Vittorio giật nẩy mình. Từ hơn một tháng nay ở đảo, hắn mỏi mòn chờ đợi giây phút này, cứ ngỡ nó không bao giờ tới.
- Phải cậu là người quê Venise? – Người mới đến hỏi bằng giọng địa phương vùng Padoue.
- Chính tôi – Vittorio đáp, lòng rưng rưng xúc động.
Hắn suýt để rơi cái cuốc. Phải nói là, Villegagnon chẳng đếm xỉa gì đến tình cảnh hắn, bắt hắn lao động cực nhọc trong đội đất đá. Đã đến lúc phải thoát ra thôi.
- Chúc mừng người đồng hương! – Người mới đến giơ cao một bình rượu bằng da thú.
Thật may mắn là người này không để bổ sung cho hàng ngũ thợ đấu mà lại được tự do đi và phong cách khá tự nhiên. Hắn tự hào khoe:
- Tôi là cộng sự của Quạ.
Quạ Mổ đã trở thành một nhân vật trên đảo. Hắn luôn cặp kè với Villegagnon như một đối tác ngang hàng. Hắn thường đi sang đảo bằng thuyền riêng, loại thuyền độc mộc đơn giản của người Anh điêng làm bằng thân cây khoét rỗng, do mười người đúng đẩy mái chèo. Lúc rời đảo, hắn chở theo đủ thứ đồ chuyển từ các tàu xuống, và không ai biết hắn giải quyết số hàng ấy như thế nào.
- Tôi là Egidio – người kia nói.
Giống như Quạ chủ hắn, Egidio ăn vận theo Âu phục nhưng giản dị hơn, làm toàn bằng vật liệu lấy từ thiên nhiên. Mũ áo chóp nhọn, cắt từ da thú vật, khiến hắn trông như một nông dân miền núi.
Vittorio phấp phỏng chờ. Hắn mời khách ra xa đám thợ đấu để tiện trao đổi mật khẩu. Hai người ngồi dưới gốc một cây cọ.
- Vất vả quá nhỉ! – Egidio nhìn đám thợ đang cuốc trên đất đầy sỏi rắn.
Tất cả các thợ thủ công, dù tay nghề khâu giầy hay nướng bánh có cao đến đầu, cũng đều bị giao cho công việc lao động chân tay đơn giản chỉ có nhấc cuốc lên và hạ nó xuống. Từ xa nhìn vào, người ta ta sẽ tưởng là một hàng nông dân bận bịu với vụ thu hoạch đá, trông rất phi lý.
- Cha Villegagnon thật điên, lão bắt anh em lao động cật lực – Vittorio tán đồng để ngụ ý hắn đã hiểu câu nói mỉa mai giả vờ khen ngợi của người đồng hương.
- Nhưng chắc lão trả công cao?
- Công xá gì! – Vittorio vẫn không bỏ thói quen vừa nói vừa khạc nhổ – Làm gì có chuyện đó! Lão coi chúng tôi như nô lệ. Ông trông mười tên Anh điêng mà Quạ gửi sang kìa, nghe đầu chúng là tù binh. Phân biệt rất rõ vì Villegagnon đã may quần đỏ cho chúng mặc, khỏi phô cái mông trần. Đó là tù binh mà bọn thổ dân bán cho bên này làm nô lệ. Đó, chúng tôi không khác bọn chúng là mấy.
Egidio vẫn gặng để khơi niềm tâm sự:
- Dù sao, các anh được bảo đảm đủ thứ. Được ăn, được uống, được có nhà ở.
- Ăn uống? Toàn bột hẩm và cá khô, mà gọi là ăn uống?
Người Ý nào cũng biết, nghệ thuật nấu nướng là thế nào, cho nên lời mô tả việc ăn uống vừa rồi là sự diễn tả địa ngục trần gian. Vittorio ngửa cổ tu một ngụm lớn để làm dịu bớt nỗi bất mãn. Đầu hắn đã bắt đầu chếnh choáng, một phần vì rượu, một phần vì hậm hực, và mặc dù chất men không nặng lắm nhưng hắn vẫn cảm thấy chân tay đã bắt đầu rậm rật.
