Phòng ngục chỉ đủ chỗ cho ba người. Khi Just và Martin bị tống vào đó, đã thấy có một tù nhân, đó là một tay thợ mài dao già nua định chạy trốn lúc tàu đi qua bờ biển nước Anh. Hai chàng trai bị xích tay vào nhau, chân bị cùm liền với vách, còn đang lầm lì ôm mối hận, nên chỉ còn lão mài dao độc thoại.
Lão kể lể dài dòng vì sao lại bỏ nhà ra đi. Vừa mới mâu thuẫn với ông em họ, đồng thời là người chung vốn làm ăn, một chút, lão đã nổi khùng lên và, không hề đắn đo suy nghĩ, đã lên luôn con tàu này. Lão còn kể lể về bà vợ ở nhà ngày càng già và xấu đi trông thấy; trong khi lão thì thấy mình vẫn còn tráng kiện và ham thích thú vui xác thịt. Nhân chuyến đi này, lão định tìm kiếm của lạ nơi những cô nàng mọi rợ chốn rừng xanh. Nhưng vừa nói ra tâm sự thầm kín ấy xong, lão đã tự trách mình mơ tưởng hão và ngu độn, đã tỏ ý tiếc rẻ cái cửa hàng cũ, đã thấy thiếu những bữa bia say sưa cùng ông em họ mỗi buổi tối, tại quán rượu, và nhất là lão đã thấy nhớ bà vợ và hai cô con gái mà mỗi lần nhắc đến, lão lại không khỏi chảy nước mắt.
Sau hai ngày phải chịu đựng cái điệp khúc não nề, quanh quẩn hết chuyện dâm đãng đến chuyện tiếc của, tiếc vợ con và những điều ngu ngốc khác, hai cậu mới bị giam đã phát ngán đến tận cổ. Đã vậy, lúc ngủ, lão lại còn ngáy như kéo bễ nữa. Sự có mặt của lão có lẽ chỉ có cái lợi là làm hai cậu lãng quên chuyện riêng của mình, thậm chí vô tình xích lại gần nhau đứng về một phía. Đến lúc trời mưa rả rích, không khí ẩm sì, thuyền trưởng Imbert thấy các đồ sắt, thậm chí cả đao, kiếm, rìu gỉ ngoèn, liền gọi lão thợ mài ra khỏi ngục, chỉ cả đống đồ kim khí, bắt phải mài lại cho bóng và sắc.
Còn lại Just và Martin, song lúc này mối hận thù dường như đã nguôi. Một sáng, họ nghe tiếng gãi gãi sau vách gỗ, rồi có ai lách qua khe hở đút vào một thỏi xúc xích. Martin chộp lấy, đưa lên miệng một cách khoan khoái. Hắn nhồm nhoàm nói:
- Tao có một tên đàn em làm ở trong kho.
Ăn một mình trước mặt người đói thì không hẳn là thú. Martin chẳng ghét gì hơn là nỗi cô đơn: lúc nào cậu cũng cần có người chia sẻ mọi cảm xúc, dù những cảm xúc của cậu hay hay dở. Vì vậy, cậu ta có quẳng cho Just một nửa thỏi xúc xích cũng không phải là không có ý đồ ích kỷ.
Nhưng Just quay mặt đi cho nó rơi xuống đất, Martin kêu:
- Sao? Mày thích chết đói à?
- Mày đã xúc phạm danh dự của tao!
- Danh dự! Mày tưởng mày là ông lớn nào vậy?
- Tao là con nhà quý tộc đàng hoàng – Just vênh mặt, song mắt không khỏi liếc nhìn mẩu xúc xích.
- Và vì thế mà mày không cần ăn? Thế mày tưởng quý tộc thì mài danh dự ra mà sống? Tao nói cho mày biết: mày đang bị xích như một con vật trong cái xó tối tăm bẩn thỉu này và sắp bị đưa sang chốn man di mọi rợ, đến đó răng mày dần dần sẽ rụng hết. Đừng tưởng mày cứ hục hặc với tao thì mày sẽ thoát, cả thằng em mày nữa.
