Villegagnon đứng vịn vào thành ghế, quan sát ba anh thợ đang trèo lên thang. Ở tầng dưới đồn binh, ngay cạnh cổng, đã thiết kế một phòng có trần cao trang trí bằng những thân cọ, từ nay dùng làm nơi hội họp và nếu trời mưa thì trở thành nhà thờ để hành lễ. Chính trên cả một vạt tường cao ấy, dựng lên một bảng lớn bằng gỗ. Thợ mộc đã mất nhiều ngày để xẻ gỗ xi-cô-mo thành ván rồi ghép lại. Rồi còn phải phủ lên cái diện tích mênh mông ấy một lớp bột sương và mỡ động vật rồi lấy đá xốp mài nhẵn. Và lúc này, đô đốc hài lòng thấy thợ đã bắt đầu bôi màu.
Không có họa sĩ chính cống, ông phải lấy ba người thợ xây nhưng có chút hoa tay, biết vẽ, vả lại công việc của họ chỉ là sao chép. Bức tranh Đức Mẹ Đồng Trinh của Titien đặt trên giá, họ nhìn theo đó mà phóng to lên bảng gỗ cao rộng. Họ liên tục liếc nhìn bản chính để phác lên bảng gỗ với kích thước to gấp bội lần. Đức Mẹ cao lớn dần dần hiện hình. Vì mỗi người lo sao chép từng phần một nên khi lại không khớp. Mặt Đức Mẹ quá bé, bộ ngực lại quá đồ sộ, còn Chúa Hài Đồng thì bị đôi vú che lấp. Phải làm đi làm lại tới ba lần. Cuối cùng thì mọi việc cũng tạm ổn, và trên nền phông đỏ rực nổi bật bóng dáng Người Mẹ của Chúa, mà Villegagnon muốn dùng để gây ấn tượng mạnh trong các tâm hồn. Nếu sự xuất hiện của đoàn quân Tin lành có gì hay, chính là ở chỗ nó làm cho đô đốc hiểu từ nay mình phải làm gì. Nếu ông sớm biết sử dụng sức mạnh của cách hình ảnh thiêng liêng và lợi hại như bức tranh đang hình thành này, hẳn ông đã không phải dùng roi vọt với người Anh điêng, cũng như không phải hò hét, ép buộc những người khác.
Mùa mưa hết, ông sai đào móng để xây một nhà thờ ở cạnh đồn. Trong khi đó, ông tiếp tục một mình đứng ra lo liệu cách buổi lễ mỗi sáng, và những buổi lễ này sắp được tiến hành dưới cái nhìn hiền từ, che chở của Đức Mẹ khổng lồ, ắt sẽ làm cho các con chiên vững tâm tin tưởng hơn.
Tiếc thay, trong khi chờ hoàn thành bức tranh và nhà thờ, vẫn cứ phải dùng biện pháp cưỡng bức. Từ khi chắp mối liên hệ với Martin và tay chân ở bên kia bờ, thuyền bè lại qua lại thường xuyên. Lại phải cảnh giác với những thói hư tật xấu của con người. Đô đốc cho dựng một cái dàn, ai bị bắt quả tang say rượu sẽ bị bêu lên đấy, chịu dãi dầu mưa nắng. Vì cùng với hàng hóa trao đổi, rượu cahouin lại chảy về. Những tên được cử đi áp tải chuyên chở hàng lại bị cám dỗ bới những thú vui xác thịt với con gái Anh điêng. Nhưng rất khó bắt quả tang, chúng thường đi theo nhóm, đứa nọ bao che đứa kia, rất khó tìm ra sự thật. Bởi vậy, cứ hơi nghi ngờ là Villegagnon lại cho tiến hành tra hỏi. Ông hãnh diện có một phòng nhỏ với đủ dụng cụ tra tấn: móc, kìm, xích… mà ông đã đặt lò rèn làm. Ngồi làm việc trong dinh, ông ung dung hài lòng nghe những tiếng kêu thét từ đó vọng ra. Ông thường mỉm cười hài lòng: đối với ông, đó là những bản hành khúc của Chân lý. Làm sao ông có thể thờ ơ được trước những cố gắng ồn ào của một người đang được các bạn đồng loại góp sức làm cho tu tỉnh? Nhờ biện pháp đó, người ta đã phát hiện ra nhiều kẻ lầm đường lạc lối mà, nếu không được giúp thì họ sẽ mãi mãi phải đơn độc trong vũng bùn tội lỗi. Một khung hình phạt chi tiết được vạch ra, từ đánh roi đến dìm nước và nhiều thứ khác. Chỉ có treo cổ là chưa tính đến, vì mùa này dây thường dễ bị ải.
