữ kín.
Họ tiến đến hai bước, dừng lại khi còn một khoảng cách. Bà cũng không muốn bảo chúng lại gần hơn, để tránh cái mùi tanh tanh của lũ quê mua.
- Nghe đây, bố các cháu là một vị tướng. Trong các cuộc chiến ở Ý, nơi mà nhiều mối quan hệ được thắt chặt, bố cháu đã phục vụ nhiều ông hoàng khác nhau, ai cũng muốn có dưới trướng một chiến binh dũng cảm như ông.
Nghe nói vậy về bố, Just tươi tỉnh hẳn lên. Song Colombe vẫn cảnh giác, chưa hiểu bà bác sẽ dẫn đến đâu.
- Lần này, ông ấy phục vụ một cường quốc ở xa hơn.
- Bố cháu không còn ở Ý? – Just kêu.
- Bây giờ đâu còn nước Ý. Có thể nói, chỉ là một bàn cờ chi chít những công quốc nhỏ. Miền đất mới mà bố cháu hiến thân phục vụ là một trong số những công quốc đó nhưng ở xa hơn nhiều..
- Có phải ở Thổ Nhĩ Kỳ?
Chả là hơn hai mươi năm trước, vua Francois đệ nhất đã bất ngờ ký liên minh với Thổ, mặc dù nước này là thù địch với các nước theo Cơ đốc giáo từ thời Thập tự chinh. Sự kiện này đã làm chấn động nước Pháp. Ngay cả ở những nơi khỉ ho cò gáy, dân chúng cũng sôi nổi bàn tán về bọn Thổ. Mặc dù những tin tức trên thế giới rất ít khi đến tai Just, cậu cũng đã được nghe về quan hệ Pháp-Thổ.
- Không phải nước Thổ. Nhưng bác có tên ra thì cháu cũng chẳng hiểu gù, vì chính bác cũng không biết nó ở đâu. Chỉ biết là phải đi thuyền lâu ngày mới tới.
- Đi thuyền! Just reo lên – Ồ, thế bao giờ thì đi ạ?
Khác với em gái, cậu có vẻ đã hoàn toàn siêu lòng.
- Khoan đã cháu. Còn cần phải thu xếp vài việc. Đoàn mà cháu sắp tham gia không được phép mang theo đàn bà con gái. Vì vậy em cháu không thể đi theo.
Bà làm bộ do dự, rồi quay sang Colombe:
- Tuy vậy cháu còn nhỏ, thân hình chưa phổng phao, nếu khéo léo thì chưa chắc ai biết cháu là con gái. Bác có thể nói với họ, các cháu là hai đứa trẻ nhưng như thế thì bác liều lĩnh quá và các cháu đừng làm gì để bác phải ân hận đã giúp các cháu đấy nhé. Cái từ mập mờ “đứa trẻ” ấy sẽ không rõ ràng về giới tính khác nhau giữa hai cháu...
- Ôi, cảm ơn bác, cảm ơn! – Just lại reo, hoàn toàn tin rằng người bác gái tốt bụng hơn cậu tưởng và cậu thật sự vui mừng vì không phải nghi ngờ quá lâu về tính độc ác của người đời nữa.
Bà bác tiếp, đặc biệt hướng về Colombe mà bà cảm thấy chưa thực đồng tình:
- Tuy nhiên, bác chỉ dám liều nếu các cháu cam kết giữ kín đến cùng và hết sức làm cho mọi người tin là thật. Ngay bây giờ, hai cháu phải cắt tóc giống nhau, theo kiểu thị đồng, ăn mặc giống nhau, ta sẽ giúp các cháu làm việc ấy. Nói tóm lại, tuy hai cháu chẳng giống nhau mấy – nói đến đây, bà ta cười không mấy thiện ý – nhưng ít nhất cũng giống nhau về cách ăn mặc, đầu tóc và cử chỉ thái độ.
Rồi lại nói riêng với Colombe:
- Cháu phải lấy một tên con trai và bác thấy tên Colin là tiện nhất để khỏa lấp những sai sót mà một chút lơi lỏng cảnh giác có thêt xảy ra bất cứ lúc nào. Cháu đồng ý chứ?
Dù câu hỏi không đặt ra cho mình, Just nhanh nhẩu đáp:
- Được ạ!
Conlombe im lặng ngẫm nghĩ một lúc rồi mới gật đầu.
- Tốt lắm. Nhưng phải nhớ rằng một khi đã lao vào rồi thì không thể lùi được nữa, phải theo đến cùng. Vì vậy, các cháu phải giữ kín giới tính Colombe thật cẩn thận trong suốt thời gian quy luật tự nhiên chưa để lộ thân phận thật của cháu. Bác tin là cháu sẽ làm được.
- Bố cháu có khỏe không? Ông có nhờ bác chuyển thư cho chúng cháu không? – Just sốt ruột ngắt lời. Cậu chỉ muốn biết ngay những chi tiết thực tế và chỉ nghĩ đến cha mình.
- Không. Chỉ có lời nhắn của ông ấy qua một người khác thôi. Nhưng các cháu nghe ta nói tiếp đã: ai hỏi gì phải trả lời hết sức thận trọng, nhất là về tuổi tác. Với mọi người, thì Just mười ba, còn Colin mười một, rõ chưa?
Họ gật đầu, mặc dù bị chưng hửng vì mỗi đứa kém đứt hai tuổi, do đó sẽ bị coi thường hơn vì quá “trẻ con”.
- Bây giờ các cháu nghe bác dặn một lời cuối.
Họ vội dỏng tai, chờ xem bà bác còn cho ra mưu mẹo gì lần chót.
- Những kẻ các cháu gặp trong cuộc hành trình thuộc đủ các hạng người. Trong đó có những đứa có thù hằn với bố các cháu, hễ tìm thấy là chúng không tha. Vậy tuyệt đối không để lộ tên họ của mình, hay họ của bố thì cũng vậy.
Lời dặn này chứng tỏ bà ta chưa bao giờ thực sự chấp nhận việc chú em chồng khoác tên dòng họ Clamorgan lên đầu những đứa con hoang.
Colombe hỏi ngay:
- Vậy làm thế nào chúng cháu tìm được bố, nếu không xưng tên họ?
- Bố sẽ tự tìm đến các cháu, nhờ những tín hiệu mà bác đã thông báo trở lại qua người mang tin.
Bà bắt hai đứa nhắc lại những điều đã dặn. Thấy chúng đều đã nhập tâm, bấy giờ mới nói lời chia tay.
- Bác cầu nguyện Chúa che chở các cháu.
Đã từng thấy ở Ý quân đội Pháp vung những câu thập tự đánh nhau với binh lính của Giáo hoàng trong khi cả hai bên đều nói cũng thời một đức Chúa, nên Just và Colombe thấy tốt hơn cả là không nên bàn cãi về vấn đề tôn giáo. Còn về những ước mơ cho tương lại, họ biết, chỉ có thể trông cậy vào nhau. Từ nãy, họ vẫn nắm tay nhau và lúc này, họ cũng xiết chặt hơn nữa.
Bà bác đi khỏi, họ trờ về nhà thu xếp quần áo, vừa làm việc vừa vui vẻ nhẩy nhót vì sắp được gặp lại bố, lại được trở về cuộc sống mà họ ưa thích. Just nói:
- Thích không, bà ấy chẳng nhắc gì đến chuyện con ngựa!