- Rượu ngon quá. Ở đầu ra vậy?
- Gọi là rượu Cahouin, bọn Anh điêng nấu riêng cho ngày lễ. Nếu cậu muốn, bao nhiêu cũng có.
- Tiếc thay, – Vittorio bỗng trở nên ngờ vực vì người lạ mặt này không cần phải biết hắn có vàng. – Mình làm gì có tiền.
- Cậu là đồng hương, mình tặng không.
- Cậu tử tế quá. Nếu không bản thỉu thế này, mình ôm hôn cậu một cái.
Egidio mừng thầm là tấm màn ngăn cách được gạt bỏ. Họ im lặng cụng bình. Egidio hất hàm về đám thợ đấu:
- Nhưng còn bọn kia, theo cậu, chúng có tiền không?
- Có thừa! Trông thế thôi, đứa nào cũng giữ khư khư trong người một bọc tiền. Mấy tháng nay chúng chưa được một hợp rượu nào. Nếu có, bao nhiêu chúng cũng mua.
Giữa cái nắng ban trưa, đám thợ cứ cuốc độ chục nhát lại dừng tay để nghỉ và lau mồ hôi trán, như muốn làm dịu bớt tức giận và mệt mỏi. Egidio nói:
- Mình để lại cho cậu hai chai cahouin, đưa cho họ nếm. Nếu họ muốn nữa, cậu làm trung gian, tớ sẽ giao cho họ mỗi thùng giá bồn tiền. Mỗi thùng bán được, cậu hưởng hai hào.
- Ba – Vittorio tỏ ra thông thạo luật buôn bán.
- Xong ngay.
Hai đứa xiết chặt tay. Trong lúc này mà được an ủi một cách thích thú bằng rượu cahouin tức là đời vẫn còn đẹp. Trạng thái lâng lâng khiến cho hắn thấy cái bánh ngọt và tất cả các ngọn núi khác trong vịnh như lắc lư theo.
- Còn món đàn bà? – Vittorio nháy mắt ranh mãnh.
Egidio cũng tinh quái hỏi lại:
- Sau chuyến đi mệt nhọc, chúng vẫn muốn món ấy?
- Ban đêm đến đây, ông sẽ nghe họ toàn bàn chuyện đàn bà.
- Con gái Anh điêng có được không?
- Ối chao, nhìn thấy bọn ấy vú vê thỗn thện diễu qua diễu lại trên thuyền như khiêu khích, lắm đứa không chịu được, chỉ muốn nhảy ngay xuống nước dù không biết bơi.
Egidio lắc lắc đầu như để phê phán thói ngông cuồng của giới đàn ông, nhưng phê phán một cách thông cảm:
- Mình còn thấy, hình như, nếu tình hình không thay đổi thì ngay cả các con vẹt cái cũng trở thành đối tượng thèm muốn mất thôi.
Rồi hắn hạ giọng nói tiếp:
- Mình còn biết có những đứa định đút tiền cho mấy tay chèo để đêm đến lén chở chúng sang đất liền hú hí với lũ gái mọi.
- Chớ tưởng bở! Đừng có dại! Họ tưởng gái Anh điêng phô hết mọi thứ cần giấu như thế là có thể muốn làm gì thì làm ư, thế là không hiểu gì hết về cách xử sự của họ. Có đứa mang gái trinh về cho chồng mình ân ái, nhưng có đứa bị chồng bỏ theo gái khác đã kéo đến nhà trả thù. Rất khó lường trước. Mình nói cho mà biết: đừng có tơ lơ mơ với gái Anh điêng trước khi tìm hiểu kỹ càng.
Vittorio ra vẻ thất vọng, thì Egidio đã tiếp:
- Tuy nhiên, chúng tớ ở đây đã lâu, nên biết rất nhiều gái xinh đẹp có thể cung cấp làm nô lệ mà chúng lại không gây phiền phức cho ai cả. Bọn họ muốn bao nhiêu, chúng tôi cũng kiếm được đủ.
Vittorio mừng ra mặt. Sau khi Egidio hứa là hắn sẽ được đi chuyến đầu tiên ngủ với hai cô gái một lúc, hắn đồng ý với kế hoạch của Egidio, nhận lời làm môi giới trong việc mua bán dâm này.
