Bresil Đỏ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

Trong số người châu Âu uống cahouin, ít người biết thứ rượi đó được nấu thế nào. Hoặc có biết thì lờ đi không nghĩ tới, và nhất là không xem nấu. Càng không xem, khi thổ dân Anh điêng nói rằng có mặt đàn ông thì rượu cahourin nấu không thể ngon. Người nấu rượu lý tưởng nhất là gái trinh. Gái có chồng có thể tham gia, với điều kiện phải tiết dục tuyệt đối trong thời gian đó. Những bà già tuổi cao không còn làm tình nữa cũng được phép nấu, nếu họ còn răng lợi.

Colombe rất thích quá trình nấu rượu. Đó là những thời điểm thanh thản nhất trong cuộc sống thanh bình của thổ dân. Nàng đã quên mối lo sợ về tục ăn thịt người, và đêm đêm tiếng nhộn nhạo bên người với nàng chỉ là âm thanh quen thuộc của những buổi lễ hội.

Nàng ngồi bên bếp lửa, nhai một mẩu sắn đã luộc qua cho mềm. Paraguacu ngồi cạnh và các bạn gái khác xung quanh cũng đều nhai sắn. Nhai thật đều, thật kĩ, cốt làm cho ra thật nhiều nước miếng. Có một sự khác nhau giữa nhai để ăn, chỉ để nuôi dưỡng bản thân mình, với nhai để làm rượu, phục vụ bà con. Khi miếng sắn trong miệng đã thật nhuyễn nước bọt, trở thành dẻo quánh, người con gái đứng lên nhổ tất cả những gì trong miệng, kèm theo cả một tia nước dãi càng dài càng tốt, vào một cái nồi đất cao bằng đứa trẻ lên mười, đặt trên bếp lửa nhỏ. Cứ thế, nồi dần dần đầy ắp chất bột lẫn nước miếng, sôi sùng sục suốt ngày rồi lên men. Sau đó, đồ uống quý giá này được múc vào từng chai dẹt. Những chi tiết khác của quá trình hoàn thành chất rượu quý, được các bà các cô giữ kín, coi như bí quyết. Đàn ông chỉ được nhìn thấy rượu sau khi nó đã đủ độ và đóng chai cẩn thận, mỗi chai khoảng một phần ba lít.

Trong khi nhai chóp chép, đám phụ nữ vẫn có thể nói chuyện, và càng nói thì nước miếng càng tiết ra nhiều, càng tốt.

Sáng hôm đó, sau khi đã chuyện trò, đùa cợt với Colombe, Paraguacu bất ngờ tuyên bố:

- Ngày mai em sẽ trở về bộ tộc.

Miệng ngậm đầy sắn, Colombe lúng búng:

- Thế à!

Nàng vội ra nhổ miếng bột chưa thật nhuyễn vào nồi, để nói cho rõ từng tiếng. dù nàng đã nói thông thạo tiếng tu-pi, nhưng cũng thật khó thể hiện được ngữ điệu đặc biệt của nó trong khi miệng ngậm đấy sắn và nước bọt.

- Chị sẽ đi cùng với em!

Colombe đã chờ chuyện này từ lâu. Thời gian nàng ở nhà Paylo chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp mà thôi. Song nàng ngạc nhiên và thất vọng thấy Paraguacu lắc đầu, kiên quyết:

- Không được đâu, chị ơi.

- Không sao mà, chị sẽ tuân thủ mọi tập tục, sẽ làm việc như mọi người.

Paraguacu giận dữ nhìn nàng, khiến nàng lạnh toát cả người. Từ khi Paraguacu tới đây, hai chị em sống với nhau thân thiết, tối đến luôn chuyện trò không dứt. Cô gái Anh điêng hỏi Colombe về cuộc sống ở Pháp, về quan điểm ở châu Âu về tình yêu. Paraguacu rất kinh ngạc bởi loại tình yêu mà cô và người Anh điêng không sao hiểu nổi, bởi vì họ yêu theo cách khác. Với thổ dân, tình yêu là một khái niệm rộng mở, không chỉ dành cho một người duy nhất.

