Tuy nhiên, cú sốc của những tư tưởng mới bắt đầu lan rộng trong các tâm thức. Thoạt đầu, người đến trước coi việc có thêm những người từ Genève đến chỉ là một sự viện trợ về vật chất và tăng thêm quân số. Đến khi sống chung mới thấy họ không chỉ khác mình ở sự bỡ ngỡ trước môi trường mới, mà họ có những ý nghĩ kỳ quặc và những đức tin khác lạ. Trong không khí phấn khởi lúc họ mới đến, những điểm ấy được chấp nhận dễ dàng cũng như những điểm khác, và những người cũ tiếp đón họ rất ân cần, không để ý phân biệt tôn giáo. Cho đến một ngày kia ai đó thốt lên một câu: “Đây là bọn huygơnô”, thế là mọi người bắt đầu nhìn họ bằng con mắt tò mò.
Một số trong đám người mà Villegagnon kéo từ trong tù ra, không lạ gì những tư tưởng ấy. Vì đi theo những lời thuyết giảng của Luther mà họ đã phải trả giá, bị mất tự do. Song phong trào cải cách đầu tiên ấy đã bị bóp chết từ trong trứng cách đây hai mươi năm. Họ bị đàn áp không thương tiếc, nên rất mừng là ngày nay người huygơnô đã ngự trị tại Genève, đã thiết lập các giáo hội cải cách ở hầu khắp nước Pháp, và đã tràn sang cả châu Mỹ, được các cận thần của vua Henri II ủng hộ. Số người ấy lập tức hòa nhập ngay với những đệ tử của tôn giáo mới.
Nhưng nhiều người khác không dễ dàng nghe theo. Phải có thời gian rao giảng, thuyết phục. Bởi vậy, các mục sư tổ chức nhiều cuộc họp trên đảo để tuyên truyền giáo lý mới. Các quyển Kinh Thánh được chuyền tay nhau. Khắp nơi, người ta bình luận về các bài kinh. Người người do chán ngấy rừng xanh, biển cả, rất hăm hở tham gia các buổi tranh luận về giáo lý để có cảm giác là mình trở lại với cuộc sống văn minh.
Nhưng sự nhiệt tình thái quá ấy đã gây phản ứng của một nhóm khác, gồm những người kiên quyết bác bỏ mọi ý tưởng định xét lại giáo lý chính thống của đạo Cơ đốc. Gonzagues là đại diện cho nhóm này, kịch liệt phản đối với Villegagnon. Ông vênh mặt, rung rung chòm râu, nói:
- Không bao giờ tôi từ bỏ Đức Mẹ Đồng Trinh.
Thật ra ông chẳng ưa gì giới tăng lữ, cho rằng nó cũng lắm thói tật. Nhưng khi tất cả những nàng Catherine và Marguerite chẳng đoái hoài đến ông, thì Đức Mẹ luôn nâng đỡ ông, và ông không muốn tỏ ra vô ơn.
Villegagnon cố tìm cách khuyên giải ông. Nói cho đúng, đô đốc cho rằng phái huygơnô chả phải nhọc lòng thuyết giảng để quy đạo cho đệ tử. Vì cần gì phải quy ai: các tín ngưỡng đều na ná như nhau cả. Phong trào Cải cách chả phải là một kiểu trở về nguồn đó sao? Đô đốc đã nói như vậy trong lần lễ thánh đầu tiên, và có vẻ như mọi người đều hài lòng.
Và đô đốc đang dốc sức để hoàn chỉnh lý thuyết toàn cầu ấy. Bực một cái là sách vở ở đây ít quá và trí nhớ của ông tồi quá. Song với những gì ông biết – mà ông thì đã đọc và thuộc lầu hàng ngàn trang sách – ông có đủ lập luận vững chắc để tranh biện với tất cả phái này phái nọ, nhưng với mục đích xích họ lại gần nhau.
Ông bắt tay vào việc này với tinh thần của một người sẵn sàng chiến đấu. Tính cách ông là vậy, đã làm thì phải làm. Ông thức khuya đọc đọc, chép chép dưới ngọn nến leo lét, và Just hết sức phục vụ ông trong việc này. Ông say sưa trở về với hoạt động trí óc, nghiên cứu, suy nghĩ. Do đó, có phần sao lãng những công trình trên đảo.
