Từ ngày cánh Tin lành dời sang đất liền, ba tháng đã trôi qua. Họ dần tổ chức lại đời sống, ngày ngày cầu kinh và cắt gác cả hai phía rừng và biển, phòng ngừa bị Villegagnon tập kích. Song điều đó không xẩy ra. Kẻ thù chính của họ lúc này là sự rảnh rỗi buồn chán, cộng với khí nóng khắc nghiệt làm không ai muốn động chân động tay. Nhiều người lên cơn sốt. Trông họ nói lảm nhảm trong cơn mê sảng, những người khác thầm ghen tị vì mất trí lúc này là không còn biết gì đến cuộc sống buồn chán hiện tại nữa.
Duy một số phụ nữ có việc để tất bật và phấn khởi: ba cô mới cưới đã mang bầu, và các bà vú lăng xăng chuẩn bị tã lót. Aude khinh khỉnh trước những hoạt động ấy. Từ sau lần đâm Just, nàng rút vào vỏ ốc, ít thèm nói chuyện với ai, và đã từ chối mấy đám đề nghị kết hôn. Ðoàn người như rắn mất đầu. Du Pont, quá mệt mỏi, dường như mất hết sức lực để chỉ huy; mục sư Richer bị nhọt bọc oái oăm ở bả vai, luôn khật khừ. Dần dần Aude trở thành người có uy trong đám vì được tiếng là con gái giữ trinh tiết, nhất là đã dám tấn công Just. Martin cũng phải nể, và có lẽ ham muốn nàng nữa, cho nên giờ đây nàng giao thiệp với hắn như người bằng vai, có ảnh hưởng với hắn hơn ai hết. Ngược lại, nàng đã tỏ rõ cho hắn biết mình không sợ và dứt khoát không bao giờ thích hắn. Nhưng oái oăm thay, chính vì thế mà cô khống chế được Martin, trong khi không có ai khác trong đám Tin lành có thể làm được. Mà mọi việc ở đây đều tùy thuộc vào Martin. Theo lệnh của Richer, một số đệ tử Tin lành tìm cách gần gũi thổ dân để tranh thủ họ đứng về phía mình, đều không thành. Một trong số đó, tên Jean de Léry, chịu khó đi khắp các làng tìm hiểu tập tục người Tupi, hy vọng lách được chút nào vào tâm hồn họ để truyền bá đức tin. Gặp một thổ dân tên Pindahousou tự nhận là trước đây đã được Thevet quy đạo, Jean de Léry đã le lói chút hy vọng. Pindahousou khoác chiếc áo na ná trang phục của tu sĩ dòng Thánh François, đọc kinh lầu lầu, trước khi bắt đầu việc gì cũng đưa tay làm dấu thánh. Tuy nhiên, đến khi Léry bập bẹ học nói được chút ngôn ngữ Tupi thì mới hiểu ra rằng Pindahousou chỉ là một thằng đần, làm các trò đó mà chẳng hiểu ý nghĩa gì và cũng không biết gì về Ðức Chúa. Có lần con gái hắn được Thevet chữa khỏi bệnh, hắn ngưỡng mộ và bắt chước mọi cử chỉ của ông ta mà không hiểu ý nghĩa. Ðã vậy, hắn tư nhận theo đạo nhưng vẫn giữ tục lệ ăn thịt người.
Và thế là trong cánh Tin lành, người ta cho rằng người Anhđiêng không thể được Chúa cứu vớt, mọi ý đồ để truyền đạo cho họ là vô ích. Chỉ có bọn Công giáo mới có thể nhầm lẫn giữa việc bắt chước với việc quy theo đạo thực sự và giữa những trò uốn éo với những biểu hiện được Chúa ban ơn.
Khi đã hoàn toàn mất hết hy vọng cải đạo và cứu vớt, đám Tin lành đành bằng lòng với việc quan sát phong tục của lũ người rừng như người ta làm với các loài thú và thực vật. Và thái độ tôn trong mà họ cố tỏ ra chỉ là mặt trái của một sự thờ ơ tuyệt đối, không công nhận thổ dân Anhđiêng là người thực sự. Ai lại đi mất công giảng giải cho lũ linh dương và trâu bò hiểu thế nào là Ðức Chúa Jesus, dù đôi khi cũng thấy quần thể của họ khá hấp dẫn.