Người ta yêu con cái, yêu cha mẹ, yêu bộ tộc, yêu mặt trời và cây cỏ mang lại lợi ích cho con người, yêu dòng nước trong vắt chảy từ trên thác cao đổ xuống và làn gió ấm áp đùa rỡn trên bãi cát, yêu hòn đất nuôi sống mình, yêu đêm và ngày, lửa và muối, yêu các con thú trong rừng. Tình yêu bàng bạc khắp nơi, không ai có thể đòi dành riêng cho bản thân mình. Và nếu bạn nhất phải chọn một ai làm chồng và làm cha cho lũ trẻ thì sở thích cá nhân không được tính đến và còn bị coi là tội lỗi nữa. Phải tuân theo tập tục của bộ tộc. Tuy nhiên, qua những câu hỏi Paraguacu liên tiếp đặt ra, Colombe ngầm hiểu là cô ngả về thứ tình yêu mà nàng mô tả.

Hai người thân thiết vậy, mà bỗng Paraguacu không đồng ý để Colombe đi theo, thật khó hiểu. Colombe gặng mãi, những mỗi lần gặng lại vấp phải ánh mắt vừa giận dữ vừa sợ hãi của cô bạn. Colombe đấu dịu:

- Vậy lần khác chị đi với em… được không?

- Được, được! Paraguacu vội đáp, như cất được gánh nặng. Lần khác, và bao nhiều lần nữa cũng được. Nhưng lần này thì chưa.

Thái độ thật kỳ lạ, song Colombe không thể đòi hỏi hơn. Nhai xong số sắn còn lại, nàng theo bạn về nơi ở. Rõ ràng Paraguacu đã để đến phút cuối cùng mới báo tin ra đi, vì khăn gói của cô đã chuẩn bị sẵn rồi. Cô đi ngay không ngoái cổ lại.

Colombe không có thì giờ để suy nghĩ về sự ra đi đột ngột ấy, vì sau trận bão lớn tuần trước, làm ngập lụt khắp nơi, Paylo bỗng ốm nặng. Mùa mưa, rừng khoác một vẻ mới. Lá cây bóng loáng, rêu mọc xanh rì, vách nhà làm bằng thân cây cọ ẩm ướt. Mọi tiếng động tới đây đều giảm âm lượng, ai nấy trong nhà đi lại lặng lẽ để khỏi làm kinh động người ốm, tạo nên một không khí lo âu, chờ đợi. Cuộc sống như căng ra, cảnh giác để cản thần chết đâu đây.

Colombe được luân phiên cùng các bà vợ ở bên chăm sóc Paylo. Nhất thiết không để người bệnh nằm một mình, ngoài việc phục vụ các yêu cầu cần thiết, còn để luôn có mặt đông người để đối phó với các thần linh tàn ác đang muốn cướp mạng sống ông già.

Paylo nằm trong chiếc võng rộng, trên lên hai móc gỗ ở hai đầu. Gian phòng có sàn bằng đất nện, còn nguyên những rễ cây ngoằn ngoèo, và xếp đầy những vật linh tinh đối với ông đã thành thân thuộc. Trên vách treo những tấm bản đồ vàng ố xen lẫn những chiến quả của người Anh điêng. Những lọ sứ, những vỏ bầu có trang trí hoa văn. Một bức tranh vẽ phong cảnh một ngôi làng nhỏ bé chìm ngập trong tuyết, lồng trong khung tre có trang trí lông chim. Trên giá là cả một loạt sách gáy da, nhưng bìa đã phổng rộp vì hơi ẩm.

Paylo thở phều phào, thỉnh thoảng lại lên cơn ho sặc sụa. Ông yếu lắm, song trí óc vẫn tỉnh, ưa chuyện trò, dù nói năng đã khó. Ông tiếp tục nhận các tin tức do những người qua lại báo cáo. Vì vậy ông báo tin phái Tin lành bị trục xuất cho Colombe biết. Nhưng thường là ông trở lại với những kỷ niệm xưa cũ, những câu chuyện luôn lẫn lộn quá khứ với hiện tại. Một tối, ông tâm sự với Colombe:

- Đời ta thay đổi từ khi ta đọc Pomponazzi. Không có cuốn sách của ông, ta chẳng bao giờ đến đây.