Nghĩ tới những biện pháp siết chặt kỷ luật, đô đốc trở về với thực tại. Các họa sĩ đang thoa mầu hồng lên da thịt Đức Mẹ. Ông động viên họ theo kiểu mới, nghĩa là dọa móc mắt họ nếu không sao chép bức tranh Titien cho tử tế. Rồi ông đi ra. Mùa mưa lại đã tới, theo kiểu thường lệ: sáng thì trời đẹp và mát, đến trưa thì mây ùn ùn kéo tới, và chập tối thì khí trời oi bức cực kỳ, rồi cơn dông ập xuống. Villegagnon hãnh diện vì mới có đôi ủng bằng ga ta-tu do một thợ giày già trên đảo làm ra, nhờ nó mà ông lội nước không ướt chân. Vấn đề không chỉ ở cái chỗ tiện dụng, mà nó giúp ông giữ được tư thế. Cơ chế cai trị của ông bây giờ là đức tin, cộng với tàn nhẫn và oai phong.
Từ đồn, đô đốc đi ra phía sau dinh thống đốc, nơi có nhiều phòng ở. Ông vào phòng đầu tiên, nơi Just đang nằm. Hai nhân vật vẻ mặt nghiêm nghị đang loay hoay tìm ở chân ổ rơm.
- Thế nào, bệnh nhân của chúng ta ra sao rồi? – đô đốc hỏi.
Với đôi tay chai sạn và bộ quần áo dính bùn, hai người nọ trông như thợ đấu. Đúng là họ từng làm công việc thổ mộc thật, cho đến khi lão thầy lang duy nhất trên đảo bỏ trốn. Không còn ai thạo y lý, đành trưng dụng họ. Một anh tự xưng là từng phụ việc một ông bào chế. Anh kia, có em làm phu xe cho một thầy thuốc, nói cũng đã học cách chữa bệnh. Không ai dám nghi ngờ, vì quả thật do được gần gũi các vị ngành y, họ đã học được bí quyết: luôn làm ra bộ mặt nghiêm trọng, và tuôn ra từng tràng chữ la-tinh khiến con bệnh phải kính nể. Và lúc này họ cũng đang dùng những từ lạ hoắc để trả lời các câu đô đốc hỏi về tình trạng bệnh nhân. Một trong hai thầy lang băm báo cáo:
- Chúng tôi đã thay băng ở vết thương. Máu đã ngừng chảy.
- Và thuốc chữa thương đã có tác dụng: chúng tôi đã thấm ướt băng bằng cồn lô hội, thay cho nam mộc hương.
- Đúng đấy ạ. –Người thứ nhất rên rỉ và nhắc lại, vẻ mặt tiếc rẻ – thay cho nam mộc hương ạ.
- Nói gọn lại, bệnh nhân làm sao rồi? –Tuy cũng coi trọng kiến thức y học, nhưng trong thâm tâm chỉ coi y học như một vấn đề phụ, phục vụ cho quân sự và tôn giáo, Villegagnon sốt ruột hỏi.
- Ông ấy bị nhức đầu ạ. – một người đáp.
Lại vòng vo một hồi về dự kiến cách chữa trị.
- Chúng tôi đang bàn xem có nên dùng quy-quýp không. – Người thứ hai trịnh trọng tuyên bố.
- Trời đất ơi! – Villegagnon thốt lên. – Nặng đến thế kia à?
Hai thầy lang nửa mùa tỏ vẻ bất bình và coi thường.