Đúng là Just vừa nghĩ tới Colombe một thân một mình trên tàu, không biết có gặp hiểm nguy gì không. Và cậu hiểu ra rằng nếu cứ giữ thái độ căng thẳng, sẽ chẳng có lợi gì cho mình, và nhất là cho em.
Martin liếm mép bóc vỏ miếng xúc xích ăn dở và nói tiếp:
- Nói riêng cho… hoàng cơ.
- Mày ấy ư! – Just ngạc nhiên thốt lên.
- Phải, chính tao. – Martin nói và làm bộ điệu một người từng ăn uống no say.
Just nhún vai.
- Sao, mày không tin à? – Martin bắt chước vẻ mặt sửng sốt của Just. A, vậy là mày xúc phạm tao đó. Tao cũng có danh dự, tao phải hỏi tội mày.
- Thế mày kể xem sao. Just nói, cố giấu một nụ cười.
- Mày nói trước. Nói chung, nói chuyện với ai, tao vẫn biết người đó là ai. Làm thế nào mà ngoài tao ra, còn có một thằng quí tộc nữa cũng phải nhốt vào đây?
Just liền kể chuyện của mình, thoạt đầu là miễn cưỡng, sau là thoải mái, vì thấy đối thủ lắng nghe. Và cũng rất tự nhiên, cậu cầm lấy mẩu xúc xích mà Martin đã dành cho mình. Ngược lại, Martin cũng hài lòng thấy cậu ăn ngon lành.
Sau khi đã kể hết đời mình, Just nói:
- Bây giờ đến lượt cậu!
- À, mình thì đơn giản. Người ta tìm thấy mình bị bỏ rơi lúc còn đỏ hỏn trước cửa nhà thờ, đúng vào ngày lễ các Vua. Vậy mình chẳng con ông hoàng là gì.
Hắn nhăn cái mũi bẹt, cố lấy giọng pha trò, trông khá ngộ nghĩnh. Cả hai cùng phá lên cười, mặc nhiên coi như xí xóa chuyện cũ.
Martin sinh ra tại Rouen, lớn lên ở cô nhi viện. Lên mười tuổi, nó bỏ trốn đi Honfleur sống lang bạt với những trẻ khác, ban đêm vào các kho hàng ở bến tàu để ăn cắp. Khi vẫn còn nhỏ con, nó leo dây neo lên các tàu, xục xạo vào hầm để kiếm chác. Rồi nó thu nạp hai đứa bé hơn, coi là đàn em, để thực hiện các việc đột nhập lên tàu thay nó, kiếm được gì phải cống nạp cho đàn anh. Nó thông thạo về tàu bè, bến bãi, nhà kho. Nó đã nghe nói nhiều về Brésil vì hàng năm có tới hai chục tàu thuyền Pháp qua lại. Nó than thở:
- Biết thế, tao chẳng dại bỏ Honfleur mà đi, nếu không bằng giờ tao vẫn sống đàng hoàng.
Nghe tiếng cảng Havre-de-Grâce mới nổi, Martin liền mò tới. Song ở cái thành phố mới này, những kẻ như bọn nó bị xua đuổi ráo riết. Nó và hai thằng em lại bị cảnh sát đưa vào cô nhi viện. Vô phúc thay, đúng trước hôm chúng định bỏ trốn thì lão Thoret mò đến tìm trẻ em và vớ được chúng.
Just bảo hắn kể cho nghe về Brésil; hắn thao thao nói ở đó có gỗ quý, có mọi ăn thịt người, và đến đây hắn nheo mắt hóm hỉnh, có con gái Anh điêng ở trần và rất nồng nàn tình tứ. Martin đã kiếm sống ở nhiều bến cảng, nên chuyện về trai gái, nó tỏ ra là một tay chơi lão luyện. Thấy nó gãi gãi giữa hai đùi non khi kể về chuyện ấy một cách thích thú, Just cảm thấy ghê tởm cả người.
Một cách thận trọng, mặc dù mẫu thuẫn giữa hai cậu đã giải quyết xong, Martin đã dần dần moi được hết những thông tin về người cha mà Just định đến gặp.