Rồi Colombe trở về, và dù rất kín đáo nhưng chính sự có mặt của nàng đã gây ra cơn khủng hoảng đầu tiên. Khi nàng vượt qua bao trở ngại do tay chân của Martin và các bộ lạc thổ dân mà hắn kiểm soát giăng ra dọc bờ biển, từ đất liền trở về, thì cuộc sống của nhóm huygơnô mới đến đã gần ổn định. Từ xa nhìn thấy số tàu bè mới tới với những con người khỏe mạnh và nhiều vật dụng viện trợ, nàng không khỏi mừng thầm. Dù không nhiệt tình ước mơ như anh trai về tương lai của nước Pháp Nam cực, nàng cũng mừng là giai đoạn thiếu thốn, lo âu đã chấm dứt. Song vừa đặt chân lên bãi cát, Quintin đã níu tay nàng, chặn đứng niềm hân hoan ấy. Ông già chợt tái mặt, kêu lên:
- Không! Không thể, là bọn chúng đấy ư? Nguy rồi!
Ông vội co cẳng chạy, đến nấp sau những bao tải cát. Colombe chạy theo, hỏi:
- Chuyện gì vậy?
- Bọn áo chùng đen… Quintin lập cập đáp.
- Thế thì sao?
Colombe tưởng ông già sắp mếu, vì hồi ở Paylo ông chưa được khóc lần nào. Nhưng nàng không ngờ lần này ông nức nở ầm ĩ đến thế, như kinh hoàng điều gì.
- Ta phải trở lại đất liền thôi – ông nói.
Và ông xăm xăm quay lại con thuyền. Colombe giữ ông lại:
- Ông nói rõ xem nào. Nếu có nguy hiểm, thì tất cả cùng chịu, đâu phải mình ông.
Quintin có vẻ hồi tâm lại. Ông thở một hơi dài, đưa bàn tay đầy cát quệt mặt, bắt đầu kể:
- Hồi đó là một năm trước khi chúng ta lên đường. Tôi đang ở Lyon.
- Cháu tưởng bác quê ở Rouen?
- Đúng, nhưng một năm trước đó, ta đến Lyon. Chúng ta là một nhóm nhỏ, đi cùng một người tuyệt vời. Ấy là một thầy thuốc người Tây Ban Nha, cháu không thể tưởng tượng ông ấy tốt thế nào. Giỏi tiếng La tinh, kiến thức rất rộng, viết những cuốn sách đầy ắp trí tuệ. Ông ấy tên là Michel.
- Michel gì?
- Michel Servet. – Quintin không cố ngăn nước mắt lại nữa – Sách của ông ấy bị người Pháp bài xích và lên án. Ở một nước không hiểu gì về chân lý, chuyện ấy không lạ.
- Còn bọn áo chùng đen thì có liên quan như thế nào? – Colombe sốt ruột hỏi, không muốn kéo dài tình huống khó chịu này nữa.
- Cái ông Servet tội nghiệp tưởng sẽ tìm được sự ủng hội tại Genève. Ta đã đi cùng ông ta tới cửa ô thành phố. Ở đó ta đã nhìn thấy chúng, bọn mục sư ấy, bọn áo đen ấy.
- Nhưng ông Quintin ơi, ông cũng mặc áo đen đó thôi.
- Không, ta khác. Bọn này đúng là bọn ta đã thấy ở Genève. Một cậu chèo thuyền kia đã khẳng định với ta điều ấy.
Ông ngoái cổ nhìn về phía bên kia bao cát: Richer đứng đó, lấy một cái thùng làm bục, đang rao giảng điều gì không nghe rõ.
- Cháu Colombe ạ, chúng đã hỏa thiêu ông ấy.
- Hỏa thiêu ai cơ?
- Hỏa thiêu Servet. Do bất đồng, Calvin đối xử với ông ấy còn tệ hơn người Pháp. Hắn đã đưa Servet lên dàn hỏa, cháu hiểu chưa?