- Phải dùng quy-quýp sao…! –Đô đốc hoảng hồn nhắc lại.
Rồi chợt nhận ra rằng mình mới nghe một dự đoán mà đã hốt hoảng, ông nhún nhường hỏi, giọng thầm thì.
- Nhưng chính xác thì quy-quýp là gì?
Vị thầy lang thứ nhất lên giọng kẻ cả:
- Quy-quýp là một cái mũ chụp hai đáy chứa đầy bột đầu mà người ta thường đội cho những bệnh nhân đau đầu.
- Thế thứ bột ấy gồm những chất liệu gì?
- Đó là một thứ thuốc sắc.
Người kia giải thích thêm:
- Chúng tôi khuyên, nhất thiết phải sắc với cánh kiến trắng, long não và cây đuôi diều.
- Thế thì còn chờ gì nữa? Đặt luôn cho cậu ta cái quy-quýp ấy đi, nếu đỡ được bệnh.
- Nhưng thiếu nguyên liệu ạ.
- Thiếu những gì?
- Cánh kiến trắng. – người thứ nhất đáp.
- Long não nữa ạ – người thứ hai nhanh nhẩu nói thêm.
- Và cả cây đuôi diều nữa. –Người thứ nhất miễn cưỡng nói tiếp, mặt cúi gằm.
- Ra thế, – Villegagnon quát.
Rồi ông tống cả hai ra cửa.
Just hãy còn yếu, mắt nhắm nghiền. Villegagnon đến gần giường và ngồi ghé xuống, nhưng vì ông quá nặng nên suýt nữa thì lật úp cả Just lẫn chăn đệm xuống đất. Just mở mắt.
- Cháu có ăn được gì không? – đô đốc hỏi. Nhìn thấy người được mình bảo trợ bị thương, ông cảm thấy xót xa và bối rối. – Cháu mất khá nhiều máu đấy.
- Thưa đô đốc, không sao ạ. Tôi sẽ khỏi ngay thôi.
- Thế thì phúc! Cháu cần bình phục sớm. Ta còn nhiều việc phải làm. Trước hết, là trả mối thù này cho cháu.
Just lắc đầu. Đô đốc bật dậy:
- Sao! Cháu không chịu nhìn nhận sự thật ư? Cháu bảo tự mình làm bị thương, ai tin được. Con dao đẫm máu tìm thấy bên người cháu, theo ta biết, không phải dao của cháu.
Chàng trai giơ bàn tay phải, xua xua trong không khí.
- Cháu phải nói rõ ai đã đâm cháu. Việc này khá hệ trọng vì ta chỉ muốn dành cho tên sát nhân ấy hình phạt thích đáng để làm gương. Đấy là một tội ác ô nhục. Phần còn lại, ta đã biết phải làm gì rồi. Còn nói chung thì ta đã thừa biết là ai rồi, đó là DuPont và đám tà đạo của hắn.
Villegagnon còn nói nhiều nữa, cảm ơn Chúa đã làm cho lưỡi dao chỉ đâm vào phần mềm thôi. Sườn Just sưng to và tụ đầy máu đen, tức là lưỡi dao không động đến nội tạng. Kinh nghiệm chiến trường cho thấy, chẳng có vết thương nào là nhẹ cả. Phải chờ cho nó kín miệng và người bệnh đứng dậy được thì mới có thể yên tâm. Nhưng dù sao thì cũng hú vía.
Nhưng Just đã ngủ thiếp. Đô đốc liền rút túi ra chiếc huy hiệu mà Martin đã đưa lại để làm tin. Trên huy hiệu, có chân dung của người mẹ quá cố của ông. Ông cầu nguyện cho linh hồn bà. Just đã thở đều, ông cũng dần dần thiếp đi và mơ về cái thời ông bằng tuổi Just và cũng ngồi như thế này bên giường bệnh của bà. Lúc đó ông cảm thấy người phụ nữ can đảm ấy đang chuẩn bị đi gặp Chúa, sẵn sàng chờ sự phán xét. Để noi gương người, sau đó ông đã lao vào chiến trận, dù ác liệt đến đâu cũng chưa sánh được với sự dũng cảm của người lúc hấp hối.