Theo chỉ dẫn của ông, Colombe lấy cuốn sách từ trên giá xuống. Cuốn sách nhỏ đã cũ, các trang chi chít những ghi chép của Paylo. Ông bâng khuâng lần giở từng trang nói:

- Tác giả là môn đệ của Averròes. Ông ấy là người duy nhất chống lại ảnh hưởng của Platon.

Mắt ông kém, không đọc được nữa, song ông thuộc làu quyển sách, tay giở trang chỉ để lấy lệ:

- Theo ông ấy, Chúa ở khắp nơi. Không thể tách Chúa ra khỏi muôn vật. Người ở trong mỗi sinh vật, mỗi đồ vật. Không việc gì xảy ra mà không do ý chí của Người.

Paylo thở dài, đặt cuốn sách lên bụng:

- Sai lầm lớn nhất của tất cả những người khác là đã đặt Chúa lên tận trên trời, không cho Người xuống nữa. Chỉ một Chúa duy nhất, thật quá ít, đã thế lại luôn vắng mặt; chỉ khi tao chết mới lại gặp Chúa. Ôi thiển cận!

Đột nhiên, ông gượng nhỏm dậy, giọng nói đả kích mạnh mẽ như Colombe chưa từng thấy:

- Cháu hãy nhìn xem bọn họ cấu xé lẫn nhau để tranh cãi rằng Chúa có ở trong chiếc bánh thánh hay không… Chúng đã đuổi Người ra khỏi thực chất để chỉ dành cho Người một chỗ bé nhỏ.

Mệt mỏi qua cơn kích động, Paylo nằm phịch xuống, thở dốc. Colombe cầm tay ông, an ủi:

- Ông bình tâm lại đi.

Ông nằm yên một lát, rồi nói thanh thản hơn:

- Gặp thổ dân Anh điêng, ta như tiếp xúc được với một thế giới thoát khỏi những trò điên rồ đó, một thế giới đáng nể.

Mắt ông mở trừng trừng nhìn vào bóng tối:

- Với họ, mọi thứ đều thiêng liêng: hoa trái, đất đá, nước chảy trong khe. Muôn vàn thần linh hiện hữu và che chở các vật thể, các cảnh trí, các sinh vậy. Đụng vào đâu cũng có thần linh hiển hiện để ngăn ngừa ta làm điều ác.

Một cô gái thổ dân bưng một khay quả lặng lẽ bước vào, dừng lại ở gần cửa. Paylo không nhìn nhưng cảm thấy, mỉm cười, nói nhỏ nhẻ và chua chát:

- Nhưng những kẻ khác… Họ tước cái thiêng liêng của thiên nhiên, để thiên nhiên chịu sự tàn phá của con người. Hãy xem họ đã làm gì với hòn đảo trước mặt. Cây cỏ bị đốn trơ trụi, không còn sinh vật nào sống sót, sinh sôi, và bây giờ đến lượt con người cắn xé lẫn nhau. Nếu một ngày kia chúng làm chủ cả dải đất này, chúng sẽ biến thành dải đất chết.

Ngừng một lát, ông nói tiếp:

- Không phải con người, mà chính Chúa đã bị xua đuổi khỏi địa đàng. Con người đã nắm quyền sáng thế để rồi phá hủy nó.

Ngày lại ngày trôi qua, tình trạng Paylo vẫn không khá lên chút nào. Ông cứ mê mệt như thế trong trạng thái mơ hồ không còn thuộc về thế giới hiện tại nữa những vẫn chứ đầy kỷ niệm và màu sắc, đầy hạnh phúc và tiếc nuối. Toàn bộ cuộc đời lần lượt hiện lên trong bộ óc mù mờ của ông, khiến những giờ phút trước cái chết đang từ từ tiến đến gần trở thành phần tinh túy nhất, tốt đẹp nhất. Một chiều, hai chiến binh Tupi chạy tới báo cáo rằng một phó quan của Villegagnon bỏ trố sang bên này và xin được gặp Paylo, cùng đi với ông ta có bốn người lính. Hai chiến binh Tupi lo ngại là họ gài bẫy gì chăng, song ông già bảo cứ dẫn vào. Và thế là Le Thoret có mặt.