- Cháu tưởng phái huygơnô chủ trương tự do.
- Chỉ tự do cho chúng thôi! Ngay năm sau, lão Théodoze de Bèse đã viết tập sách nhan đề: Quyền trừng trị những kẻ tà đạo. Thôi ta phải xéo khỏi đây thôi. Không thể sống chung một phút nào với bọn người ấy.
Colombe để cả tiếng đồng hồ để khuyên giải ông. Nàng hứa sẽ nói với đô đốc giao cho ông một nhiệm vụ mới ở đất liền. Cuối cùng Quintin chấp nhận tạm lánh đi để khỏi phải về đất liền một mình.
Đi tìm Just trên đảo, Colombe ngạc nhiên vì những điều mắt thấy. Việc xây pháo đài có tiến triển, nhưng dường như lúc này đang ngừng trệ. Chỗ nào cũng tụm năm tụm ba sôi nổi tranh luận các vấn đề thật lạc lõng trên mảnh đất này, như: sự bất tử của linh hồn, sự giải thoát bởi đức tin hay định mệnh, không biết ở đâu nảy nòi ra lắm kẻ thuyết giáo đến thế. Một số kẻ đơn độc lang thang dọc bờ biển, tay cầm kinh thánh. Dường như toàn dân trên đảo bỗng đắm chìm vào trầm tư mặc tưởng.
Nhưng sự suy tưởng này không mang tính hòa bình, thân thiện. Nhóm này gườm gườm nhìn nhóm kia. Nơi ở của các mục sư và tín đồ phái huygơnô nằm tách biệt hẳn và có vẻ như được canh gác nghiêm ngặt. Cơn bột phát đạo lý này không dẫn đến hòa hợp, lạc quan, mà ngược lại làm tăng sự đối địch, cô lập, lo âu. Và khi Colombe gặp Just ở dinh thống đốc, nàng bực mình thấy Villegagnon và chàng cũng bị cuốn theo cơn sốt lý luận ấy.
Đô đốc tỏ vẻ mừng thấy Colombe trở về, và yêu cầu nàng báo cáo về thời gian ở với Paylo. Song ông chỉ nghe một cách hờ hững, nhưng khi nàng nêu lên những nhận xét của mình về không khí trên đảo thì ông như bừng tỉnh.
- Mẹ kiếp! – ông thối lên. Colin, cháu nói đúng. Đúng là hỗn loạn.
Ông vớ lấy một mớ giấy đầy chữ ghi chép, thu vào hai bàn tay, và nói:
- Vấn đề đã rõ. Ngay ngày mai, ta sẽ họp các mục sư bàn chuyện này. Cần chấm dứt mọi tranh luận cãi cọ, để mọi người thanh thản làm việc trở lại.
Colombe ở lại cùng ăn trưa với Just. Nàng thấy anh khác lạ, thay đổi so với trước. Vẻ bề ngoài vẫn thế, song có hơi trau chuốt hơn về hình thức. Trước đây Villegagnon vẫn cho anh mượn dao cạo râu, song anh không dùng. Nay thì anh mày râu nhẵn nhụi, lại đeo thêm một cái vòng ở cổ. Nhất là anh không chú ý tới Colombe như trước.
Đành rằng Just vốn tính trầm tĩnh, ít nói. Nhưng sau thời gian xa nhau, nàng cảm thấy anh trai đã thay đổi. Cũng là dè dặt, kín đáo, nhưng nàng linh cảm rằng anh đang bận tâm một điều gì khác mà nàng không rõ.
Cuộc họp giữa Villegagnon với DuPont và các mục sư được tổ chức ngay sau đó, vả lại phái tin lành cũng đang có nhiều thắc mắc cần được giải đáp. Họ kéo đến dinh thống đốc vào giữa buổi sáng. Đô đốc quyết định tiếp họ một mình, sợ nếu có mặt Gonzagues sẽ khó tránh gay cấn xẩy ra do tranh luận về giáo lý. Tuy nhiên, để có người thứ ba làm nhân chứng, ông yêu cầu Just cùng tham dự.
