Bresil Đỏ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

Tất cả những người túc trực ở mũi tàu để xem trái đất có tròn thật không, có vực thẳm và những quái vật dưới đó thật không, đã hết hoài nghi và bắt đầu lấy lại niềm tin. Màu xanh vùng nhiệt đới tự nhiên tối sầm lại. Những đám mây tả tơi, đám lớn xen lẫn đám nhỏ, bay nhanh về phía chân trời. Hồi sáng, sương mù dày đặc bao phủ mặt biển bốc mùi cá ươn. Đến trưa, gió đổi chiều liên tục, nên phải dùng đến cột buồm mũi. Thuyền trưởng Imbert phải thân chinh ra cầm bánh lái, chứng tỏ tình hình nghiêm trọng. Ông ra lệnh nạp đạn, vào bốn cỗ súng, phòng khi sương mù dày nữa thì phải nổ súng để liên lạc với hai tàu bạn.

Nhưng cuối cùng, trời lại mưa. Mưa rơi từ một đám mây đen kịt làm không khí trở nên lành lạnh. Đám mây ấy khiến tất cả những gì ở gần đều mờ tối, trong khi một quầng sáng vẫn tiếp tục rực rỡ một màu lam nhạt ở toàn bộ vành chân trời phía xa.

Colombe chạy ra đứng cạnh cột buồm cái, toàn thân run rẩy vì sung sướng, giang hai tay, ngửa mặt nếm những hạt mưa nặng trĩu mát lạnh. Tuy có nhơn nhớt một chút nhưng dù sao vẫn là nước ngọt; bản năng bảo cô phải há miệng hớp lấy từng ngụm không khí ẩm ướt. Một thủy thủ mà ông Quintin đã giới thiệu cho cô làm quen đi qua và bảo:

- Đừng uống như thế, nước lúc này chứa đầy chướng khí.

Mưa trút suốt ngày và cả buổi tối. Colombe được yêu cầu ngủ ngay trên boong vì thuyền trưởng muốn ai nấy phải sẵn sàng, ông cũng cho tăng gấp đôi số người gác. Dù nằm dưới tấm vải bạt, cô vẫn run cầm cập suốt đêm. Sáng ra, mưa gió đã ngớt, mặt trời ló rạng hong khô mọi quần áo, nhưng đúng như anh thủy thủ nọ nói, da mọi người bị nước mưa ăn bợt bạt, có chỗ mưng mủ. Ông thầy lang được dịp trổ tài pha chế một thứ thuốc bôi, ai nấy xếp hàng để chờ đến lượt mình được thoa lên các vết xước.

Từ tàu chỉ huy truyền sang những tin tức xấu. Ba tàu đi song song, các thuyền trưởng vừa gọi vừa trao đổi tín hiệu với nhau, rồi cả ba tắt máy. Khi Colombe trông thấy bên sườn tàu Grande-Roberge một chiếc xuồng được dòng dây hạ xuống biển, cô nghĩ bụng: ra nhóm a-na-báp-tít-xtơ nói đúng. Tuy nhiên, nhìn sang nhóm này vẫn thấy họ thản nhiên như không, hầu như không chú ý đến bất cứ ai quanh mình.

- Để xem những ai sang bên này – Quintin đến sau lưng cô lúc nào không biết, nói nhỏ.

Mười anh lính nai nịt gọn gàng, vũ khí trang bị từ đầu đến chân, người nào cũng đeo cây thập tự trắng lủng lẳng trước bụng, lần lượt leo thang dây từ trên tàu Grande-Roberge xuống xuồng và thận trọng tìm một chỗ ngồi. Rồi đến một thầy tu mặc áo choàng đen, rồi ba người nữa ăn mặc kiểu trưởng giả. Quintin thốt lên:

- Tình hình chắc nghiêm trọng, toàn những ông to sang trú bên tàu ta.