Với tất cả sự tế nhị mà tính thô thiển chưa làm mất hết, Martin nêu lên những mối nghi ngờ rất chí lý trong câu chuyện mà Just kể. Xưa nay chỉ có những đoàn tàu buôn đi Brésil. Cha Just không phải nhà buôn, vậy không thể ở trong số đó. Chả nhẽ ông xoay sang làm cướp biển? Thực tế đã có một số quý tộc trở thành những kẻ giang hồ trên biển, ở đó cũng có mạo hiểm, có vẻ vang như ở thời hoàng kim của các cuộc Thập tự chinh mà họ hằng mơ ước. Trao đi đổi lại về giả thuyết này, cả hai sinh ra phân vân. Cuối cùng Martin an ủi: việc gì cũng có thể xảy ra, và một tướng lĩnh vì lý do nào đó có thể sang Brésil tìm hiểu cơ hội tung hoành cho thỏa chí. Song, nghe Martin nói ở bên đó không có vương quốc, không có nữ quần thần xinh đẹp, không có nhà thờ Vatican, lại không có những đồng quê rải rác cây bách và di tích La Mã là những thứ mà cha cậu yêu thích, Just càng không tin là ông đã sai lầm đến mức phiêu lưu sang tận nơi ấy.
- Dù sao thì hàng tháng vẫn có những tàu buôn từ đó trở về Pháp – Martin nói.
Và thế là Just lại nuôi thêm hy vọng: nếu không gặp cha ở Brésil, cậu vẫn có khả năng tiếp tục đi tìm kiếm ở nơi khác.
Thời gian vẫn trôi nơi ngục tối bồng bềnh trên mặt nước ấy, thỉnh thoảng lại có vài mẩu xúc xích được tuồn vào làm hai cậu vui vẻ trong chốc lát. Trong hầm thật là ngột ngạt và ẩm ướt, ngày giờ trôi đi thật là chậm chạp, họ phải giết thì giờ bằng cách kể chuyện cho nhau nghe. Martin biết rất nhiều chuyện, toàn thu thập được trực tiếp tận đáy xã hội, qua tiếp xúc với bọn hành khất, trộm cắp, gái điếm. Cậu ta đưa Just vào một thế giới xa lạ mà cậu từng lướt qua khi ở Ý nhưng chưa bao giờ thực sự sống trong đó, rồi đã bị tách ra hẳn trong những năm dài nương thân ở Clamorgan. Đến lượt mình, Just kể cho bạn nghe những cuộc phiêu lưu bất tận của Amadis de Gaule, hiệp sĩ lang thang người Tây Ban Nha và người tình tuyệt vời trong truyện của nhà văn Ordóuez de Motalvo.
Tóc có thể nhung nhúc chấy, lợi có thể thể chảy máu, dạ dày có thể sôi ùng ục, nhưng hồn họ vẫn phiêu diêu trong mộng.
༺༒༻
Từ khi có Villegagnon và tùy tùng chuyển sang, Rosée – vốn chỉ là tàu hậu cần nhỏ – chịu nhiều xáo trộn. Vật chất đã phải nhường chỗ cho tinh thần. Những thùng gỗ nặng trịch, đám gia súc còn chưa bị làm thịt, toàn bộ những đồ dùng lỉnh kỉnh tanh tưởi phục vụ cho bếp ăn đều bị đánh bật dễ dàng bởi cái tinh tế đầy biến ảo của nghệ thuật, khoa học, tư duy. Các phòng ở đuôi tàu, trước dùng tạm làm kho, và thuyền trưởng cùng với thuyền phó thường ngủ vạ vật ở đó, nay được dọn dẹp, trở thành một căn phòng sang trọng, sáng sủa, các cửa sổ lớn ở khung đuôi tàu được mở toang, đón ánh nắng lấp lóa từ dưới biển ùa lên.