Egidio chuyển sang thăm dò việc khác.
- Này Vittorio, cái lão Villegagnon chắc giàu lắm, mới dám đảm đương việc lớn thế này. Lão có nhiều vàng không?
- Có thể lắm. – Vittorio đáp, người vẫn còn nóng hừng bởi cơn hứng dục.
- Cậu không biết chắc ư? Chả lẽ lão lôi một lũ các cậu đi phiêu bạt mà chỉ mang theo mấy súc vải và vài thứ đồ linh tinh mà lão đã cho chúng tôi xem trong hầm tàu, dùng để đổi chác những thứ cần thiết với bọn thổ dân sao? Phải có thứ gì khác nữa chứ…
- Mình thấy lão chở lên đảo một hòm kín, rất nặng, và đặt dưới gầm giường.
- Dưới gầm giường, Egidio nhắc lại, vẻ suy nghĩ. Chỗ ấy không chắc chắn lắm đâu, với bao nhiêu con mắt tham lam trên đảo.
Vittorio giật mình. Tham lam có nghĩa là sẽ bị bỏ tù; tù có nghĩa là tội ác, và với Vittorio, nói tội ác là liên tưởng tới Ribère. Hắn hồi hộp chờ đợi mật khẩu được nói lên. Nhưng không có gì hết. Egidio ngạc nhiên:
- Mình vừa nói điều gì lạ, làm cậu há hộc mòm như vậy?
- Không… mình nghĩ… à đang nói chuyện gì nhỉ? À! Cái hòm dưới gầm giường, nơi ấy rất chắc chắn. Bốn tên lính Xcốtlen bảo bệ riêng cho đô đốc mà chính tôi đã từng chứng kiến tinh thần cảnh giác cao độ thay phiên nhau canh gác suốt ngày đêm.
Egidio làm ra vẻ không quan tâm, nhưng ghi hết những chi tiết đó vào trí nhớ. Chờ mãi chẳng thấy nói gì về Ribère, và thấy công trường đang tìm mình, Vittorio vội hẹn tối gặp lại, và quay trở về cuốc đất.
Một sáng sớm tháng giêng ấy, ba chiếc sà lúp rời đảo, chở theo những người mà Villegagnon cử sang đất liền làm nhiệm vụ. Đội cận vệ Xcốtlen và những hiệp sĩ xứ Malte phải ở lại làm chức trách đốc công trên công trường, nên ngài đô đốc tập hợp một đội hai chục người là từ các thành phần khác nhau. Có tên lính người Bantích thời gian vừa qua đã vượt biển trên tàu Roseé, hai tên phản đạo bắt từ Thổ Nhĩ Kỳ về và một tên người Hunggari gầy guộc đến mức đáng sợ, mặt mũi hốc hác chỉ thấy mỗi gò mà, ngơ ngơ ngác ngác từ khi không còn ngựa để cưỡi nữa. Đám người ô hợp này không thật có khí thế, song có cái lợi là im lặng – vì không ai hiểu tiếng ai và rất thạo nghề đuổi bắt, phục kích. Họ được lệnh phải tóm được bọn anabáptit, bắt trói mang về, Villegagnon chia họ làm hai nhóm.
Nhóm đầu đi sâu vào trong vịnh, gồm tám lính và Martin, cậu này nằn nèo mãi, cuối cùng cũng được chỉ định làm thông dịch tập sự. Hắn hy vọng sẽ tiến thật xa, rồi thừa lúc mọi người sơ ý sẽ kiếm đường tới những cơ sở của người da trắng ở phía bờ bên kia. Trường hợp ấy, hắn đã thề sẽ về rủ Just cùng đi. Nhóm thứ hai đi theo hướng ngược lại, nghĩa là về phía cửa vịnh. Họ bàn bạc kế hoạch là từ nơi bọ chạy trốn bỏ thuyền lại, sẽ đi ngược lên rừng rậm, nhìn thẳng ngọn núi hình bánh ngọt mà tiến lên, rồi bao vây.