Các tay chèo cũng ra sức đẩy mạnh một cái để cho xuồng được đà và tách ra khỏi tàu. Sau đó thì họ rẽ nước không khó nhọc lắm và đến cập mạn tàu Rosée. Toàn bộ thủy thủ đoàn cung kính đứng chờ những người mới đến. Ông thầy tu bước lên trước tiên. Thuyền trưởng Imbert lễ phép cúi chào và đưa ông ta vào phòng riêng.

Quintin nói:

- Đấy là lão Thevet, thầy tu dòng Cordeliers, là chuyên gia có uy tín của nhà vua về vũ trụ học.

Colombe không thể biết trong cái giọng xướng lên những chức danh đó là bao hàm sự kính trọng hay khinh thị.

Theo sau viên thầy tu đến các vị khác. Một người trong số đó lúc trèo lên thang bị một đợt sóng đánh bất ngờ nên quần áo ướt đẫm. Một số người chạy tới tỏ vẻ săn sóc, thì ông ta kiêu gạt đi, chỉ yêu cầu cho một cái gì để lau vỏ kiếm bị ướt. Colombe nhận ra đó là Ganzagues.

Trong khi đó, chiếc xuồng nhỏ đã quay trở lại tàu Grander Roberge. Ai nấy yên lặng chờ xem chuyến tiếp theo.

- Lần này chắc là Villegagnon! Quintin đoán.

Phía bên tàu chỉ huy, các thủy thủ lăng xăng, nhưng chưa có ai leo thang xuống thuyền. Bỗng có một vật hình vuông mầu sẫm to lù lù được khiêng qua thành tàu một cách rất vất vả. Tiếng hò dô ta ồn ào làm rộn rã cả một góc biển tĩnh lặng. Cái khối to đen ấy được dòng dây lắc lư hạ dần xuống.

Cả tàu Rosée đổ xô về mạn trái để quan sát. Do chuyển động đột ngột của khối người, chiếc tàu nghiêng hẳn về một bên.

Cái hình thù màu đen ấy đã được hạ xuống. Nó vừa đến nơi, chiếc xuồng liền chòng chành dữ dội, gây ra những tiếng kêu thất thanh. Các tay chèo thận trọng ổn định chỗ ngồi. Cuối cùng, chiếc xuồng từ từ rời tàu mẹ tiến về phía tàu Rosée.

Một lúc lâu sau, Colombe vẻ vẫn hoài nghi, và cả đám người im lặng xung quanh cô, mới dần nhận ra cái khối lù lù ấy là một cái tủ buýp-phê gỗ màu thẫm. Tự nhiên lại có một vật khác thường, lắc la lắc lư trên sóng như thế, xuất hiện ở giữa Đại Tây Dương, nếu không phải là ở giữa thì ít ra cũng ở gần núi lửa Etna thuộc đất Xixin, nơi các ông thợ rèn khổng lồ có một mắt ở giữa trán Cyclopes sống, thì thật là lạ lùng. Chiếc xuồng chở cái khối to cao, đen bóng, với sáu mái chèo, trông chẳng khác gì một con bọ hung bò lồm cồm trên mặt nước màu be của buổi hoàng hôn.

Sang tới Rosée rồi, mất một thời gian dài nữa mới kéo được nó lên boong. Giờ thì nó ngự đàng hoàng giữa boong thượng. Đó là một cái bàn làm việc vừa là cái tủ có nhiều ngăn kéo, cánh cửa và chân đều gọt giũa cầu kỳ. So với các thứ bằng gỗ khác trên tàu: gỗ sàn bạc phếch, sàn bạc phếch vì nước mặn, cột buồm thô ráp, đánh véc ni xấu xí, tất cả phải chịu cúi mình chào thua chất gỗ mun bóng lộn, sang trọng, dát ngà voi.

