CHƯƠNG 3
Vừa khỏi cơn khó ở, Villagagnon cho báo ngay với DuPont và các vị khách là ông sẽ chính thức đón tiếp họ tại dinh thống đốc. Sau đó, tất cả sẽ cùng đi ra gian hội họp nhỏ, nơi mọi người vẫn cầu nguyện chung, để cử hành lễ ban thánh thể.
DuPont có vẻ không ưa lời triệu tập đó, nhưng cũng diện bộ áo chẽn xanh giữ gìn cẩn thận để dùng cho những dịp trọng thể. Phía Villegagnon, trái với thói quen luộm thuộm vốn có, cũng khoác một bộ áo choàng thập tự xứ Malte, gần như mới nguyên. Just đóng vai phò ta, y phục chỉnh tề, gồm một chiếc áo gilê nhung do ông thợ may khâu vội mới tối hôm trước. Richer và Chartier, hai ông mục sư, tất nhiên mặc áo thụng đen xì.
Nói cho đúng sự thật, điệu bộ nghiêm chinh của khách không khỏi khiến Villegagnon ngỡ ngàng. Lúc đầu, do bị mệt nên ông chưa tiếp họ. Nay khỏi rồi, ông tỏ vẻ vui mừng thật sự, và ngạc nhiên thấy khách không chia sẻ sự hồ hởi ấy.
Thấy khách bước vào, ông nói ngay:
- Các bạn thân mến, xin mời các bạn an tọa.
Vừa nghe thấy vậy, DuPont lùi lại một bước như vừa bị vật gì cắn. Ông gạt chiếc ghế vừa được đưa ra, cứ như ta gạt lưỡi dao sắp kề cổ. Thế là hai bên cứ đứng mà nói chuyện.
- Các ngài đi đường khỏe chứ ạ? – Villegagnon hỏi.
- Cũng được – DuPont trả lời cộc lốc.
Ông ta đưa mắt nhìn chung quanh, như để ý so sánh sự sang trọng ở đây với nơi ở tạm bợ của khách, từ chiếc giường có bốn cột đến cái bàn đẹp, tủ sách… Từ lần bị tấn công, dinh thống đốc được sửa sang thêm, chủ yếu để tăng sự an toàn. Tường xây bằng đá, cánh cửa bằng gỗ chắc, mặt đất được xếp kín thân cây cọ san cho phẳng bằng lưỡi xới, khiến chân giẫm lên thấy mềm mềm. Đô đốc hỏi tiếp:
- Ở Pháp, các ngài có gặp Coligny?
DuPont đáp, vẫn cái giọng mà Villegagnon cảm thấy khó hiểu:
- Đô đốc Coligny là hàng xóm của tôi. Đất đai của tôi ở Corguilleray nằm cạnh Chatillon là đất đai của ông ấy. Ông ấy không chỉ tiếp, mà còn trao nhiệm vụ cho chúng tôi.
Villegagnon chẳng có gì phàn nàn về việc đó, trừ giọng nói của DuPont.
- Thế thì mừng quá, tôi rất vui thấy ở nước nhà người ta không bài xích những tư tưởng mới nữa.
- Từ hai năm nay, Giáo hội của chân lý đã đấu tranh mạnh mẽ về vấn đề ấy – Richer nói xen.
Giọng ra vẻ dịu dàng của ông ta dùng để nói câu vừa rồi phủ một lớp nhung lên thái độ kiêu căng đáng ghét.
Villegagnon reo lên, phấn khởi:
- Và nó sẽ phát triển hơn nữa tại nước Pháp Nam Cực!
Ông định cất lời mời mọi người chạm cốc nhưng chợt nhớ đến buổi lễ sắp tới và mừng là mình chưa nói ra.
DuPont lập tức nheo mắt:
- Ông nói gì, nước Pháp gì?
- Nam cực. Đó là ý tưởng của một nhà khoa học từng ở đây, mục sư Thevet. Mới đầu ông ấy định gọi nước Pháp Xích đạo, sau quyết là nước Pháp Nam cực.