Colombe đi theo nhóm thứ hai, cô được phép tùy chọn một khu Anh điêng nào đó đối xử tử tế mà làm quen. Cô mang theo giấy mực để ghi chép thật nhiều từ ngữ của thổ dân để sau này có thể trực tiếp quan hệ với họ.
Just cố gàn, không muốn để Colombe đi, nhưng khi Villegagnon đã quyết định cụ thể thì không ai có thể đảo ngược. Đến phút cuối cùng bước xuống sà lúp, cô vẫn cố sức an ủi, trấn an anh trai. Nhìn anh đứng trên bãi cát xa dần, cô hết sức xúc động khi thấy anh ngẩn ngơ, lo buồn đến thế. Trên đời này, anh là người thân duy nhất của cô. Nhưng trong khi tinh thần của Just đòi hỏi cô phải luôn gần anh thì ngược lại cô nghĩ tình thân đó vẫn tồn tại, thậm chí còn mạnh hơn dù phải tạm thời xa cách. Về mặt này, cô bỗng nhận ra mình trưởng thành có nghị lực hơn anh.
Thuyền đi chỉ một quãng ngắn đã tới nơi, cô vừa đặt chân xuống nước là thấy lòng mình say sưa, hớn hở vì sắp được khám phá dải đất hằng mơ ước.
Đoàn người đi hàng một trong buổi sáng mát mẻ và tĩnh lặng; giữa một bãi sú vẹt thưa thớt, đối diện với nơi bọn anabáptit bỏ trốn đổ bộ; Colombe… trong giấc ngủ. Trong cái phòng ngủ công cộng vĩ đại ở tầng thấp của rừng, hơi thở của cây cỏ và động vật vẫn say sưa hưởng lạc làm cho không khí sặc một thứ mùi thơm thơm nồng nàn, đăng đắng. Cây gỗ mún trơn láng ẩm ướt, cây xương khô tròn trịa, cây đinh bầu với những búp cương cứng ngả ngốn tự nhiên trên lớp mùn êm ái và dương xỉ khổng lồ. Và cao hơn cả, cành lá của cây muồng xoan phủ bóng xuống toàn bộ cảnh ôm ấp phóng khoáng ấy.
Họ đi trong rừng cây rậm rạp hàng giờ mà không gặp ngôi làng nào. Mặt trời đã lên cao, tia nắng như những mũi tên lung linh làm bật lên màu xanh của lá và màu đỏ của thân cây. Đoàn người cứ lầm lì đi, nghe rõ tiếng rắn trườn trong bụi, tiếng lợn rừng nháo nhác, tiếng vỗ cánh của các loại chim nhiều màu sắc. Càng lên cao, họ càng thấy rõ hơn khi quay người lại, giữa các kẽ lá, toàn cảnh vịnh sắc tim tím dưới nắng mặt trời đã lên đến thiên đỉnh, toàn cảnh hòn đảo hình cái thuyền và cả mấy con tàu neo ở đó nữa.
Bọn anabaptit đã bốc hơi vào rừng sâu, khó lòng tìm thấy. Họ dừng chân ăn cá khô và uống chút nước, rồi lăn ra nghỉ dưới tán cây râm mát. Colombe gối đầu lên một rễ cây, ngủ thiếp. Rừng vắng lặng và yên tĩnh đến mức không ai nghĩ phải cắt người canh gác. Vì vậy họ bất lực không trở tay gì khi tỉnh dậy thấy bị bao vây bởi hai chục thổ dân Anh điêng cầm chùy và tên nỏ dài ngoẵng.
Colombe chưa bao giờ nhìn thổ dân gần như thế. Qua những câu chuyện tếu táo trên đảo, cô biết họ ở trần, song chỉ coi đó là một đặc tính lạ lẫm. Nay đứng trước những đàn ông không còn mảnh vải che thân, cô không hề cảm thấy chướng. Cổ và cổ tay họ đeo những đồ trang sức đơn giản bằng vỏ ốc, còn tất cả những bộ phận mà người văn minh cho là cần che giấu, đều phô ra hết. Như cây cối phô bày hoa trái một cách tự nhiên, những con người sinh ra từ thiên nhiên này họ tập tạo hóa, để cho thân thể con người giữ nguyên giá trị của nó. Khi tên lính Bantích run rẩy đứng lên trong bộ áo nhem nhếch, Colombe lại thấy hắn lố bịch hơn cả những thổ dân không quần áo.