Ai nấy đều rụt rè xúm quanh cái tủ đang đứng oai vệ trên bốn chân giữa boong. Những mảnh ngà voi gắn trên mặt trước thể hiện hình một cái sừng đội đầy hoa và quả, tượng trưng cho sự giàu sang và thịnh vượng, bên trên có một chiếc mũ miện. Cách gia công thật tài tình và phần lớn mọi người trên tàu chưa bao giờ được thấy một công trình khéo léo đến thế. Nhưng với Colombe, nó gợi trong cô một kỷ niệm xa xưa từ nước Ý. Hồi đó vào mùa thu, có lẽ lúc cô lên bẩy. Một quý bà đứng tựa chiếc tủ giống như cái này, nói chuyện với cô. Nhưng ở đâu nhỉ? Cô lục mãi trí nhớ, song không tìm ra.

Bị thu hút bởi con bọ khổng lồ vừa đậu xuống boong, ít ai để ý đến việc chiếc xuồng đã quay về tàu Grande-Roberge và đang trở lại một chuyến nữa.

Bởi vậy, mọi người giật mình khi nghe tiếng nói to:

- Lạy thánh mớ bái! Nó đây rồi.

Hai tay vịn lên thành tàu, Villegagnon cười rất tươi thốt lên như thế khi trông thấy chiếc tủ gỗ mun bóng loáng.

༺༒༻

Ngài hiệp sĩ Nicolas Durand de Villegagnon cao hơn hẳn người khác một cái đầu, tóc muối tiêu cắt ngắn, cũng bất kham như những chi tiết còn lại trên người ông, đi đi lại lại xem xét lãnh địa mới của mình. Chỉ vài bước chân, ông đã nhẩy từ tháp mũi xuống boong trước, tay vẫn khoác vai thuyền trưởng Imbert:

 – Ở Grande-Roberge, ta đã thấy chật rồi, huống hồ tàu này. Nhưng không sao, rồi chúng ta cũng sẽ quen thôi.

Thực ra, những người cùng sang tàu Rosée với ông đã quen ngay. Cái từ “chúng ta” ấy là từ “tôi” nói một cách độ lượng, sẵn sàng đồng cam cộng khổ.

- Tàu bên kia ấy ư, như một bãi chiến trường ấy! Đô đốc nói tiếp bằng một giọng cố cho nhỏ nhưng vẫn vang từ mạn tày này sang mạn tàu kia.

Ông nhìn sang tàu Grande-Roberge. Chiếc xuồng đang được kéo lên.

- Cứ mười người thì có tám bị mắc. Đã có hai người chết ròi. Trong đó có cả thằng thợ cạo riêng của ta. – Ông đưa tay lên xoa cái cằm tua tủa râu đen. Hy vọng ta không mang theo dịch bệnh sang bên này.

Sau mấy lời tâm sự ấy, ông chợt nhớ đến các thủy thủ và những người khác vẫn đang đứng yên, và nghĩ chắc họ đang chờ nghe ở ông một lời hiệu triệu. Gì chứ việc ấy thì ông sẵn lòng. Ông liền đến bên chiếc tủ, đứng chống tay lên đó một cách oai vệ, và diễn thuyết:

- Hỡi các bạn! Chuyến đi của chúng ta đang tiến hành thuận lợi. Nước Pháp mới đang ở gần, chẳng mấy chốc ta sẽ tới. Từ đây đến đó, các bạn có vinh dự được phục vụ trên tàu phục vụ trên tàu đô đốc. Không phải vì có mặt ta mà nó trở thành tàu đô đốc đâu. Thực tế chính là cái này nó nâng tàu Rosée lên nhận danh hiệu ấy.

Ông chỉ vào chiếc tủ, vỗ vỗ vào một cạnh. Như một võ sĩ bị đánh vào bụng phải há mồm ra, nó lập tức để mở ra một cánh cửa bên trong có mười hai ngăn kéo ốp vẩy đồi mồi và dường chỉ bằng đồng.