- Thevet… DuPont suy nghĩ – Có phải cái ông đã mang từ đâu về cái thứ cỏ để mọi người hút um lên khắp nơi? Ông ta là người Angoulême, nên đặt tên cỏ đó là angoumoisine, rồi cai nhau ầm ĩ với lão Nicot, vì lão này nói lão đã tìm ra nó trước?[1]
Chuyện này quả thật làm mất uy tín của nhân vật vừa nêu tên, Villegagnon hối tiếc đã hớ hênh kể tên ông ta.
DuPont chỉ Just rồi gật đầu hỏi:
- Phụ tá của ông đã kể ông nghe tin về hoàng đế?
- Hoàng đế thoái vị? Rồi! Quả là ơn Trời ban xuống. Vậy ngài tin chắc là từ nay người Bồ Đào Nha…
- Sẽ để chúng ta yên.
Villegagnon liếc mắt nhìn nhà quý tộc. Ông chợt hiểu tại sao ông thấy có điều gì kì lạ trong thái độ của người này. Nếu đảo này không bị đe dọa bởi nguy hiểm trước mắt nào nữa, tại sao Coligny lại phái quân nhân này đến đây, và trao cho ông ta sứ mệnh gì? Ông bỗng thấy nghi ngờ tràn ngập, cố xua khỏi không được.
Tuy nhiên, ông làm sao biết được sự thật. Vì Coligny không hề cử DuPont, chính DuPont đã vận động trắng trợn bằng mọi cách để được cử đi. Tham vọng chỉ là một phần, nguyên nhân chính là một điều trớ trêu, không liên quan gì. Chả là viên tướng khốn khổ này bị mắc bệnh trĩ nặng. Để khuây khỏa, ông sẵn sàng đi chinh chiến ở bất kì đâu, miễn là không phải ngồi trên lưng ngựa. Như ông thường nói không đùa chút nào, mong ước cuối cùng của ông là được chết đứng.
Villegagnon quay sang Richer, nói:
- Thưa cha, suốt một năm nay tôi phải một mình đứng ra chủ trì các buổi cầu kinh. Nói cách khác, tôi kiêm cả hai chức Hoàng đế và Giáo hoàng. Nay tôi xin nhường chức thứ hai cho ông.
Đó là một cách nói khẳng định rằng Villegagnon vẫn giữ chức thứ nhất.
- Bây giờ, nếu các ông vui lòng, chúng tôi sẽ vui lòng theo cha để được dự lễ thánh Cène.
Từ vụ Placards cho đến các cuộc họp ở Ferrare, Villegagnon đã rút ra một bài học là phải từ bỏ không dùng từ nhạc lễ nữa mà dùng từ thánh lễ. Thấy Richer gật gù, ông tiếp luôn:
- Rồi các ông sẽ thấy, đây là nơi lý tưởng để thực hành một tôn giáo thuần túy, đúng như thời cổ xưa khi Chúa mới sinh ra nó.
Lời biện hộ cho cơ sở vật chất đơn sơ vừa rồi mà các tín đồ Tân giáo chỉ có thể tán thành, cắt đứt mọi phàn nàn về nơi ở tồn tàn chỉ đợi dịp là bật ra. Sẵn đà hăm hở, Villegagnon mở toang cửa cho ánh mặt trời tràn vào và, phấn chấn vì thời tiết sáng sủa, lôi tất cả mọi người ra nắng.
Trên bãi đất trống, ai nấy đã tập hợp đông đủ, chờ xem lễ. Người cũ và người mới đứng thành hai bên riêng rẽ, và nhìn nhau không thiện cảm. Những người cũ đều gầy gò, nhếch nhác, uể oải, khiến người mới đến nhìn thấy mà phát ngán. Ngược lại, người cũ trông thấy kẻ mới đến khỏe mạnh, sạch sẽ thì ganh tị, nghĩ đến những khổ ải đã trải qua và bỗng cảm thấy mình bị xúc phạm.