- Mair, mair! – Tên lính Bantích lặp lại mấy từ do Villegagnon dạy.
- Mair, mair! – Những người khác đồng thanh nói theo, không nghĩ gì đến cầm vũ khí chống cự.
Một thổ dân đáp lại bằng câu nói dài. Một thứ ngôn ngữ khác lạ nhìn còn dễ hơn nghe: nó được vô số nguyên âm điểm xuyết, chen chúc nhau như cây cỏ sát mặt đất rừng già, và người ta còn nhận ra nét nổi bật không đều đặn của phụ âm chi phối âm điệu cứng ngắc.
Anh linh Ban tích nhắc lại để cho họ tưởng anh đã hiểu được chút ít:
- Mair.
Cả đám Anh điêng cười ồ lên, vì từ này chứng tỏ đám người lạ chẳng hiểu gì về điều mà họ muốn nói.
Sự hoan hỉ ấy, cộng với việc thổ dân khoác cung tên lên vai, đã làm giảm mọi lo ngại. Họ đi theo những người bạn mới qua con đường mòn dẫn vào phía trong.
Colombe đi sau một thổ dân chỉ lớn hơn cô một chút và không tài nào rời mắt khỏi hệ thống cơ bắp của anh ta. Cô chưa bao giờ tưởng tượng nổi, một con người mà lại được cấu tạo toàn bằng những sợi gân căng cứng và bắp thịt cuồn cuộn như thế. Bỗng nhiên, cô chợt nhận thức về sự bí hiểm của các động tác ở chính con người mình, sự bí hiểm của những sức mạnh thông thường đối với thế giới khoáng vật và động vật lộ ra trên mặt da mình và cô cảm thấy, những cử động nhỏ nhặt trên nét mặt để cố thể hiện trí thông minh của người văn minh thật vô nghĩa, nếu đem so với ngôn ngữ cơ thể khoáng đạt, tuyệt vời của người rừng.
Họ lên tới một cái đèo từ đó có thể nhìn bao quát một bên là vịnh Guanabara, một bên là không gian rộng mở của Đại Tây Dương. Một cơn gió ẩm ướt nổi lên phái bên này đèo, đánh bạt mùi ngột ngạt của hoa lá, đưa tới vị nhôn nhốt chua cay, mằn mặn của biển cả và rong tạo. Thảm thực vật đã biến đổi, thấp hơn, tập trung thanh bụi thơm ngát như hoa đỗ quyên và hoàng dương.
Một lát sau, con đường mòn dần rộng ra, đi thoải mái hơn. Nhưng đám thổ dân ra hiệu chớ đi chính giữa. Một người lấy mũi tên dài đeo bên mình chỉ cho mọi người thấy đất ở đây đã được đào sâu thành hố lớn, có phên tre phủ cỏ dậy lên. Ai lớ ngớ đi vào sẽ thụt bẫy.
Họ né tránh cái vật cản ấy, đi khoảng năm phút nữa thì vào tới làng, giống như cái làng đô đốc đã tới, nó chỉ gồm một căn nhà to độc nhất, có thể chứa tới một trăm người.
Giống lần trước, những nghi thức chào mừng ồn ào lại diễn ra, lần này ai nấy đã quen nên nhẫn nại ngồi yên. Sự đón tiếp làm Colombe yên tâm, cô vui vẻ nhìn những đứa trẻ trần trùng trục chơi đùa dưới đất, những thổ dân niềm nở mời ai nấy ngồi lên võng, rồi họ manh những vỏ bầu đựng đầy thức ăn ra. Trên bếp có mùi nấu nướng ấm cúng quen thuộc.
Giữa lúc cô lâng lâng tận hưởng sự ấm cúng, thì chuyện bất ngờ xảy ra. Một đám phụ nữ, trần trường như mọi thổ dân, vây quanh cô, cười nói rôm rả. Họ vuốt tóc cô, cầm tay cô, kéo cô ra xa. Đám lính kinh ngạc và bây giờ mới hiểu ra là họ đã nhận thấy cô là người cùng giới.