Tuần này tiếp nối tuần khác, cánh huygơnô thấy rõ không còn cách nào thoát khỏi bế tắc, ngoại trừ chờ ngoại viện từ Genève. Martin chỉ cung cấp nhỏ giọt nước và lương thực cho đủ cầm hơi, ấy là Aude còn phải thương lượng từng tí một với Martin. Thiếu thốn trăm bề, lại ăn không ngồi rồi, tinh thần ai nấy xuống thấp nhất. Hơi có chuyện gì xẩy ra là mọi người nháo nhác, tuyệt vọng. Nực cười thay, mối nguy với họ không phải là từ Villegagnon hay Martin, mà là từ chính mình, thế còn đáng sợ hơn.
Một buổi tôi, hai người đi vào rừng hái lá thuốc không thấy trở về, có thể là bị lạc. Ngày thứ hai, họ vẫn chưa về. Aude liền yêu cầu Martin cho người đi tìm. Hắn ngần ngừ, Aude phải quắc đôi mắt sắc như dao lên, và gần như ra lệnh. Cuối cũng tìm thấy hai cái xác treo trên cành cây, thân thể bị đâm chém những nhát khủng khiếp, đặc biệt là hai nhát ngang dọc thành hình chữ thập giữa bụng. Thổ đân Anhđiêng không bao giờ hành động kiểu ấy và ở quanh vùng này, họ sợ Martin như cọp nên chắc chắn không dám làm những việc tầy đình như thế.
Sự việc còn nằm trong vòng bí ẩn thì lại xẩy một vụ kinh hoàng hơn, ngay gần làng. Lần này là một trong những cô dâu mới đi ra ngoài có việc. Cô đã bị bắt và đóng đinh câu rút lên thân một cây sung, và từ vết rách bằng dao ở bụng dưới xổ ra một thai nhi đã bị ăn thịt một phần.
Lần này Martin phải nói ra những gì hắn biết, khi bị Aude hỏi:
- Đó là bọn anabáptít.
Như mọi người, Aude có nghe nói tới giáo phái ấy. Nhưng Richer không bao giờ giải thích về bọn chúng, chắc là để tránh làm mọi người sợ hãi.
- Bọn chúng ở quanh quẩn đây sao? – Aude ngạc nhiên vì trước đây nàng không bao giờ tin bọn cuồng tưởng ấy lại có thật.
- Không biết được. Nghe nói chúng liên tục thay đổi nơi ở.
- Tôi tưởng ông làm chủ ở đây, lãnh địa này là của ông mà – Aude mỉa mai.
- Thổ dân cũng sợ chúng, tôi làm sao được – Martin chống chế. Họ tin chúng là thần linh hiện hình, thấy chúng là bỏ chạy.
- Còn những “cộng sự” của ông?
Martin lắc đầu, thú nhận:
- Nói thật, không ai đủ vũ khí để chống những con quỷ dữ như thế. Với lại… chúng cứ trần truồng mà đi lại khắp nơi. Chúng còn chơi trò gài bẫy, phục kích. Hơn nữa...
Aude lắng tai chờ hắn nói tiếp, vẻ mặt đáo để. Nàng rất tinh ý, thấy Martin ngừng lại là cảm thấy ngay hắn có điều gì khó nói.
- … hơn nữa, chúng không đụng đến chúng tôi.
- Ông nói thế, nghĩa là họ đồng minh với ông?
- Không bao giờ! – Martin vội nói ngay. Nhưng chúng chỉ nguy hiểm khi người ta tấn công chúng. Mà chúng tôi không dại gì tấn công.
- Thế chúng tôi – Aude vặc lại – chúng tôi có tấn công chúng đâu.
- Ai biết đâu.