Viên lão tướng vẫn thế: khẳng khiu, ngay đơ, lầm lũi. Duy lòng trong thành với Villegagnon ở ông đã mất. Ông đến trình diện Paylo trong tư thế đàng hoàng của một tù binh đã chiến đấu sòng phẳng. Ân huệ duy nhất ông xin là được phép cùng bốn quân sĩ đi theo trở về Pháp sớm nhất khi có một tàu buôn nào ghét qua. Paylo nói:

- Sao các ông không ở lại đây? Thổ dân cần người như ông để luyện họ chiến đấu như người châu Âu. Một ngày nào đó họ sẽ phải tự bảo vệ không phải với bọn lục lâm, mà với cả những đạo quân lớn.

Le Thoret cương quyết khước từ khả năng đó. Không phải vì ông coi khinh người Anh điêng: ông không có ý kiến gì về họ. Nhưng ông sinh ra để tuân lệnh và không hề bao giờ có tham vọng chỉ huy ai.

Ông nhắc lại mong muốn được đi ngay khi có chuyến tàu đầu tiên. Paylo không nài nữa. Ông khá quen biết các cơ sở buôn bán của người Noócmăng, có thể giới thiệu Le Thoret với họ. Mùa này nhiều đoàn tàu nhỏ thường qua lại. Ông đề nghị Le Thoret hãy nghỉ ngơi ít lâu rồi sẽ cử người đưa đi. Le Thoret không đồng ý, xin đi ngay. Cuối cùng, Paylo hứa sẽ có người hướng dẫn trong hai hôm nữa.

Tối hôm đó, đi tắm về, Colombe gặp viên tướng già. Sự xuất hiện của người mà nàng vẫn coi là gắn chặt với Villegagnon trong ngôi nhà của Paylo khiến nàng bất ngờ, như là sự gặp gỡ của hai thế giới. Le Thoret cũng bối rối không kém nhìn thấy Colombe trần truồng, trên người chỉ có hình vẽ nhăng nhít và mấy vòng vỏ ốc sơ sài, tiếng tới gần một cách tự nhiên mà ông coi là tột cùng khiếm nhã. Nhưng, mặc dù rất khó chịu, ông vẫn cố giữ nghiêm nết mặt hơn bình thường để khỏi gây hiểu lầm, và đề nghị được nói chuyện riêng với nàng. Colombe đồng ý và mời ông cùng ăn. Lát sau hai người gặp nhau trong một gian cạnh bếp, và nàng đã ý tứ khoác khăn choàng lên người, đủ che những gì có thể làm ông già coi là bất tiện. Nhưng còn đôi mắt, đôi mắt long lanh một màu xanh lơ không quen nhìn xuống hay lảng tránh, chúng cứ chăm chăm nhìn ông không chớp.

Đầu tiên, Le Thoret cho biết tin về Just, Colombe tưởng mình vô tư thoát khỏi mọi ràng buộc, khi được tin anh bị thương, nàng nhói đau trong lòng và dồn dập hỏi lại Le Thoret.

- Cô yên tâm. Cậu ấy không làm sao, chỉ vài ngày là khỏi, lại khỏe như trước.

Le Thoret mỉm cười, nói thêm:

- Và vẫn đẹp trai như trước.

Kể từ khi lên tàu ở bến cảng Havre, Le Thoret chưa bao giờ tỏ ý quan tâm đến hai anh em Just và Colombe. Mà thực ra ông chả nhiệt tình vồ vập với ai. Tuy nhiên, bằng vào những cử chỉ nhỏ của viên lão tướng, Colombe cảm thấy có thể tin cậy ông. Khi Just bắt đầu được Villegagnon dạy dỗ và cho tập kiếm, Le Thoret không hề tỏ ý ghen tị mà còn giúp đỡ. Và Colombe vẫn còn giữ cảm giác rằng cái hôm cô bỏ trốn với số phụ nữ Anh điêng, nếu muốn ông có thể dễ dàng ngăn trở. Từ xa nàng nhìn thấy ông đứng trên bãi cát, tay cầm súng, nhưng ông không bắn.