Lời nguyện được cất lên để cầu xin Thượng Đế giúp mọi người xóa bỏ những lỗi lầm, mặc cảm nói trên. Và ai nấy bỗng thấy như lời cầu đó đã được Chúa đáp ứng. Những tấm áo chùng thâm, vẻ mặt trịnh trọng, cử chỉ khoan thai của các thầy tu đã phát huy tác dụng và trở thành mồi nhử thần kì của Đức Thánh thần. Những người đi chuyến đầu xúc động nhớ lại buổi cầu nguyện tập thể ngày lên đường tại cảng Havre. Rồi sau đó, trong một cuộc đối đầu với thiên nhiên, lần nào cũng là nó áp đặt quyền lực: những con người khốn khổ này biến thành đồ chơi trong tay ông mặt trời hoặc ông thần mưa, trong tay lũ quái vật, thực vật và bão tố mặn chát trên biển. Chẳng có Chúa nào tới bảo vệ họ trong cuộc chiến không cân sức ấy. Thế rồi bỗng hôm nay, nhờ những vị mục sư này, họ thấy Chúa lại trở về đứng bên mình, Chúa không bỏ rơi họ. Ai nấy ngẩng cao đầu, nhìn cảnh vật xung quanh bằng con mắt khác. Những bãi cát vắng lặng, những khu rừng già bức bối, những ngọn núi khô khan bỗng lùi xa trước ánh sáng chói lòa của Chúa Sáng Thế. Trong ánh mắt mọi người lóe lên niềm kiêu hãnh, quyết tâm.
Trong lễ nghi của các cha, lời cầu nguyện chậm rãi mang phong thái một cuộc chuyện trò: chẳng cần phải hò hét để cho Người nghe thấy vì Người đang ngự ngay tại đây. Mọi việc trong buổi lễ đều có vẻ mới mẻ và thân thuộc. Các chương, các mục trong Kinh Cựu Ước được sử dụng rộng rãi hơn trong đạo Thiên Chúa La Mã. Đức Bà và các thánh thần không còn xen giữa Chúa và giáo dân làm họ bối rối nữa, như vậy họ có thể được tự do hưởng thụ ân sủng của vị khách thiêng liêng và con trai người.
Khi đã đến lúc làm lễ ban thánh thể, mọi nghi thức được tiến hành hết sức tự nhiên và bình dị, mặc dù hai vật thể dùng để ban phát – là bánh thánh bằng bột mì trắng, và rượu vang – đều là những thứ quý hiếm trên đảo, vì vậy, khi nuốt vào bụng, họ cảm thấy như được một vị thánh nào đó nhập vào tâm hồn mình.
Villegagnon chứng kiến buổi lễ, lòng xúc động đến giàn dụa nước mắt. Niềm hạnh phúc, nỗi xúc động, cảm giác mình đã chiến thắng nhờ công ơn Đức Chúa của lòng chân thành và niềm vui mà ông đã được hoàn trả lại, xem lẫn với nhau, khiến ông phấn chấn đến ngột thở. Ông cảm ơn các mục sư đã không đòi hỏi tín đồ phải phủ phục hay có những cách thể hiện ầm ĩ, bởi vì ông không đủ cứng rắn để tự kiếm chế và chắc ông sẽ quỳ thụp xuống chân họ mà khóc. Tuy nhiên, đến lúc nhận ban thánh thể, ông vẫn bảo Just vào dinh mang ra một đệm nhung nhỏ. Và ông quỳ gối trên cái nệm ấy nhận bánh và rượu, để êm đầu gối một phần, mà cái chính có lẽ là dùng nó làm lá chắn ngăn cách ông với những thế lực hắc ám của mặt đất, và để cho ông, dù quỳ xuống thấp, vẫn bơi trong không gian sáng láng dưới ánh mặt trời.