Villegagnon thở ra một luồng hơi mạnh đến nỗi, nếu thổi vào một cánh buồm thì cũng có thể làm nó căng phồng lên ngay, và nói tiếp:

- Các bạn nhìn đây, cái tủ bằng gỗ này chứa trong mình toàn bộ thánh ý của cuộc viễn chinh này. Bên trong này là các chỉ dụ của vua Henri II ủy nhiệm cho chúng ta thiết lập chủ quyền trên các vùng đất mới châu Mỹ. Ngài Amberri, công chứng viên của chúng ta – ông ấy đứng đâu nhỉ? – Sẽ xác nhận mỗi tấc đất chiếm được vào một văn bản và các văn bản ấy sẽ được cất giữ trong các ngăn kéo này. Khi ta gửi chiếc tủ này trở về Pháp, tức là ta chuyển lên Hoàng đế những chứng thư xác nhận quyền sở hữu của Người với vương quốc Brésil mới, do tất cả chúng ta dâng lên Người.

Tiếng hoan hô vang dậy.

Bài diễn văn của Villegagnon đã gây được tác động sâu sắc. Nếu những người trên tàu Grande-Roberge nghe đã phát ngán đến mức không thể tiêu hóa thêm được nữa thì đối với tàu Rosée, nó vẫn mới là và làm trào dâng lên một là sóng phấn chấn mạnh mẽ. Thủy thủ ưỡn ngực hãnh diện, còn những hành khách khác cũng được nhắc lại mục tiêu của chuyến đi mà có lúc họ lãng quên. Ngay cả nhóm anabáptit, vốn căm ghét và muốn lật đổ các ngai vàng, cũng dường như phấn chấn vì sắp có một vương quốc mới để chống lại.

Ngài đô đốc kết thúc diễn văn bằng những lời khích lệ đầy nhiệt huyết:

- Nào, thuyền trưởng Imbert, hãy tiến lên! Hãy giương tất cả buồm lên và hạ lệnh cho đoàn tiếp tục lên đường! Từ nay, ông sẽ là chỉ huy.

Đám thủy thủ, mặc dầu người vẫn ngứa ngáy bởi mụn nhọt, mặc dầu đói ăn và gầy yếu, bỗng như được tiếp thêm sức mạnh để leo thoăn thoắt lên cột buồm.

Chỉ bằng vài lời, Villegagnon, người cao lớn trông chẳng kém gì cái tủ gỗ mun, với bộ râu và cặp mắt đen nhánh liền kề cái mũi dài như một cây ky, đã tái sinh cho con tàu mòn mỏi trong cơn đờ đẫn, chìm ngập trong thói đố kỵ và mánh khóe thấp hèn. Hài lòng vì kết quả đó, ông ta đi vào khoang đuôi, đóng cửa lại. Colombe nhìn theo, thấy lòng rưng rưng xúc động.

Cô gặp lại ông Quintin trên khoang boong, tay cầm một cái bát. Không mảy may rung động, ông lắc đầu, chép miệng, vẻ bất mãn:

- Hắn đã quen với chiến trường, giỏi cách kích thích binh sĩ.

Bữa chiều ăn xong, hai người lại lân la đến với các nhóm. Chỗ nào cũng bàn tán rôm rả. Và lần này họ có tin mới cho Colombe. Một thủy thủ thì thào:

- Jacques đã gặp anh cậu.

Và anh chàng Jacques này vẫn chưa thấy đâu. Một lát sau, anh ta mới tới, vừa cầu nhầu kêu ca về những vị khách mới đến:

- Bực cả mình! Các ông lớn này vừa mới tới đã hoạnh họe chuyện này chuyện nọ. Lão thầy tu lôi ra những máy móc gì chẳng biết, nói là để đo các vì sao gì đó. Lão bắt tôi cầm đèn soi cho lão suốt hai tiếng đồng hồ, mỏi rã cả chân.

- Anh đã gặp Just ư? – Colombe ngắt lời.

- Phải. Tuần này, đến lượt tôi phải mang thức ăn cho nó.