Aude còn quá trẻ, không biết lịch sử bi thảm của phái Tin lành. Nàng không sống cái giai đoạn kinh hoàng khi ý tưởng mới do Luther tung ra bắt vào những trí óc sôi sục bất mãn vì bị tước đoạt, tạo ra hàng loạt giáo phái sử dụng quyền tự do một cách cuồng loạn để trả thù. Tối hôm ấy, Aude hỏi, Richer mới kể về số phận bi thảm của phải anabáptit, dẫn đến xu hướng phá phách đến kỳ cùng của họ. Và lần đầu tiên, ông nói đến những cực hình kinh khủng mà những con người khốn khổ đó phải hứng chịu trên khắp châu Âu.
Dù câu chuyện thương cảm đến mấy, Aude cũng không thể thương hại những kẻ đang đe dọa mình. Nàng đôn đốc ai nấy tổ chức lại, cử người canh gác khắp chung quanh, ra lệnh không ai được đi xa mà không có lý do. Khốn thay, những biện pháp đó có hiệu quả thật, vì không ai bị hại nữa, song lại làm tinh thần mọi người suy sụp đến thảm hại. Sau một hồi bố trí rục rịch có về náo nhiệt, không khí lại chùng xuống. Không được ló mặt ra ngoài, ai nấy chỉ ru rú trong mấy gian nhà chật hẹp. Hơi một tí là sinh chuyện lục đục. Đánh nhau đã xẩy ra giữa một ông chồng với một anh lính đã dám nhìn lâu vào vợ anh ta.
Cuối cùng, Aude tìm gặp chú. Cái nhọt bọc trên bả vai vị mục sư đang sưng tấy, ông ta nhăn nhó vì đau đớn.
- Chú hãy nói cho cháu biết sự thật. Liệu Genève có cho người đến cứu ta không?
Richer suy nghĩ hồi lâu:
- Calvin không bỏ chúng ta đâu, chú chắc vậy. Nhưng...
Aude cảm thấy ông còn e ngại, chưa muốn nói.
- Chú cứ nói thẳng xem nào.
Viên mục sư hiểu cô cháu gái rõ hơn từ khi nàng dám tấn công Just và nhất là từ khi nàng tỏ ra có uy tín lớn trong đám người lưu vong. Nói xấu người thầy tinh thần là điểu không bao giờ ông muốn làm, song lần này ông buộc phải nói thật với Aude:
- Calvin là người không dễ chơi. Là ý ta nói ông ấy rất kỹ tính. Không ưa những ai làm hỏng việc. Nếu việc chúng ta không được trình bày rõ, có thể ông ấy không bằng lòng vì chúng ta đã không dắt mũi nổi Villegagnon. Tóm lại, ta e rằng ông ấy sẽ chỉ phúc đáp bằng một là thư vừa trách móc vừa khuyên nhủ.
- Ông ấy sẽ bỏ rơi ta?
- Không phải – Richer hối là đã làm hoen ố hình ảnh của nhà cải cách vĩ đại. Vả Calvin thì dính gì đến chuyện này. Tất cả đơn giản chỉ là chính trị. Có hai khả năng: một là lúc này Genève vẫn còn quan hệ thân thiện với Pháp, thì họ sẽ khuyên ta nên tìm cách thỏa hiệp với Villegagnon. Hai là giữa hai cường quốc lại bùng lên các cuộc chiến tranh tôn giáo.
- Trường hợn ấy thì sao?
- Trường hợp ấy, họ không thể gửi viện binh tới cho ta. Vì hoàng đế nước Pháp sẽ không để họ được dùng hải cảng mình.
- Nếu vậy đằng nào chúng ta cũng chết.
Richer suy nghĩ một lát, rồi như trút được nỗi lòng canh cánh bấy lâu:
- Sai lầm của ta là đã không thân chinh đi về. Chartier tốt thật, nhưng ông ta không thạo ngoại giao. Ta hiểu Calvin hơn, sẽ biết thuyết phục ông ta, nêu rõ tầm quan trọng của cái thuộc địa này và những sai lầm của Villegagnon. Cả trong trường hợp nước Pháp gây cản trở, ta sẽ tìm được hỗ trợ ở Hà Lan hoặc ở Anh.