Colombe và một thủy thủ tập sự khác được giao việc đánh bóng sàn gỗ. Các đồ đạc được hai chuyến sà lúp đi đi về về chuyển từ tàu mẹ sang. Rèm cửa Thổ Nhĩ Kỳ, do Villegagnon mang từ Hunggari về, chăng suốt hai bên vách, che khuất bộ rẻ sườn và lớp tôn vỏ quá lộ liễu của thành tàu. Chiếc tủ gỗ mun được đặt trong căn phòng lộng lẫy một màu hồng điều rực rỡ nắng trông như một hộp nữ trang quý. Villegagnon còn tự tay treo lên tường một bức danh họa của Ý vẽ hình Đức Mẹ và on. Ngoài căn phòng linh thiêng ấy, ngài hiệp sĩ không tỏ ra khó tính lắm: chẳng hạn khi ngủ, ngài chỉ cần mắc võng ở một góc phòng kế bên, và đám tùy tùng cũng vội bắt chước, nhưng lộn xộn hơn nhiều. Riêng ông giáo sĩ dòng thánh Frăng xoa không làm theo và kiên quyết nằm dưới đất, trong một vật trông y như cái quan tài không có nắp, kiểu ngủ này, ông ta học được khi du lãm ở phương Đông.
Thoạt đầu, Colombe e ngại rằng đám người mới đến này sẽ ru rú suốt ngày ở khu boong đuôi, không tiếp xúc với ai. Có thể đó sẽ là cách cư xử của vài người trong số họ muốn giữ khoảng cách để ra vẻ ta đây. Song Villegagnon với tính cách mạnh mẽ tự nhiên của mình, không ưa những thói phù hoa kiêu căng. Vừa ngủ dậy, ông đã đi lên boong trên, xuống boong giữa, kiểm tra các cỗ pháo. Ông cần không gian rộng rãi không có nên phải chuyển động hình xoắn ốc, bước dưới phăng phăng. Ông cần làm việc không ngơi tay, cần khó khăn để khắc phục, nghịch cảnh để thử thách, và cảm giác sờ tay chất đồng của khẩu thần công như truyền cho ông âm vang của những trận chiến ác liệt làm biến chuyển thế giới: núi lửa phun trào, những cuộc chinh phạt của loài người, chiến tranh... Rồi ông trèo lên cột buồm, đứng ở đài quan sát hàng giờ. Mọi người nghe thấy ông ngâm, giọng trầm trầm, bổng bổng, các bài thơ điệp khúc hai vần và thơ ca ngợi bằng tiếng La tinh. Rồi, sau khi đã đưa tay lên chào cả bốn phương trời, chào cả thiên đỉnh lẫn vực sâu tối tăm màu thép dưới chân, ông quay trở lại với thế giới loài người. Căn phòng có chiếc tủ bằng gỗ mun chỉ dành cho các cuộc họp kín, hoặc để rút vào những ngày thời tiết xấu. Song dạo này trời lại đẹp, gió thổi đều ấm áp và đầy hơi nước, làm căng phồng mọi cánh buồm, đẩy tàu đi vun vút. Cánh buồm nào cũng giương hết cỡ, in bóng xuống boong, râm mát như dưới một rặng liễu mùa xuân. Villegagnon cho tháo một cánh cửa, đem ra ngoài kê lên hai chiếc thùng làm thành bàn. Một chiếc ghế đẩu nữa, thế là ông làm việc suốt ngày ở đó như kiểu một ông vua, trước sự chứng kiến của mọi người. Mặc cho thiên hạ quan sát, ông cứ thản nhiên thay quần áo và rửa ráy. Có ngày, ông lại còn ngụp hẳn thân hình lông lá của mình trong thùng gỗ chứa đầy nước biển và trát tro khắp người. Nhìn ông dùng bữa, người ta nhận ra rằng thái độ trang nghiêm của ông là do tác động của những tính năng làm trong sạch tâm hồn trong bài kinh cầu trước bữa ăn hơn là do cái mùi càng ngày càng chua của men mốc trong thực phẩm trên tàu. Người ta còn quan sát ông đọc sách, ngồi bất động, lưng thẳng đơ, những tác phẩm lớn mang từ tàu Grande-Roberge sang. Ông còn viết lách không ngừng – mà trong hoàn cảnh này thì không thể thư từ với ai được – vậy rõ ràng đó là những đoạn thơ hai câu mà ông thường cao giọng ngâm nga, hướng về những kẻ xa lạ bí hiểm, có thể là đàn ông, là thần thánh hoặc là đàn bà, những kẻ ở cõi trời riêng của ông.