- Anh ấy thế nào?

- Thì chân trong cùm rồi thì cũng phải cố mà khỏe chứ còn biết làm sao nữa.

- Ôi, khổ anh tôi quá! Chắc anh ấy khổ sở lắm, có khi lại còn bị ốm nữa không biết chừng.

- Sướng quá còn gì! Khỏi phải làm việc mệt nhọc, khỏi phải cầm đèn soi cho thầy tu.

- Cái đứa đánh anh ấy có ở cùng?

- Có chứ. Hai đứa bị cùm sát cạnh nhau, trông chúng nó có vẻ khá thân thiện, như hai anh em ấy.

Đấy là một tin tốt lành nhưng Colombe vẫn cảm thấy hơi khó chịu vì sự gần gũi ấy.

- Anh ấy có nhắn gì tôi không?

- Không.

Cô chợt nảy ra một ý nghĩ ghen tị là mình đáng được thương xót hơn anh nhiều.

- Mai anh có gặp anh ấy nữa không?

- Sáng gặp, chiều lại gặp.

- Tôi đi cùng được không?

- Không được. Thuyền trưởng đã bắt tôi thề là phải tuyệt đối giam kín chúng nó. Mà cái bọn lính mới từ tàu kia sang lại là chúa hay rình mò…

Jacques hứa sẽ nói với Just rằng cô vẫn khỏe và cô gửi lời hỏi thăm.

Suốt từ đó Colombe loay hoay nghĩ cách để cứu Just ra. Nghĩ đi nghĩ lại, cô cho tốt nhất là kêu cầu lên tận Villegagnon. Mới nhìn qua, đã thấy ông có vẻ là người đàng hoàng, công bằng. Bây giờ chỉ cần nắm được thói quen hằng ngày của ông và chờ dịp tiếp cận mà không bị bọn tùy tùng hay thuyền trưởng Imbert ngăn cản.

Tối ấy, để mừng việc chuyển sang tàu mới, đô đốc Villegagnon cho mở kho lấy ra ba vò rượu. Mọi người chuyền tay thay nhau tu. Hơi nóng đã làm cho rượu có vị ngòn ngọt. Colombe cũng thích vị ngọt ấy nên khi các thủy thủ mang cái vò để trong giỏ đan bằng cành liễu đến, cô không từ chối và uống thêm một lần nữa, có ông Quintin bên cạnh nâng giúp lên tận miệng.

Đồ uống ấy, cộng thêm đêm trước đó phải nằm trên boong, khiến cô chìm ngay vào giấc ngủ đầy mộng mị. Cô ngủ say đến nỗi, sáng ra, chỉ nhớ mang máng về những gì diễn ra trong đêm và không phân biệt nổi đâu là thực, đâu là hư, trong những việc mà cô cảm thấy như mình đã trải qua, nhưng không rõ ràng. Cô muốn hoài nghi mà không được. Chứng cớ là cô tỉnh dậy dưới đất chứ không phải trên võng, như vậy tức là ký ức đã không đánh lừa cô.

Mọi việc diễn ra trong ánh sáng lung linh một màu xanh bàng bạc từ vầng trăng tròn vành vạnh tỏa xuống và từ mặt biển, như một chiếc gương lấp lánh, hắt lên. Tất cả các cửa sổ thành tàu đều mở toang để cho hơi người và mùi hôi rình và khét lẹt của hàng hóa thoát bớt ra ngoài.

Colombe định cựa mình để thay đổi tư thế nằm thì thấy vướng víu và nghẹt thở. Cô mở choàng mắt. Quintin nằm áp vào cô, bộ mặt âu sầu kề sát mặt cô. Thấy cô đã thức, ông liềm mỉm cười. Ông đã cởi áo từ bao giờ và hai cánh tay trần luồn dưới áo khoác cưỡi ngựa của cô. Colombe cảm thấy đôi bàn tay dài ngoằng vuốt ve lưng mình. Đêm đã khuya và cô vẫn nửa tỉnh nửa mê, chưa thể có phản ứng quyết liệt ngay được.