Trong lúc Le Thoret kể lể nhiều tin tức không mấy quan trọng về bên đảo, về bọn huygơnô và về xây dựng pháo đài nữa, Colombe có cảm giác ông còn có điều gì khác muốn nói. Con người luôn khép mình vào kỷ luật này, hẳn tự cho đã đến lúc không cần giữ im lặng. Rõ ràng ông muốn nói điều gì với Colombe. Có thể đó là lý do chính để ông ghé qua Paylo, vì thực ra việc này đâu có cần thiết. Ông có thể chạy thẳng về phía những cơ sở của người Noócmăng, ở đó chắc ông sẽ không đến nỗi bị ngược đãi.

Colombe rót thật nhiều rượu mới ông uống, và kiên trì khéo léo gợi ý để ông nói ra điều muốn nói. Cuối cùng, chuyện vãn mãi cũng hết, mưa lại lộp độp rơi trên mái cọ, gây cảm giác dễ chịu đối với những người được yên ổn trú dưới mái nhà, và hơn nữa, rượu đã ngà ngà, Le Thoret quyết định nói:

- Ta từng chiến đấu dưới trướng hiệp sĩ Clamorgan ở Ý.

Nghe tên họ ấy, Colombe thoáng rùng mình. Từ khi bỏ đi, nàng đã nguyện chỉ mang tên Mắt-Mặt trời. Việc nàng không còn cha còn mẹ càng tạo điều kiện thuận lợi cho nàng nuôi hi vọng được sống tự do giữa những người mà nàng yêu quý.

- Ta ở với ông tám năm – Le Thoret nói thêm, dường như chi tiết ấy sẽ thêm sức nặng cho những gì ông nói.

Càng lúc càng rõ là ông không chỉ muốn ôn lại kỷ niệm để chơi, mà trong đó có điều gì cốt tử ông muốn làm rõ.

- Những gì người ta đã nói với cháu về ông ấy là đúng – Le Thoret nói tiếp.

Từ “người ta” tất nhiên ám chỉ người mà ông không công nhận là chủ soái nữa, tức Villegagnon.

- Song người ấy không thể biết đầy đủ bằng ta, vì hắn không nghe lời ông ấy.

Ở miệng người lính, nói thế có nghĩa: hắn không yêu quý ông ấy.

- Và bây giờ, theo ta, cháu đã… như thế này, thì cháu phải được biết một số điều.

Colombe ngồi yên, chờ nghe. Le Thoret ngừng một lát, chắc để chọn cách đi vào đề như thế nào. Cuối cùng, ông bắt đầu:

- Đó là sau chiến dịch Cérisoles. Ông Clamorgan chỉ huy bộ binh, còn ta chiến đấu dưới quyền, cùng đại đội súng hỏa mai.

Ông ngừng lại một lúc, vẻ mặt kiêu hạnh vì đã mở đầu câu chuyện rất khéo léo, và lấy hết can đảm nói tiếp.

- Tình thế khá bấp bênh. Bọn Đế Chế thua trận, song còn nhiều nhóm bại quân chạy lung tung trong vùng. Trong quân ta có những đại đội gồm toàn lính đánh thuê khó bảo và vô kỷ luật. Nhiều chỗ khó bốc cao: đó là những làng mạc mà chúng thả sức cướp phá.

Một con bướm vàng và đỏ, bị cơn dông đánh bạt vào trong nhà, nặng nề vỗ cánh lên trên đầu hai người.

- Với bố cháu thì lệnh trên mặc lệnh, ông chỉ làm theo tài năng và lương tâm. Ở Cérisoles, điều đó rất rõ. Lệnh bảo ông đánh thắng, thì ông đánh thắng. Nhưng khi nhìn thấy lính cướp bóc, mà lệnh trên lại bảo: kệ họ, thì ông không nghe. Và ông sai tất cả chúng ta đi ngăn chặn, bắt giữ bọn làm bậy.

Colombe chưa hiểu ông định đi tới đâu. Xưa nay nàng không ưa nghe chuyện đánh nhau, lúc này lại càng không. Thoret kể tiếp:

- Ta đi cạnh ông ấy. Thắng trận lâu rồi, ông vẫn không ngại xông vào hiểm nguy. Vì bọn đánh thuê lồng lộn không chịu để bị tước đoạt những thứ chúng đã cướp. Chúng bắn trả lại, một số người của cánh ta bị chết. Mỗi lần chúng ta đến bảo vệ một làng, dân chúng không phân biệt được ai tốt ai xấu, nên vác gậy gộc ra chống lại tất cả, và có khi họ còn giương bẫy để chúng ta sa vào nữa.