༺༒༻
Dần đà, sống chen vai thích cánh trên đảo, các nhóm người bắt đầu hòa lẫn vào nhau. Các hoạt động trở nên rất khẩn trương, đến nỗi đảo có vẻ như đông người hẳn lên. Các điểm khác biệt mờ nhạt dần. Người mới đến cũng phải chịu chế độ ăn bột sắn, nên đã bắt đầu lây nước da xanh tái, còn người cũ thì đã phần nào hồi phục được phần nào sức khỏe, nhờ những loại rượu mà các đoàn tàu Tin lành cướp được, họ có hơi mất thăng bằng một chút trong lúc đi lại nhưng nét mặt họ lại thể hiện một niềm tin mới.
Việc xây pháo đài lại tiếp tục, bức tường thành đã cao dần gần đúng với kế hoạch. Chỉ mới có khoảng một chục ngày thôi mà tiến trình xây dựng đã tiến thêm khá xa, chứng tỏ khối lượng công việc trước đây không phải là ít và chỉ có nỗi thất vọng của đám dân di cư mới là nguyên nhân khiến họ coi công cuộc này là không tưởng.
Trục trặc duy nhất trong dòng chảy cuộc sống bình thường là tin khoảng ba chục người mới đòi trở về. Chả là một chiếc tàu phải quay về ngay theo đúng hợp đồng đã kí với chủ tàu, nên số người nọ đòi về theo, nhất định không chịu ở lại một ngày nào nữa. Villegagnon có thừa biện pháp để đối phó với việc này, song DuPont lại đứng ra bênh vực họ, nên cuối cùng đánh phải để họ đi. Thật là một gương xấu cho những người ở lại. Tuy nhiên, người mới thì vừa đến, người cũ thì ở đây đã quá lâu, nên tất cả bọn họ hoặc chưa đến hoặc đã vượt qua giới hạn buồn nhớ quê hương và, đứng trước việc đào nhiệm tập thể ấy, họ chẳng hề bị chấn động.
Mọi người lại tiếp tục làm việc.
Điều mới nhất đánh dấu sự khác hẳn với thời kỳ trước, là sự có mặt của đàn bà con gái. Chỉ có những người còn nhớ thời gian mà tên Quạ cung cấp gái cho đảo mới có thể thấy rõ sự khác hẳn ấy. Song những cô nàng từ Genéve đến thuộc loại hoàn toàn khác, không trần trụi, vừa hoang dã vừa phục tùng như những nữ nô lệ Anh điêng. Các cô nom đoan trang và đều trang phục nghiêm chỉnh, song chính vì thế lại càng tăng phần hấp dẫn. Mỗi buổi chiều tà, như đàn gà con mới nở, các cô được các bà vú tháp tùng ra khỏi nhà, đi dạo. Mọi biện pháp nghiêm ngặt được áp dụng để đảm bảo an toàn cho họ trên đường đi. Những nô lệ Anh điêng lao động trên công trường được kiểm tra, không cho để hở mông, hở vế quá lộ liễu. Những thợ đấu khác có mặc áo, phải cài khuy ngực. Đến những con khỉ nhỏ bé nhẩy nhót trên nền đất đắp cũng bị ném đá đuổi đi để chúng mang bộ mông xanh lè đi khoe ở nơi khác.
Và các cô gái diễu qua, đều khoác áo mầu ghi hoặc đen, và chỉ riêng mầu sắc ấy đủ khiến họ trở thành khác thường. Với những người đã quá quen với những mầu gắt trên vịnh: biển xanh, rừng lục, vẹt vàng, bùn đỏ nhão nhoét, tất cả đều gây cho con người nỗi e dè tự nhiên mà họ luôn luôn phải chịu ảnh hưởng. Còn màu đen và ghi lại hoàn toàn là sáng tạo của con người, và chúng có khả năng kích động ước vọng về cuộc sống văn minh. Trong số các cô gái, không có ai thật đẹp, nếu căn cứ theo các tiêu chuẩn mỹ học. Họ không bôi son thoa phấn, lại mệt mỏi gầy rộc qua một chuyến đi dài. Tóm lại, từng người đều có khiếm khuyết. Tuy nhiên, họ vẫn có cái vẻ hoàn hảo tuyệt vời, biểu trưng cho ý tưởng về người Phụ nữ sáng trong, tinh khiết. Ở cái thế giới hoang dã này, nơi suy đồi, bạo lực, cưỡng bức là chuyện thường ngày, họ mang đến sự trinh trắng, mời gọi sự yêu thương.