Khách vừa bước vào, không khí đã có vẻ căng thẳng. Từ buổi lễ thánh đầu tiên, họ chưa trở lại dinh thống đốc lần nào. DuPont soi mói nhìn nội thất và cách trang trí trong dinh, tỏ vẻ bất bình ra mặt khi so sánh với nơi tạm trú của mình không được quan tâm như thế.
Villegagnon ngồi xuống trước và sau khi đã quyết định không để tâm đến tình trạng bệnh tật của DuPont nữa, ông mời các vị khách cùng ngồi. Các vị mục sư đã quen không noi theo việc tu luyện khổ hạnh của ông ta, tức là không dám ngồi, đều nhất loạt an tọa. Như vậy là chỉ còn một mình ông đứng sừng sững.
Trước tiên, đô đốc hỏi thăm sức khỏe, nơi ăn chốn ở của mọi người. Lời hỏi bị coi như khiêu khích, nên khách chỉ hầm hừ. Đô đốc cất giọng nghiêm trang:
- Thưa những người anh em, tôi muốn thổ lộ với các vị mối lo lắng của tôi. Nói gọn lại, công việc không tiến triển chút nào. Theo tôi, phải thiết lập lại trật tự. Bàn bạc, tranh cãi quá nhiều. Nhiệt tình với giáo lý là tốt thôi, song cần tính đến điều kiện thực tế, nếu chúng ta muốn sống còn. Vì nếu không xong pháo đài, nước Pháp Nam cực sẽ vô phương chống đỡ với vô vàn kẻ thù.
Richer lơ đãng nhìn quanh phòng, ra vẻ hờ hững. Nhưng khi mắt ông chạm vào bức tranh Đức Mẹ của Titien, lập tức ông quay lại nhìn chằm chằm vào Villegagnon, ánh mắt bối rối, như bị một con cá đuối điện quật phải.
- Trên đảo này có nhiều đức tin khác nhau, song tôi thấy điểm tương đồng nhiều hơn điều khác biệt. Điều cốt yếu là con người vốn là tác phẩm của Tạo hóa, luôn luôn có thiện chí. Tôi tin vào Con Người, chắc các vị cũng vậy. Vậy thì, với con người thiện chí ấy, hãy cho họ những lý do để tin tưởng. Hãy gạn lọc trong các đức tin khác nhau của chúng ta một cái nền chung để mỗi người có thể tôn trọng đức tin của người khác mà không từ bỏ chính mình.
Sự im lặng căng thẳng của các vị khách khiến Villegagnon phải ngừng lời để chờ xem họ nói gì.
DuPont bắt đầu với giọng khinh khi:
- Chúng tôi đồng ý sự cần thiết lập lại trật tự. Ngay khi mới tới, chúng tôi đã có cảm giác ấy. Song ông phải công nhận là chúng tôi khó làm nổi. Ngay từ đầu, các ông đã bắt người của chúng tôi lao động khổ sai như những con vật, như muốn đánh phủ đầu chúng tôi. Và các ông dành riêng cho mình quyền sử dụng cái dinh này, trong khi đáng lẽ nó phải được dùng chung. Vậy ông còn muốn gì ở chúng tôi?
Dù tức lên đến tận cổ, Villegagnon vẫn cố giữ bình tĩnh.
- Trước hết, tôi thấy là nên giảm bớt các cuộc rao giảng đạo lý, mỗi ngày chỉ nên chiếm nửa giờ là đủ để nhắc nhở mọi người về bổn phận với Chúa. Tôi cũng thấy là nội dung rao giảng nên ôn hòa, có chừng mực. Để khỏi làm chối tai một số người vẫn bám vào truyền thống cũ, tôi nghĩ phải loại bỏ mọi lời xúc phạm tới Giáo hoàng – mặc dù các ông biết là tôi cũng chẳng ngưỡng mộ gì ông ta – và tới Giáo hội nói chung.
DuPont định nói. Đô đốc ra hiệu muốn kết thúc:
- Cuối cùng, tôi thành thật nghĩ rằng ra sức thuyết phục ai đó bỏ đạo hay quy đạo là vô ích. Tất cả đều tin Chúa, vậy nên đoàn kết họ với nhau hơn là chia rẽ.