Tất cả những chuyện đó không qua khỏi con mắt dò xét của Colombe. Những lúc cô bận việc không quan sát được, thì Quintin thế chân.
Ngoài các hoạt động riêng tư mà ông thực hiện một mình, trước con mắt của mọi người, Villegagnon còn rất quan tâm đến công việc trên tàu và thường trò chuyện với thuyền trưởng Imbert, nhiều khi cả với bất cứ thủy thủ hay hành khách nào ông gặp. Colombe đã nhiều lần tìm cách sử dụng quyền lực bí hiểm của đôi mắt, cô vẫn chưa bao giờ được đối diện với ông. Cô thắc mắc, không biết có phải ông kém mắt không, bởi ông luôn ghé sát vào sách khi đọc và không phải lúc nào cũng nhận ra người đối thoại mình.
Thường là đầu giờ chiều, Villegagnon hay làm việc vơi bộ tham mưu của mình, bàn những vấn đề thiết yếu. Thời gian thường nóng nhất trong ngày mặt trời nằm cuộn tròn tít trên đỉnh cột, giữa cánh buồm vẹt. Nhưng Villegagnon, vì đã quen sống ở ngoài trời, quen với nắng nóng, chẳng hề ngại ngần việc gì. Ông dồn hết tâm trí và sức lực ra bàn bạc những vấn đề trọng yếu với bộ chỉ huy của mình.
Việc quan trọng nhất lúc này là xác định tàu đang ở tọa độ nào. Suốt từ ngày 10 tháng mười là lúc tàu đi ngang quần đảo Saint-Thomas gần vương quốc Manicongo ở ngoài khơi châu Phi, chung quanh họ toàn là nước, nước mênh mông. Vĩ độ nhỏ dần. Mặc dù vẫn đang ở nam bán cầu, họ lại đang tiến dần đến đường xích đạo mà lần thứ nhất họ đã vượt qua khi đi dọc bờ biển châu Phi. Nhưng đang ở kinh tuyến nào thì không biết vì không có đồng hồ đo. Đành chỉ tính mang máng bằng cách nhân số ngày đã trôi qua với tốc độ ước lượng của tàu.
Người có tiếng nói uy tín về vấn đề này là ông thầy tu Thevet. Về hình thức, trông ông ta kém cỏi, xấu xí: vóc người thấp bé, gày gò, mắt lờ đờ thiếu sinh khí, đã thế lại có tật gì ở mũi khiến mồm lúc nào cũng há hốc, khiến cho ông không thể gây sự chú ý của thiên hạ. Không có gì đau khổ hơn đối với ông là tình trạng mờ nhạt, tối tăm mà số phận đã dành cho. Dường như cái vẻ ngoài bất lợi ấy thúc đẩy ông quyết thoát ra là trở thành nhà thông thái. Để chứng tỏ cho thiên hạ thấy rằng nếu tạo hóa lấy đi của ai cái gì thì lại bù lại cho người ấy cái khác. Ông trở thành nhà vũ trụ học của hoàng cung, nổi tiếng là có kiến thức bách khoa. Người kính phục cũng lắm, người thù ghét cũng nhiều. Ai yêu ai ghét, ông đều lấy làm thích thú, vì như vậy là không ai dám coi thường.
Vậy là cứ mỗi đầu giờ buổi chiều, sau lúc bàn luận chán chê, Villegagnon lại hỏi ông thầy tu:
- Giờ ông hãy chỉ xem chúng ta đang ở đâu.