- Có thể bây giờ chưa muộn. Chú hãy về đi! Chúng cháu sẽ đợi.
- Nhưng bây giờ ta ăn nói sao đây? Lúc Chartier ra đi, chúng ta còn ở đảo, mọi việc còn khả năng. Nay chả nhẽ ta báo cáo với Calvin rằng các đệ tử của ông đang ở trong ba căn lều rách nát, và chúng ta vượt Đại tây dương chỉ để cho một nhóm anabáptit lùng bắt và tiêu diệt hay sao?
- Nếu vậy, tất cả chúng ta cùng về – Aude nói.
Mục sư phản đối một cách yếu ớt. Ông nhận thấy cô cháu gái có sự bình tĩnh quyết đoán và lòng can đảm, khiến ông tự hào, ngay cả khi hoàn cảnh bắt buộc những đức tính ấy phải phục vụ cho một mục đích mà chính ông cũng không muốn theo một chút nào. Sự bạc nhược, thái độ bỏ bê tất cả của ông không làm Aude vui nhưng ít nhất, bây giờ mọi việc cũng đã rõ ràng: Aude thấy rõ mình phải làm gì.
Hôm sau, nàng lên gặp Martin. Nghe nàng nói ý định của cánh Tin lành, tên này thở phào nhẹ nhõm. Hắn đã chán phải cưu mang mãi nhóm người vô dụng này mà chẳng thu được lợi ích gì. Chúng đã kiệt, không còn gì để trả giá những thứ hắn cung cấp. Ðã thế, chúng có nguy cơ làm hỏng sự liên kết tạm thời của hắn với Villegagnon. Mỗi lần qua đây,Vittorio đều nhắc lại lời nhắn của Villegagnon ông sẽ không gây chuyện với đất liền, song mong muốn bọn Tin lành phải mau bị tống khứ khỏi Guanabara. Bây giờ chúng tự xin đi, làm vừa tất cả mọi người.
Martin thương lượng để họ được lên một tàu chở hàng của người Bretagne có mặt gần đó. Tàu đã cũ nát, cần về gấp cảng Brest nước Pháp để sửa chữa. Lúc đầu viên thuyền trưởng định chở gỗ về, song như vậy e quá trọng tải có thể chịu đựng, nên nhận chở người với điều kiện khi đến nơi phải trả tiền. Chở người có cái tiện là nếu gặp chuyện bất ưng, có thể quẳng vài người xuống biển cho tàu nhẹ bớt.
Non một tuần sau, đám Tin lành được đưa xuống thuyền để chở lên tàu. Sau một thời gian bệnh tật, một số người bị quật ngã, cộng thêm với số bị bọn anabáptít sát hại, nay còn tổng cộng hai mươi hai nhân mạng. Nhìn chiếc tàu cũ kỹ, hư nát, ai nấy đã rầu rĩ càng thêm rầu rĩ, thêm vào đó, họ còn khó chịu khi nhận thấy tên con tàu là Sainte-Marie. Viên thuyền trưởng thẳng thừng dồn họ xuống khoang hầm loang lổ dầu mỡ, ngổn ngang quả thối và cứt khỉ. Bản thân ông ta cũng giống con tàu: thô lỗ và nhem nhếch, luôn ở trần, phô bộ ngực xệ những mỡ, lông mọc cả ở vai và lưng. Aude thử thi thố uy lực của đôi mắt sáng quắc, định hạch sách về chuyện hầm tàu bẩn thỉu, song mới nói đến câu thứ ba đã bị hắn tặng cho hai cái tát để nhắc nhở ai nấy hiểu rõ thân phận của mình. Thuyền trưởng đã thế, thủy thủ ắt không hơn.
Tàu bắt đầu đi, hóa ra điều đáng lo sợ nhất chưa hẳn là lão thuyền trưởng hung hãn. Nói rằng tất cả các cánh buồm đều tã rách còn là nhẹ: vá chằng vá đụp, không tìm thấy miếng nào là miếng còn lại từ buổi đầu tiên. Cột buồm cong vẹo, các mảnh của vỏ tàu lung lay, cót két liên hồi theo nhịp sóng, như có thể vỡ bung bất cứ lúc nào.