Richer nghiêm trang cắt lời:
- Chúng tôi đoàn kết những ai biết và thực hiện đúng lời dạy của sách Phúc Âm. Tôi đồng ý với ông là phải xóa bỏ tâm lý hoài nghi, tranh cãi nó cản trở việc tiếp nhận Lời thiêng của Chúa.
Villegagnon nhiệt tình hưởng ứng:
- Chắc chắn là chúng ta có thể thống nhất về điểm đó.
Richer không chia sẻ nhiệt tình ấy, nói tiếp:
- Tuy nhiên, nếu giới thiệu Kinh Thánh với mọi người và để mặc họ tự nhiên, sẽ có nguy cơ là họ không hiểu gì hết. Thực tế đã thấy ngay có những kẻ điên rồ lạc lối dám giải thích Lời Chúa theo ý riêng, dẫn đến những kết luận vô lỗi, trái với chân lý. Một số kẻ trâng tráo đến mức khẳng định con người làm gì cũng không thể tự cứu, nên không cần khép mình vào khuôn phép. Cứ việc giết chóc, cướp bóc, hưởng thụ, khi nào ý Chúa muốn thì Chúa tự khắc ra ơn.
Villegagnon gật đầu:
- Tôi biết bọn cuồng tín ấy. Vả lại, ngay ở đây đã có một nhóm anabaptit như thế.
- Chúng ở đâu? DuPont vội hỏi, cứ như sắp tuốt kiếm đến nơi.
- Nghe đâu chúng đã bỏ trốn vào trong rừng, sống như mọi ăn thịt người cả rồi.
Ai nấy kinh hãi lặng im.
- Cho nên tự do không có nghĩa gì nếu không có giảng giải cận kẽ – Richer rất mừng câu chuyện bọn anabaptit tự nhiên giúp ông rút ra kết luận mong muốn – Chúng ta không thể đưa sách Phúc Âm cho họ mà không yêu cầu họ phải phát thệ gia nhập một Giáo hội chân chính để chịu sự quản lý và rèn luyện đức tin.
- Tôi công nhận cần có một Giáo hội – Villegagnon nói. Song các ông hẳn cũng nhất trí rằng nói chung chỉ cần có một Giáo hội, huống chi lại là trên hòn đảo nhỏ bé này, có hai Giáo hội là quá thừa.
Richer khẽ gật đầu. Đô đốc tiếp, vẻ phấn chấn:
- Chúng ta có thể xét từng điểm rồi dễ dàng đi tới một thỏa hiệp. Chẳng hạn, về điểm các linh mục phải sống độc thân, thật vô lý. Trong các sách kinh đâu có cấm thầy tu lấy vợ. Điểm này, ta có thể bàn bạc đi đến thống nhất…
- Ôi thôi ngay những lời báng bổ! – DuPont cắt ngang.
Nghe giọng ông ta, cái cách ông ta đi đi lại lại trong phòng họp, có thể hiểu DuPont rất ý thức về quyền uy của mình, vì ông đứng về phái huygơnô, ông phát biểu nhân danh một lực lượng đông đảo không thể đánh bại.
- Phải – ông nói tiếp – thôi đừng nói chuyện lý lẽ, tranh luận, thỏa hiệp nữa. Đức Chúa không thể đem ra mặc cả. Không có thỏa hiệp với thói sùng tín. Nửa số dân trên đảo này đã chọn đức tin chân chính. Họ hoàn toàn tự nguyện, có nghĩa là sau khi đã tâm phục các nguyên tắc của Giáo hội chúng tôi và nguyện tuân hành. Họ đang hoàn toàn thanh thản, đừng có đặt lại vấn đề cho rối thêm.
- Xin lỗi – đô đốc đáp lại. Tôi tự nghĩ mình không chút gì dính dáng đến thói sùng tín. Ngược lại, ở các ông có một số nghi thức mà tôi không tán thành.
- Nghi thức gì? – Richer hỏi ngay, vẻ mặt lạnh như băng.