Le Thoret càng kể càng say sưa. Từ khi sang châu Mỹ, ông thèm được tham gia chiến trận đàng hoàng như thế. Song, thấy Colombe im lặng, ông hạ bớt giọng, bình tĩnh trở lại:

- Một buổi sáng, chúng ta tới một xóm hẻo lánh vì có tin báo, bọn chúng đang hoành hành ở đó. Nơi này là vùng cao Piémont, xa xa nhìn thấy những ngọn núi tuyết phủ. Xóm nhỏ, chỉ có bốn ngôi nhà tường đá; bò không có ai chăm, rống ầm ĩ trong chuồng. Quân ta phục kích bên ngoài, kêu gọi bọn lính đánh thuê ngừng cướp bóc. Không ai thưa, chúng ta thận trọng xục vào trong các nhà.

Nói tới đây, Le Thoret cụp mắt xuống. Là chiến binh dũng cảm, ông có một nhược điểm: sợ máu. Chiến tranh là cuộc đối đầu để hai bên thi thố sức mạnh, tài năng và dũng cảm, ông thích điều đó. Nhưng cứ nhìn thấy người bị thương, bất kể là lính hay dân, là ông giảm hẳn khí thế, đến mức gần trở thành nhút nhát.

- Những gì chúng ta trông thấy thật kinh hoàng… Tất cả dân chúng đều bị giết sạch từ trước sáng, ngay trên giường ngủ… Bàn ghế đổ vỡ lỏng chỏng… Bọn chúng đã cướp hết chút của cải nghèo nàn còn lại.

Mắt Le Thoret nhớn nhác như đang nhìn lại thấy cảnh kinh hãi.

- Chúng ta sắp rút đi thì một anh lính kêu lên: hắn thấy bật gì động đậy trong một cái khó. Clamorgan lại gần và trong thấy.. hai đứa trẻ nằm vùi dưới một đống cỏ.

Ông chăm chú nhìn Colombe.

- Một đứa là bé gái tóc xoăn. Đứa kia là con trai.

- Just? – nàng thốt lên. – Just? – nàng bất giác thốt lên.

Mấy cây đến leo lét hắt vào bóng tối những mảng ánh sáng vàng khè. Một chú vẹt đang đứng im nghe ngóng.

- Không phải. – Le Thoret nghiêm nghị lắc đầu.

Trong không khí im ắng của căn phòng bỗng vang lên tiếng vuốt của chú vẹt cào sồn sột vào thanh gỗ tròn dùng làm sào đậu.

Clamorgan đã vào kho, hai tay bế hai đứa ra. Mắt cháu long lanh dưới ánh mặt trời, ai nấu đầu xúm lại để nhìn cháu.

Colombe xúc động đến rơi nước mắt, song cố ngăn dòng lệ chảy vì muốn biết rõ về đứa bé kia:

- Đứa bé ấy là ai, ông nói đi!

- Cùng là con nông dân như cháu, song chắc chắn không phải là anh hay em, vì nó không giống cháu. Cả hai đều khoảng hai tuổi. Một làng bên cũng bị cướp phá mấy hôm trước, họ cần có trẻ con cho sau này, nhưng chỉ muốn con trai. Và chúng ta đã để lại đứa kia cho họ nuôi. Colombe nhìn vào rừng rậm tối đen xung quanh với những sinh vật lẩn quất đâu đó trong bóng đêm và quá khứ bỗng hiện về, như một con thú mà người ta chưa bao giờ nhìn thấy nhưng tiếng kêu của nó nghe đã quen tai. Còn cháu thì Clamorgan không trao cho ai, đặt cháu lên mình ngựa đưa đi khắp nơi. Ngay từ đầu ông đã rất quý cháu.

- Còn Just? – Colombe gặng hỏi tiếp. –Tuy đã lờ mờ đoán được Le Thoret muốn nói gì những vẫn muốn biết mọi chi tiết.

- Cháu có biết không, – người chiến binh già nua không trả lời thẳng mà lại lái sang chuyện khác – Cháu hãy hình dung cuộc sống chúng ta khi chinh chiến ở Ý. Đành rằng luôn đánh nhau, nhưng cũng có những thời gian dài rảnh rỗi, đống quan ở các thành phố. Clamorgan có quan hệ rất rộng khắp miền bắc nước Ý.