Hèn nào mà các ông thợ đấu nhà ta chả hau háu nhìn các cô đi qua, như muốn nuốt chửng.
Không rõ ai đã đạo diễn chương trình các cuộc đi dạo này. Đúng là khó tìm nơi nào vắng vẻ để các cô có điều kiện thư giãn, song đâu cần phải bắt buộc các nàng len lỏi qua các lối mấp mô trên công trường trước bao con mắt thèm khát! Có vẻ như sự dàn cảnh này nhằm hai mục đích trái ngược: một mặt để ai nấy thấy đây là những con gái nhà lành, khiêm nhường, tử tế, mặt khác lại để chào hàng: ai cần, xin cứ mời. Vì lý do họ có mặt ở đây là để tiến tới hôn nhân, và khi nào còn chưa được ghét đôi thì họ sẽ còn rỗi rãi chân tay, như ông thợ nề không có bay vậy.
Quả nhiên, các lời cầu hôn tới tập được đề đạt tới Villegagnon. Và ngay ngày đầu, đô đốc đã mau chóng chuẩn y hai cuộc cho hai người thuộc chuyến đi đầu tiên mà về sau ông dùng làm gia nhân riêng. Việc đó hứa hẹn ông sẽ xem xét tiếp các lời đề bạt khác, khá nhiều và đều gấp gáp. Villegagnon còn tính cả việc gả bán các bà vú nữa, mặc dù các bà được đưa tới đây không nhằm mục đích ấy.
Tuy nhiên, trong số sáu cô gái từ trên tàu xuống, có một cô chưa hề xuất hiện. Từ lúc Just bế cô từ tàu xuống sà lúp rồi đưa lên bờ, cô cứ cấm cung trong túp lều, không ló mặt ra ngoài, khiến Villegagnon không khỏi lo ngại, sợ mất đi một cô dâu quý. Riêng lần này, Just không chịu ngoan ngoãn đợi lệnh của đô đốc. Chờ một vài ngày không thấy gì, chàng bèn gợi ý với ông nên hỏi thăm tin tức cô gái xem sao. Và khi Villegagnon giao cho chàng đích thân đi làm việc này, chàng lại thấy sự lo lắng chân thành của mình tự nhiên trở thành một mưu mẹo để được biết tin cô.
Căn lều mà cô cùng bà vú cư trú là gian cuối của một dẫy nhà về phía tây. Trước kia, ở chỗ này có một khóm tre, và một vài đọt măng còn sót lại đang đâm lên ở chân tường. Just đi tới, đứng phân vân một lúc lâu ở bên ngoài. Lều không có cửa, chỉ có rèm che. Chàng không biết nên đánh tiếng thế nào. Từ bên trong vẳng ra tiếng nhạc cụ nhè nhẹ.
Just ho khẽ, và tiếng đàn phía trong im bặt, rồi nghe có tiếng người thì thầm. Cuối cùng bà vú vén rèm nhìn ra, nét mặt nghiêm nghị. Just lúng búng:
- Tôi đến để hỏi thăm sức khỏe tiểu thư.
Rồi vội nói thêm, như để tránh hiểu lầm:
- Tôi thừa lệnh đô đốc.
Bà vú sẵng giọng:
- Tiểu thư đã đỡ.
Rồi rủ rèm, biến mất.
Just đứng ngẩn người tại chỗ, trong lúc bên trong tiếng xì xào bàn tán lại nổi lên. Cuối cùng, rèm lại vén, bà vú xuất hiện, vẻ mềm mại hơn.
- Nếu cần, xin mời ông vào.