Villegagnon mừng rỡ, tất nhiên là không thể hiện ra ngoài, vì đã có thể nêu ý kiến tranh luận của mình:
- Thế này nhé, chúng ta hãy xem xét lễ ban thánh thể theo hai cách. Theo bản văn của các Giáo hoàng thuộc Nhà thờ thì nó hoàn toàn chính đáng.
Thế nhưng thánh Clément, học trò của các vị tông đồ, thì lại tuyên bố rất chính xác là rượu phải pha nước. Thế mà nước thánh của các ông lại là nước lã. Đấy là một thực tế mà các ông phải chấp nhận sửa sai, nếu không chứng minh được căn cứ thần học của nó.
Ông trình bày xong lập luận của mình thì mỉm cười hóm hỉnh, vẻ tự đắc. Nhưng các tín đồ Tin lành vẫn lạnh tanh và còn tái mét mặt vì tức giận. DuPont bỗng nổi nóng:
- Mà ông là ai, dám chỉ trích những quy tắc của Giáo hội chúng tôi?
Đô đốc cũng không vừa:
- Còn các ông là ai mà dám áp đặt tôi? Tại sao tôi phải tin cái này, không tin cái kia, tôi không được dùng lý trí để lựa chọn? Vậy thì đọc sách của bao danh tác để làm gì?
- Chẳng để làm gì hết – Richer cãi bừa.
Villegagnon tím mặt.
Viên mục sư thủng thẳng tiếp:
- Các danh tác mà ông nói, không hiểu gì về Chúa. Tư tưởng họ tối tăm như hũ nút, chẳng ích lợi gì. Đã tin là tin, thế thôi.
- Các thầy tu và Giáo hoàng cũng nói như thế đấy – đô đốc chua chát đáp.
- Phải – Richer xác nhận một cách khinh thường. Nhưng có khác là họ sai, ta đúng.
Villegagnon buồn rầu nhìn mớ giấy ghi chép đã chuẩn bị. Ông đã lường trước mọi lập luận, tìm đủ lý lẽ để bác bỏ mọi chất vấn, mọi ý kiến trái ngược, xây dựng một phương án để mọi người có thể chấp nhận. Nay thì chẳng còn tác dụng gì. Phong trào Cải cách tôn giáo mà ông chờ đợi, xem như một lối thoát, đã chụp lên đầu ông một tấm lưới trong đó ông hoài công giẫy giụa. Đến lượt ông đứng lên, đi đi lại lại trong phòng. Tới trước chiếc bàn bằng gỗ mun, ông quên là mình đang có khách, lặp lại cử chỉ quen thuộc: đứng ép bụng vào bàn, giang tay ôm lấy nó. Những lúc gặp chuyện bối rối, ông vẫn thường làm thế như để tiếp thêm nghị lực. Mọi người đưa mắt lạ lẫm nhìn nhau. Ông cảm thấy cạnh bàn bằng ngà voi và gỗ áp vào bụng, truyền sang mình những tình cảm cao quý.
Ngày mai đã tổ chức các lễ cưới, không có lũ linh mục này thì không xong. Villegagnon cảm thấy phải nuốt hận, hy sinh các tình cảm riêng, đặt quyền lợi của đảo lên trên. Ông quay về các vị khách, cố nín nhịn và nở một nụ cười:
- Thôi được, hãy gác sang một bên mọi bất đồng. Ta cùng nhau hợp sức để đưa hòn đảo này trở lại hoạt động.
- Hãy tin là chúng tôi cũng chống cảnh nhàn cư vi bất thiện như chống tệ sùng tín – DuPont nói.
Tiếp theo hai bên bàn bạc khá lâu về các điều kiện: họ được miễn khỏi phải lao động, các mục sư được dùng dinh thống đốc làm nơi hội họp, và một hội đồng được thành lập bên cạnh đô đốc, trong đó có DuPont.
Những điều trên có làm giảm bớt quyền uy của Villegagnon, song đô đốc thấy có thế thì đám Tin lành mới tuân lệnh ông. Cuối cùng, ông chấp nhận hết, còn phía bên kia đồng ý giảm bớt các cuộc thuyết giảng giáo lý.