Không rõ ông này nói lảng ra để đi đến đâu, song Colombe sợ ông sẽ phật ý nếu bị ngắt lời, nên cứ để ông tiếp tục.

- Trước cái chiến dịch cuối cùng mà Clamorgan tìm thấy cháu ấy, chúng ta đã có cuộc hưu chiến dài, và bố cháu tranh thủ đi thăm nhiều nơi ở Ý. Ông thích nhất xứ Milanais, nơi mười lăm năm trước ông đã cùng vua Francois đệ nhất tiến vào nhưng rồi lại để mất. Thật rối rắm, phải không cháu.

Hiển nhiên là Colombe chẳng có bụng dạ nghe giải thích về chính trị.

- Ở đó ông ấy đã quen một người đàn bà, có họ xa với dòng Sforza, nói chung là con nhà dòng dõi, tên là gì không quan trọng. Ta có được xem một chân dung của bà: tóc đen nhánh, mũi dài, thanh tú, đó là điều ta nhớ nhất về nhan sắc của bà, một nhan sắc hoàn hảo. Ông có với bà một đứa con, để lại cho bà nuôi khi ông đi chinh chiến ở Piémont.

- Và đó là Just?

Nhưng Le Thoret còn muốn để Colombe nghe thật hết.

- Sau trận Cérisoles, Clamorgan để cháu lại cho chúng ta trông nom, trong doanh trại. Và ông lại phi ngựa về tận Milan. Ðúng là đang chiến tranh, ông lại là lính. Nhưng cháu đừng tưởng là mọi biên giới thời đó đều đóng cửa nhé. Một mình một ngựa thì đi đâu cũng được, nhất là ông có bạn quen ở các nơi. Về tới Milan, ta không rõ chuyện gỉ đã xảy ra, vì ta không ở đó. Người phụ nữ ấy đã chết, hay đã lấy chồng khác? Chỉ biết là Clamorgan đã mang đứa con trai về Piémont. Just và cháu sống cùng nhau từ đó.

Ông già đã khéo nói ra sự thật một cách từ từ, để Colombe tiếp nhận nó mà không xúc động thái quá. Bây giờ chỉ còn một việc đơn giản nhưng đầy xáo động và đầy hậu quả mà lúc này nàng chưa thể thấy hết được.

Quả là cả cuộc đời nàng đã bừng rõ lên dưới ánh sáng mới. Nhưng hậu quả mà sự khám phá đó để lại trong tình cảm của nàng thì chưa thể biết trước. Nên vui hay nên buồn? Nay biết Just không phải là anh ruột, nàng sẽ dễ dàng xa lánh, phán xét, thậm chí ghét bỏ anh chăng? Hay ngược lại, bức rào cản trước đây ngăn nàng không được phép yêu anh hết mình, nay đã cắt bỏ? Chính nàng cũng không hiểu hết lòng mình. Chỉ bỗng thấy lạnh vì mưa, vì đêm khuya. Nàng đứng lên vơ một tấm chăn vải khoác lên mình.

- Ông đã nói chuyện này với Just chưa? – nàng hỏi

- Chưa, chưa có dịp.

Thật vậy, ngay sau khi Just bị thương, Le Thoret đã rời đảo.

- Vậy anh ấy chưa biết gì?

- Khi được đưa từ Milan về, – Le Thoret lắc đầu nói – cậu ấy hơn cháu hai tuổi, nên ta tin là nó hiểu cả.

Một niềm thương mến mênh mông tràn ngập lòng Colombe; nàng nghĩ tới ông Clamorgan, người đã muốn hai người được nuôi dạy và sống với nhau như anh em ruột thịt.

Le Thoret đã trút được bí mật lớn nhất, tuy nhiên xem ra còn muốn nói nhiều nữa. Colombe ngồi với ông đến tận sáng, hỏi thêm nhiều điều về người cha mà nàng cảm như vừa đánh mất vừa tìm thấy lại.

nh —★— BRÉSIL ĐỎ Nguyên tác: Rouge Brésil ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 2004
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jean-christophe Rufin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.