- Ông làm gì vậy? – cô lẩm bẩm.

- Ta ôm cháu vào lòng – Quintin lúng búng đáp.

- Tại sao?

- Là vì ta muốn thế.

Cô lờ mờ nhận thấy mình phải cưỡng lại nhưng đôi tay của Quintin rất dịu dàng và cô cần phải thật cương quyết mới có thể dùng bạo lực để đối phó.

- Thôi nào, thế là không tốt.

Quintin vẫn đưa tay vuốt ve khắp người cô, mà do cái nóng bức của vùng nhiệt đới, quần áo cô lại không lấy làm gì dày dặn lắm, và nói:

- Có gì xấu đâu, vì là do tình thương yêu đưa dắt mà. Thượng đế đã cho con người ý thức nhận biết cái gì là thiện. Tất cả những gì chúng ta ham muốn đều là tốt, nếu là do tình thương yêu dẫn dắt.

Lời lý thuyết dài dòng ấy làm Colombe e ngại hơn cả động tác vuốt ve: cô nhận ra trong đó lối rao giảng ảm đạm và những cách chủ giải Kinh Thánh dài dòng của Quintin. Cô lấy hết can đảm đẩy tay ông ta ra và cự tuyệt:

- Có thể đấy là ham muốn của ông, nhưng không phải của tôi.

Quintin không cố dùng sức mạnh để áp, và ông làm gì có hơi sức, trong khi Colombe lao động suốt ngày với thừng chão, thừa sức lực để chống lại. Nhưng chuyện đó đã không xảy ra. Cô lặng lẽ tuồn khỏi võng và ra nằm cạnh một cỗ pháo.

Sáng hôm sau gặp lại, Quintin vẫn có bộ mặt thản nhiên, đăm chiêu, nghiêm nghị như mọi ngày, khiến Colombe tự hỏi có phải mình đã nằm mơ. Nhưng đến trưa, lúc cô mang đĩa ăn ra đứng tựa mạn tàu – đó là cách duy nhất để gió thổi đi bớt mùi ẩm mốc của thức ăn – thì Quintin tiến đến, đứng sát cạnh. Ông nhìn ngang nhìn ngửa cho chắc là không có ai ở gần và nghe thấy. Ông thì thầm, vẫn cái giọng buồn buồn ngao ngán lúc đầu:

- Khổ thân cháu, ai mà lại bắt cháu lên tàu một thân con gái đơn độc thế này, lại còn phải giấu biệt giới tính của mình nữa chứ?

Thoạt nhớ lại chuyện hồi đêm, Colombe vô cùng tức giận:

- Ai cho phép ông khám phá điều đó?

Cô gườm gườm nhìn ông, khiến ông phải quay mặt đi. Ông ta sẽ làm gì mình đây, tố giác chắc? Song ngày sau đó, cô thay đổi ý kiến thì thấy ông già dễ dàng chịu nhịn. Rõ ràng ông ta không thuộc loại đàn ông thô bạo, do bị nhục dục thôi thúc mà ép buộc người khác phải chịu đựng và bản thân cũng phải gánh lấy hậu quả. Ở Quintin, mọi hành động lại do cái đầu thôi thúc: ông ta tuân theo cái kiểu dụ giảng về tình yêu mà ông tưởng mình đã được đọc trong Kinh Thánh, một cách có phương pháp và hơi miễn cưỡng; để duy trì ngọn lửa niềm tin ấy, ông ta phải gạt sang một bên chút dục vọng mà tự nhiên đã ban cho cái cơ thể gầy còm của ông một cách rất tiết kiệm. Colombe dịu dàng hỏi:

- Ông Quintin, ông bị xét xử vì phạm tội gì?