Từ trong vịnh đi ra, tàu thận trọng lái ra thật xa đồn Coligny, phòng nhỡ Villegagnon nổi nóng phóng ra một loạt đạn lớn. Dù chuyến vượt biển rất bấp bênh, đám Tin lành rất mừng thấy xa dần cái bờ biển chết tiệt. Ngọn núi hình bánh ngọt sừng sững nhìn họ đi qua, với về thản nhiên ngu ngốc của thiên nhiên trước mọi đau khổ của con người, khiến niềm khát khao chế ngự và chinh phục nó càng mãnh liệt. Trời rất đẹp, chỉ có hai nỗi khổ lúc nào thiên nhiên cũng có sẵn mà họ phải gồng mình chịu đựng: ánh mặt trời gay gắt, và tiếp theo là dông bão.
Ra đến cửa vịnh, sóng lừng bắt đầu mạnh. Đụng tới biển khơi, con tàu càng rền rĩ cót két. Và thế là sự cố xẩy ra sớm hơn dự kiến của thuyền trưởng: một mảng mũi tàu vỡ tung, nước ùa vào như thác. Tất cả mọi người lập tức được xua về đuôi tàu cho nhẹ đàng mũi, cho lỗ thủng được nâng cao hơn mặt nước để thủy thủ ra sức tạm bịt chỗ vỡ.
Sau một hồi bàn bạc nội bộ, thuyền trưởng quyết định phải giảm bớt trọng tải. Phải quẳng một số thùng nước, thùng bột xuống biển. Do số lương thực còn lại ít đi, nên vừa để giảm sức nặng cho tàu vừa giảm số miệng phải nuôi, lại yêu cầu tám trong số hành khách phải trở về đất liền. Tàu không có thuyền phụ, tám kẻ xấu số phải chen chúc nhau trên một cái mảng hẹp để bơi vào bờ. Tiếng phản đối, rên la nổi lên, và sau khi được hứa sẽ có thêm tiền khi đến bến, thuyền trưởng mới chịu hy sinh bốn chú khỉ thế chỗ hai người. Song vẫn cần bớt đi sáu. Cuối cùng năm người thợ và một anh lính cũng đành chịu mạo hiểm xuống mảng.
Tàu tiếp tục đi, tiếng kêu vĩnh biệt xé lòng tiễn đưa sáu con người đang phải dùng cả tay lẫn chân bám chắc vào mảng để không bị rơi xuống biển.
Tuy nhiên bờ biển chưa xa lắm, con mảng theo luồng nước lừ lừ trôi vào. Lại lướt qua ngọn núi hình bánh ngọt vẫn thản nhiên nhìn họ như trước. Đêm ập xuống, mấy người không điểu khiển nổi, để mặc cho mảng trôi theo dòng, cập đất chỗ nào lên chỗ ấy.
Càng vào sâu trong vịnh, dòng nước càng yếu nhưng chiếc mảng vẫn xoay tít như một cái nút chai. Trời tối đen, không thể nhận ra mình đang ở đâu. Cuối cùng, khoảng nửa đêm, tiếng chạm nhẹ chứng tỏ mảng đã cập bờ. Nó trôi thêm một lúc nữa rồi mới dừng lại hẳn trong một vịnh đã ngầm nhỏ. Một người liều nhẩy xuống mò mẫm trên những khối đá sắc nhọn nổi sát mặt nước. Một lúc sau, anh ta quay lại báo là đã vào đất liền thật rồi. Cả bọn liền lên bờ. Chỉ đến khi sáng rõ, nhìn thấy bức tường thành sừng sững trên đầu, mới biết lại là hòn đảo có Coligny.
- Nó đã khai ra chưa?