Nhà thông thái tập tễnh đi lại bàn, đặt cái dụng cụ giống hình cái nỏ lên, rồi cầm bút tính tính toán toán. Mọi người im lặng nín thở chờ đợi. Cuối cùng, Thevet đứng thẳng người lên, đưa ngón trỏ móng cắt thật sát chỉ vào một chỗ nào đó ở bề mặt quả cầu tượng trưng cho trái đất, quả cầu được đặt trên bàn, bao bọc bởi cái lồng đan bằng các đường kinh tuyến gần bờ biển Tây Ấn, tức châu Mỹ. Hôm ấy, Villegagnon đã reo lên:
- Đất liền!
Lòng hăng hái bị dồn nén, giọng reo gần như dịu dàng của ông chứng tỏ, đô đốc coi mình thật hèn mọn trước những gì vượt ra ngoài cái vô tận. Cái bất tận ấy, ông đã cảm nhận được trong những vần thơ của nhà thơ Hy Lạp thế kỷ VIII trước Công nguyên Hésiode và nhà thơ Pháp Du Bellay, và đã phải nhỏ lệ vì chúng. Còn đối với kiến thức của một nhà thông thái thì ông kính cẩn nghiêng mình và sẵn sàng giao phó cả mạng sống của mình.
- Phải. – Nhà địa lý xác nhận, vẻ khiêm tốn một cách độc đoán, cái vẻ khiến các ông lớn phải tin phục và dân thường phải căm ghét. – Theo tính toán của tôi, lẽ ra chúng ta đã phải đến đất liền rồi mới phải.
Ngài Gonzagues đứng cạnh, cắt lời:
- Tuy nhiên, hiện chúng ta vẫn lênh đênh trên biển.
- Ông tưởng tôi không biết điều ấy sao? – Ông thầy tu vặn lại, thái độ đối với kẻ dưới quyền nghiệt ngã bao nhiêu thì đối với bề trên lại thuần tính bấy nhiêu.
- Hãy để ông giáo sĩ tiếp tục phát biểu – Villegagnon can.
- Vâng, thưa ngài đô đốc. Tôi bảo lẽ ra đã tới, tức là chúng ta đã tới hay gần như đã tới. Đối với những hiện tượng kỳ lạ ấy, chúng tôi được đặt vào tư thế của chính Thượng đế và khi đầu ngón tay tôi chạm nhẹ vào một chỗ nào đó trên quả cầu này tức là nó đã bao quát cả bề mặt của cả một hòn đảo, như đảo Sardaigne của Ý chẳng hạn. Chỉ có sai số một chút thôi, nói tóm lại, ta đã đến đất liền.
Chỉ có tài biến báo của Thevet mới có thể lấp liếm được sự nhầm lẫn của con người bằng cách nêu ra tật cận thị của thần thánh.
- Thuyền trưởng Imbert, ông nghe chưa. Ông đã làm mọi công việc chuẩn bị cập bến chưa?
Trước mặt Thevet, viên thủy thủ già vừa có sự khinh thường vừa e sợ, ông hiểu không dại gì mà phản đối nhà thông thái. Tuy nhiên kinh nghiệm một đời đi biển dạy ông rằng lời tiên đoán của lão là láo toét. Đã nhiều lần ngang dọc trên Đại Tây
Dương mênh mông, ông dùng linh tính mà nhận ra tàu đang ở quãng nào, khoảnh nào của biển, nhưng không thể giải thích. Có thể là nhìn chim bay cao hay thấp màu nước sáng hay sẫm, độ nước nông hay sâu, nhưng những cái đó thì có nghĩa lý gì với Thevet.
- Chúng ta hãy còn thời gian... – thuyền trưởng dè dặt nói.
- Còn thời gian gì nữa? Để rồi ông cho tàu húc vào đá ngầm à? Không do dự nữa, hãy hướng mũi tàu sang phía tây.
Lời gạt phắt của Thevet được coi như kết luận. Bàn bạc nữa là vô ích.
- Vâng, Vậy tôi sẽ tăng gấp đôi ca trực, lệnh cho tất cả mọi người lên ngủ trên boong – thuyền trưởng đành nín nhịn, song bụng bảo dạ vẫn cứ hướng tàu đi chếch về phía nam, như bản năng của ông mách bảo.