- Ta là thợ làm kính ở Rouen; không có ai được kính trọng bằng ta, ít nhất là trong thời gian ta còn chưa có tham vọng đem ánh sáng chân lý đến mọi người, và việc đó, ta mới được mở mắt từ ba năm nay.

- Ai mở mắt cho ông?

- Một người lữ hành chịu nhiều đau khổ ở Đức, đã đến với ta. Ta giấu người đó trong nhà cho đến khi ông ta đáp tàu đi Saint-Laurent.

Colombe đăm đăm nhìn trước mắt, dõi theo làn rẽ nước thong thả sau tàu Grande-Roberge, nữ hoàng bị thất sủng.

Thế là ta bỗng được soi sáng, và bỏ hết những miếng kính nhỏ bé đổi lấy cái kính vũ trụ vĩ đại, nhìn đâu cũng thấy minh bạch và tốt đẹp.

Nói rồi, ông nhẹ nhàng đặt tay lên cuốn kinh thánh luôn có trong người:

- Có lẽ lúc ta đã đặt hết nhiệt tình vào lời rao giảng nên được nhiều phu nhân ở Rouen tin cậy, họ giới thiệu ta với nhiều bà bạn khác. Và thế là ngày đêm ta miệt mài đưa lời Chúa dạy về tình thương yêu vô tận vào những trái tim cộng hưởng.

- Như ông định đưa vào lòng tôi đêm qua?

- Phải.

Colombe quay người lại nhìn tận mặt Quintin. Cô không thể tin được, ông ta thốt ra một lời thú nhận như thế mà không hề nhếch mép. Nhưng không gì có thể chọc thủng được vẻ nghiêm nghị của ông ta.

- Rồi người ta tố cáo ông?

- Không phải! – Quintin la lên. – Chính kết quả của việc ta làm đã tố cáo ta. Bởi vì tính chất thánh thiện của tình dục đã được các bà, các cô lĩnh hội thông suốt và họ đã tự nguyện đi theo ta ngày càng đông. Đến mức có lúc ta tưởng như mọi người trong thành phố chỉ còn biết đến yêu thương và tán dương nhau mà quên đi mọi ghen ghét và hận thù.

Colombe nhìn Quintin, nghĩ bụng: Ông già này điên.

- Như vậy thì bao giờ những kẻ xấu bụng cũng lo sợ; những tên chuyên sống trên nỗi khổ của người khác; lũ giả danh thầy tu chỉ yêu Chúa ở cái lỗ mồm; những quan tòa ngu dốt; những cảnh sát sa đọa…

Colombe cứ để cho ông già kể lể; cô bỗng thấy không có gì đáng lo ngại. Quintin đáng thương, không đáng sợ. Có khi ông ấy chia sẻ bí mật về sự cải trang của mình, có khi lại hay. Có Just ở bên, cô đóng vai nam một cách tự nhiên, không khó khăn vì đã có anh cùng đóng kịch, anh nhắc nhở nếu có lúc cô nhỡ quên. Trong tình cảnh cô độc, cô luôn có cảm giác mình sắp bị lộ. Nay có thêm Quintin…

- Ông Quintin ông hãy hứa…

- Thật ư? – Ông…

Cô cười và rụt tay lại:

- Ý cháu là qui đạo vừa đủ để từ nay ông khỏi…

- Ồ! Ta thề sẽ làm tất cả những gì có thể để không ai phát hiện ra cháu là gái.

Cô không hiểu, niềm vui mà ông ta để lộ ra ngoài là do đã thu phục được cô hay do thở phào nhẹ nhõm vì đã giải quyết được chuyện khó xử đêm hôm trước.

Colombe thở phào: từ nay cô có thêm một người bạn. Sự thân thiết ấy sẽ không thừa để cô thực hiện một kế hoạch mạo hiểm đang ấp ủ.

nh —★— BRÉSIL ĐỎ Nguyên tác: Rouge Brésil ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 2004
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jean-christophe Rufin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.