- Thưa đô đốc, rồi ạ – tên đao phủ, tay giơ một tờ giấy dính máu, hãnh diện đáp. Villegagnon đưa mắt nhìn kẻ khốn khổ bị treo sát tường, hai cổ tay bị vòng sắt kẹp chặt, ngực bị kìm nung đỏ róc ra từng mảng thịt, miệng vết thương vẫn còn bốc khói, khắp người ngang dọc vết roi quất. Quanh cổ còn in rõ vết đỏ do bị xiết chặt đến chết ngất.
Nước uống không có vị gì khi người ta không khát. Cũng vậy, nhìn con người đau đớn sẽ không thích thú nếu không có lòng hận thù. Nhấm nháp sự khoái trá trước cảnh tên huygơnô bị tra tấn thảm hại, Villegagnon thấy sự căm ghét con người trong ông đã tăng rõ rệt. Thôi rồi cái thời kỳ khoan dung ngu ngốc. Chịu khó xem kỹ, thế nào ta cũng thấy được cái xấu trong con người. Đô đốc tự trách mình đã không sớm hiểu ra điều đó, không chịu nhìn nhận con người một cách khôn ngoan hơn. Tên khốn này chẳng hạn, nếu là trước kia ông sẽ tin nó chỉ là kẻ đắm tàu tình cờ dạt vào đảo. Bây giờ thì không: phải truy đến kỳ cùng. Và ông đã tìm ra. Sự thật đã rành rành trên mảnh giấy tự khai này. Ông khoái trá đọc:
- “Tôi thú nhận định lẻn lên đồn Coligny để gieo mầm rối ren, phản loạn. Ðồng bọn của tôi đang trở về Genève để cầu viện, hòng trở lại chiếm đảo. Nhiệm vụ tôi là hạ sát đô đốc Villegagnon, lan truyền những lời giảng chống lại Roma và Giáo hội cơ đốc”.
Villegagnon bỏ tờ khai vào trong túi, nói với tên đao phủ:
- Rất tốt. Chúng đều khai giống nhau. Những tên mày tra tấn hôm qua đều nói cùng một ý.
Tên đao phủ cười nịnh, chùi đôi tay đầy máu lên vạt áo. Đô đốc kết luận:
- Vậy là sự thật đã rõ.
Trước khi ra, ông quay lại, dặn thêm:
- Đưa thằng này về giam chung với cả bọn. Giữ cho chúng sống tươm tất, để mai đưa ra xử.
Bãi trống trước dinh thống đốc được trang trí đặc biệt để vụ xử án tiến hành thật trang trọng. Đang mùa khô, bức tranh khổng lồ của Titien vẽ hình Đức Mẹ được dựng trước bến thuyền, đứng từ đất liền bên kia cũng trông thấy. Villegagnon hoan hỉ được mặc bộ quần áo mới đặt các thợ may may riêng cho dịp này. Ông ngồi trên bục cao, bên cạnh Gonzagues. Ông này lâu nay khật khừ, ốm yếu, chẳng được tích sự gì, nhưng bây giờ đóng vai quan tòa cũng tạm được. Ông đang đắm mình trong những điều mộng tưởng thơ mộng, trông có thể lầm là ông đang ngẫm nghĩ cách xử tội cho thật nghiêm khắc. Người thứ ba được chọn trong số thợ cao tuổi nhất, coi như đại diện cho dân chúng.
Lần lượt sáu tên huygơnô bị đưa ra nghị án. Chẳng ai lạ gì kết quả: tất cả đều bị xử tội chết, mà thật ra họ bị hành hạ mười phần đã chết đến tám. Vừa trừng trị vừa nhằm tạo thêm thú vui cho công chúng, tòa quyết định thi hành án bằng nhiều cách: sẽ có hai người bị treo cổ, hai chặt đầu và hai dìm cho chết đuối. Cách cuối cùng này làm cho công chúng thích thú nhất: nạn nhân bị xích vật nặng quanh cổ rồi quẳng xuống biển. Nước ở vịnh rất trong, mọi người như đứng trước tấm kính nhìn thấy chúng giẫy giụa, hấp hối. Có người còn háo hức đứng chờ ở mép nước xem đàn cá đến rỉa xác.
Chưa bao giờ Villegagnon được lòng dân chúng đến vậy.