- Nhưng tôi xin báo trước: nếu phải điều khiển buồm thật nhanh, tôi sẽ phải huy động rất nhiều nhân lực để leo lên trục đấy.
- Đám thủy thủ không đủ ư? – Villegagnon hỏi.
- Nhiều đứa đã bỏ trốn lúc ở gần bờ biển Anh, ông biết rồi đấy. Những người còn lại phần lớn không được tích sự gì: tuổi cao, nhút nhát, hễ trèo cao là chóng mặt...
Villegagnon ghi nhận tình hình đó, ông cảm thấy phải có trách nhiệm giải quyết.
Quintin đứng tựa thành tàu theo dõi cuộc bàn luận như mọi khi, liền chạy đi gặp Colombe, kéo tay cô:
- Đã đến lúc rồi.
Khi hai người quay trở lại, thấy thuyền trưởng Imbert đang đưa một quyển sổ cho Villegagnon, và ông này đang gí mắt vào xem.
- Trên danh sách này, ông có mười bẩy người.
- Trừ đi bọn đã bỏ trốn, còn mười ba. Trừ số ốm đau do ăn uống quá kém, còn tám. Trừ một người cầm bánh lái, người trên đài quan sát và tôi, còn có năm để làm mọi việc trên boong và trèo lên ba cột buồm. Mà ông thấy đấy, phải ba người mới chuyển được cánh buồm chủ...
- Thế thì làm thế nào? Villegagon nói. Nếu cần, tôi cũng trèo lên cao giúp một tay.
Chả lẽ để chủ soái phải hạ mình làm việc nặng nhọc, Imbert thưa thật:
- Thưa ngài, nói cho đúng, tôi còn hai thủy thủ tập sự, nhưng chúng đang bị cùm.
Quintin siết chặt cánh tay Colombe.
- Bị cùm! Vì lý do gì?
- Chúng đánh nhau trên cao, suýt lộn cổ xuống biển. Không cần phân biệt đứa nào gây sự trước, tôi cho cùm cả hai đứa.
- Ðược – Villegagnon nghiêm nghị gật đầu. Nhưng ông có thể thả chúng ra. Có cách nào trừng phạt ngắn gọn hơn?
- Thực ra, tôi định cho chúng một trận đòn roi thì ngài đến...
- Tốt. Bao nhiêu roi?
- Mỗi đứa... hai mươi roi – thuyền trưởng định nói mười, nhưng lại ngại Villegagnon cho là nhẹ.
- Thế thì được rồi, đánh cho chúng nó một trận nên thân để nhắc nhở chúng nhớ đến nhiệm vụ. Ông để chúng ngẫm nghĩ một đêm rồi cho chúng ra ngoài làm việc cho bớt hung hăng.
Sự tàn ác lạnh lùng trong câu nói ấy khiến Colombe sửng sốt, cô cứ tưởng Villegagnon tử tế hơn. Nhưng thôi, không còn lúc nào khác. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, cô lao thẳng ra quỳ xuống chân đô đốc, cố ý nhìn thẳng lên mặt ông, van vỉ:
- Kính thưa đức ông, xin đức ông đoái thương soi xét cho một trong hai người, người ấy bị oan!
Ngài hiệp sĩ sẵn lòng chuyện trò với người hèn kém, song chỉ trong trường hợp ngài chủ động bắt chuyện. Còn bỗng dưng đường đột thế này là ngài chúa ghét. Villegagnon quay phắt lại, gắt:
- Đứa này là đứa nào?
- Một thủy thủ tập sự – Imbert đáp.
Hai tên lính đến xốc cánh tay Colombe, điệu cô đi
– Anh tôi phải đánh nhau chỉ để tự vệ! Cầu xin ngài soi xét!
Cô hét to, phần vì kiên quyết không chịu thối chí, phần nữa có lẽ để cùng chịu chung trừng phạt với Just, vì rõ ràng mọi việc đã hỏng bét. Ngài đô đốc cố kìm cơn phẫn nộ, quát:
- Bọn này hai mươi roi chưa đủ. Ông Imbert, hãy tăng lên bốn mươi. Phải thế lũ láo xược này mới chừa.