Căn lều chật hẹp được mảnh vải căng ở giữa chia làm hai. Trong góc, cây đàn virginal để mở, bên trên còn mấy bản nhạc. Nệm rơm trải trên một cái hòm, chắc dùng làm giường ngủ cho bà vú. Không thấy dấu vết cô gái đâu trong cái gian được tạm gọi là phòng ngoài này. Nhưng khi bà vú ngó vào bên trong một lát rồi gạt chiếc màn che sang một bên, Just mới thấy nàng hiện ra, đang ngồi giữa những đồ đạc ngổn ngang. Vài chiếc hòm xiểng mở tung, một bàn nhỏ trên đặt nhiều sách, một số đồ trang điểm bằng sứ, vài bộ váy dài được treo trên sống một cành cọ nhét một đầu vào khe gạch trên tường để thay mắc áo: những thứ đó đủ làm cho khung cảnh nghèo nàn của căn lều trở nên sống động. Cô gái ngồi bên mép giường, hai tay đặt lên đầu gối, mắt nhìn xuống, mặc cho Just tự do ngắm nhìn nhan sắc rực rỡ dưới ánh sáng ban ngày của mình. Sự hài hòa các màu đen trên mái tóc túm chặt ra phía sau và đôi lông mày cong làm họa tiết của bộ váy nổi hẳn lên. Nước da trắng ngần của nàng càng trong sáng hơn bên cạnh các màu tối, như các phím đàn dương cầm đen trắng vậy. Chàng nhận thấy cái mũi thật cân đối, cái cằm thật gọn gàng, và hai bên thái dương, một lớp lông măng tạo bóng rợp cho phần trên khuôn mặt, điểm này chỉ thấy ở người tóc nâu thẫm. Như thể những nét ấy còn chưa tả được hết sắc đẹp của mình, nàng từ từ ngước mắt lên và phóng hai đốm sáng long lanh về phía chàng. Cô gái nhìn thẳng vào chàng và nói bằng một giọng trầm ấm, tròn đều và cao quý:
- Cảm ơn ông đã không quên chúng tôi.
- Đô đốc gửi lời hỏi thăm sức khỏe của cô – Just rụt rè nói.
Cô gái duỗi thẳng tay vuốt một nếp nhăn trên khăn trải giường và thở dài não nuột.
- Xin cảm ơn, tôi đã khỏe hơn. Nhưng…
Just lo lắng hồi hộp. Chàng thấy như nàng sắp bật khóc.
- … nhưng tôi vẫn chưa thể ra ngoài được.
- Không sao, không việc gì phải vội.
Phải chăng Just còn muốn dành cơ hội để gặp riêng nàng lần nữa, nên buột miệng đáp, không suy nghĩ.
- Ôi, thưa ông… Cô gái thốt lên, đưa mắt nhìn Just và chàng thấy mắt nàng đã đẫm lệ.
Chàng lúng túng, không biết tính sao, thì nàng đã rên rĩ:
- Ôi, ông có vẻ là người tốt, tôi cảm thấy có thể chuyện trò…
- Tất nhiên. Nếu tôi có thể giúp được gì…
Nàng khẽ lắc đầu, nhưng thật nhẹ nhàng, để không làm méo mó nét mặt mình. Rồi đột nhiên, nàng bạo dạn ngẩng cao đầu nói với Just:
- Tôi chắc ông biết tại sao người ta dẫn chúng tôi đi ra ngoài, người ta cần gì ở chúng tôi. Tôi là cháu một mục sư Tin lành, mà cũng không là ngoại lệ. Chắc rồi tôi cũng sắp bị đưa ra chào hàng, rao bán như thế.
Nhớ lại mình cũng từng bị lừa và đưa đến đây, Just cố nén nỗi bất bình:
- Vậy tại sao cô lại nhận lời tham gia chuyến đi này? Người ta nói dối, đánh lừa cô sao?
- Không, người ta có nói, song tôi không có lựa chọn nào khác. Cha mẹ tôi đều chết vì bị đàn áp, kỳ thị tôn giáo cách đây mười năm. Nhờ chú tôi mà tôi thoát khỏi bị hỏa thiêu. Nay chú tôi quyết định đến đây, tôi không thể không đi theo.
Sau khi đã thử thứ vũ khí yếu đuối đáng thương để mê hoặc chàng, nàng chuyển sang một thứ vũ khí khác. Nàng chủ động thay đổi nét mặt và trạng thái tinh thần. Lấy vẻ vui tươi, đổi giọng thành du dương như hát, nhưng tuyệt đối không làm phương hại đến phong thái đáng kính của mình, nàng nói tiếp:
- Ôi, tôi xin lỗi, tự nhiên đi kể lể dông dài, làm ông không vui. À mà tôi quên chưa tự giới thiệu. Tôi là Aude Maupin, quê ở Lons le Saunier; bà vú đây tên là Chantal.
Cả hai người đàn bà ngả người chào lịch sự, Just vụng về đáp lại; chả là chàng chưa được Villegagnon dạy cách giao tiếp với phụ nữ. Chàng tự xưng tên, rồi khẽ khàng hỏi:
- Hôm qua, cô không ra dự buổi thánh lễ nhỉ?
- Em rất muốn, em mong chờ được cầu nguyện Chúa. Nhưng nếu hôm qua em ra, thì sẽ phải đi cả các buổi dạo sau.
Cùng với cô gái, Just rất bất bình khi nghĩ một thiếu nữ trong trắng dường này lại bị đem đi bán rao cho ai muốn lấy làm vợ. Chàng nói:
- Tôi tính có cách để miễn cho cô việc đó. Tôi sẽ nói với đô đốc. Chú cô và ông ấy có mối quan hệ tốt, biết đâu…
Thấy Aude bĩu môi, Just vội im bặt, sợ làm nàng bực. Nàng chua chát:
- Quan hệ tốt ư, nhưng em sợ không dài lâu đâu.
- Tại sao? Tại đô đốc không sắp xếp được chỗ ở tốt hơn cho mọi người? Ồ, tôi biết các vị không bằng lòng, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng để cải thiện tình hình.
- Không phải chỉ vì thế đâu – cô gái làm ra mặt nghiêm, và đôi mắt sâu thẳm của nàng càng thêm quyến rũ.
Just cuống lên. Nàng nghiêm giọng nói:
- Đô đốc của ông phải tu tỉnh lại.
- Tu tỉnh? Nghĩa là thế nào?
- Nghe chú em nói, trong buổi lễ, ông ấy đã giở trò lễ nghi quá đáng, cần phải từ bỏ.
- Lễ nghi quá đáng?
- Có phải ông ấy đã đệm gối nhung rồi mới quỳ xuống để nhận lễ ban thánh thể?
- Phải. Nhưng như vậy thì hại gì?
Aude nguýt Just một cái dài. Nhưng ngay sau đó, nàng nhún vai, làm như không quan tâm, và nói:
- Chú em sẽ có cách để chấm dứt những trò vè ấy.
Just định phản bác, song nàng đã mỉm cười, chuyển sang chuyện khác:
- Ông thật tốt bụng, em rất cảm kích. Có ông che chở, em cảm thấy an tâm, có thể đi ra ngoài một chút. Ông có biết bao giờ lại sẽ có lễ trọng nữa?
- Nghe đâu chú cô và đô đốc đang bàn tổ chức lễ cưới cho hai cặp cùng một lúc.
Aude reo lên:
- Chantal, bà nghe rõ chưa? Lại sắp có lễ trọng. Ông biết không, em rất thích được dự.
- Nếu muốn, tôi sẽ đưa cô đến dự.
- Ồ, cảm ơn! cảm ơn! – Vừa nói, nàng vừa nắm lấy hai bàn tay Just.
Sự bột phát tình cảm ấy chỉ kéo dài một tích tắc. Tuy nhiên, Just còn giữ mãi hơi ấm của đôi bàn tay mềm ấy. Cả ngày hôm đó, chàng ngơ ngẩn không thôi.
❀ ❀ ❀
[1] Nicot là người tìm ra chất làm thuốc lá, từ đó mà ra tên nicotin (L.N.D)