Colombe vẫn la hét; một tên lính định đưa tay bịt miệng cô. Cô thất vọng vì không thành công một phần, phần nữa là đã đánh giá nhầm nhân cách của
Villegagnon. Rút cục ông ta vẫn là người của đẳng cấp trên, đoái gì đến oan trái của người khác. Chính vì uất hận như vậy nên không suy nghĩ gì, cô gào to:
- Thưa ngài, ngài hãy cẩn thận! Ngài định đánh roi một nhà quý tộc...
Tên lính ra sức bịt miệng cô, cô giẫy giụa, cô thét lên lời cuối:
-… một Clamorgan!
Mải giãy giụa, cô không cảm thấy được ngay là xung quanh có gì đó khác lạ. Villegagnon ngay lưng, quay lại nhìn cô và lệnh cho tên lính tạm buông cô ra.
- Mày vừa nói gì? – Ông ta hỏi.
Colombe suýt soa hai cánh tay bị tên lính làm đau, vì Villegagnon tiến đến trước mặt, cách cô hai bước, quát to đến mức cả tàu nghe thấy:
- Mày vừa nói tên gì?
Như một chiến sĩ đã bị tước vũ khí nay lại tìm thấy thanh kiếm dưới chân mình, Colombe nghiêm hẳn nét mặt, ngước mắt nhìn Villegagnon.
Hàng lông mi vàng long lanh dưới mặt trời xích đạo làm đôi mắt cô lóe lên như hai ông mặt trời giận dữ.
Đồng thời, cô mỉm cười nhắc lại một cách tự nhiên:
- Tôi nói là ngài sắp đưa một nhà quý tộc ra chịu đòn roi.
- Mày vừa nói tên gì? – Villegagnon lại hỏi, song chất giọng đã dịu xuống.
- Clamorgan – Colombe hơi miễn cưỡng nhắc lại.
Trong cơn bĩ cực, cô đã để buột ra tên này. Lời dặn của bà bác lởn vởn trong trí nhớ, cô rất lo là đã làm điều dại đột.
Cô tiếp tục phát huy uy lực của đôi mắt. Villegagnon giương đôi mắt cận thị nhìn kỹ con người bé nhỏ trước mặt dám láo xược hò hét như vậy. Ông nhận ra, dưới lớp ghét bẩn tích tụ từ đầu cuộc hành trình đến giờ, ở thằng bé này vẫn toát ra vẻ đẹp cao quý, trong sáng và non nớt như con gái mà các tác giả cổ đại luôn ca tụng. Villegagnon không đành lòng coi thường cái đẹp, nếu như nó lồ lộ ngay trước mắt, bởi vì, đối với ông, sắc đẹp không chỉ là hình thức bề ngoài:
- Clamorgan. Người lấy đâu ra cái tên ấy?
- Tôi không lấy ở đâu cả, thưa ngài. Đó là tên dòng họ tôi. Tôi thừa hưởng tên họ từ cha tôi, cũng như anh Just mà ngài sắp đưa ra trừng phạt.
Ðường dây cảm thông đã thiết lập, Colombe không còn sợ gì nữa. Cô mỉm cười vừa thoải mái vừa thách thức. Ông khổng lồ kia đã chú ý đến cô.
Villegagnon sững người và đưa mắt nhìn quanh đám đông im phăng phắc chờ xem sự thể diễn biến ra sao. Chỉ thấy tiếng rì rào của gió và sóng biển, nghe yếu hẳn trong không khi nóng ấm, ẩm thấp. Ngài hiệp sĩ nhăn mũi, như một con chó săn ngửi thấy mùi con mồi. Trên cái tàu chết tiệt này chẳng bao giờ có chuyện gì bất thường cả, mà đất liền thì mãi không xuất hiện, và bây giờ mới có một việc thú vị xảy ra. Ông ra hiệu cho Colombe đứng lên, đi theo ông vào căn phòng ở boong đuôi.