Just vẫn ngủ say, đô đốc lặng lẽ rút ra ngoài. Ông đi chầm chậm về dinh thống đốc, vừa đi vừa nghĩ về những việc sắp phải quyết định. Bọn Tin lành đi rồi, đó chỉ mới là bước đầu. Ông còn muốn chúng khuất mắt hẳn, hoặc là chết rục ở bờ bên kia, hoặc là bán xới về Genève. Dù sao thì cũng đã nhẹ nợ, và chưa bao giờ ông tin tưởng vào tương lai như lúc này. Công việc xây dựng đồn lũy đã cơ bản hoàn thành, rất an tâm về mặt phòng thủ chống lại một tấn công từ bên ngoài. Tinh thần mọi người ổn định dần. Việc liên kết với Martin, dù còn hạn chế, đã cho phép ông hiểu phần nào tình hình bên đó, để ngày nào không còn lo họa Tin lành nữa, ông sẽ quay lại đối chọi với hắn. Đô đốc đã ra quân lệnh rất nghiêm khác về điểm này và mỗi lần đi về, tên gián điệp Vittorio báo cáo đều đặn các thông tin quý giá về lực lượng và ý đồ, kế hoạch của Martin.
Tâm trạng đang vui, nên ông không hồ hởi muốn tiếp Le Thoret chút nào khi thấy ông này đứng chờ ở cửa.
- Ông muốn gì? – Villegagnon cau mặt.
Song đô đốc biết thừa. Vừa qua Le Thoret đã gây chuyện không hay nên bị ông quở trách và buộc phải nhận kỷ luật. Nay ông ta đến để xin xóa án đây.
- Tôi muốn xin được gặp ngài. – Le Thoret trịnh trọng.
Vốn đã tham gia chiến trận ở Piémont, bị thương ở Cérisoles và Caselle, Le Thoret có quyền được ra vào phòng đô đốc bất cứ lúc nào. Sở dĩ ông ta mở đầu trịnh trọng như vậy, là muốn nhấn mạnh tính chất riêng tư và đặc biệt của cuộc gặp.
Villegagnon đi vào, và để cửa mở để ông khác theo sau. Vào tới phòng giấy, chỉ có hai người, Le Thoret vẫn cầm mũ trên tay, chờ cấp trên hỏi trước.
Đô đốc cởi áo khoác, ngồi xuống ghế, cuối cùng mới hỏi.
- Le Thoret, cậu còn muốn gì nữa? Lúc này hai đều mình bận tâm nhiều nhất là: phòng thủ đảo vững chắc và tiêu diệt bọn tà đạo. Nhìn mặt cậu, có vẻ cậu đến đây không phải để nói những chuyện ấy.
Le Thoret là người duy nhất đôi khi đô đốc xưng hô “mình mình cậu cậu” như chiến hữu.
- Phải, Le Thoret đáp. Tôi không nói những chuyện đó. Một lần nữa, tôi yêu cầu được đối xử công bằng.
Người đã cao và gầy, Le Thoret lại có khuôn mặt dài ngoẵng, công thêm một bộ râu tỉa nhọn, nên trông cằm ông càng có vẻ như bị kéo căng xuống dưới.
- Thì đã công bằng rồi – đô đốc vừa rót nước uống, vừa đáp.
- Thưa, chưa thật sự công bằng. – Giọng Le Thoret rất trầm, như từ dưới hang sâu vọng lên, và cái cổ lộ hầu không ngừng nâng lên thụt xuống. – Như ngài biết, tôi không hề xúc phạm Lưỡi Liềm.
Đó là biệt hiệu của viên chỉ huy pháo đài. Về lý thuyết, ông ta là cấp dưới của Le Thoret, song quan hệ giữa hai người hơi mập mờ về thứ bậc. Một lần bị Le Thoret sai phái làm việc gì đó, Lưỡi Liềm đã phản ứng hơi gay gắt. Lão tướng Le Thoret liền gọi Lưỡi Liềm là đồ đẹp mã vô dụng, hai bên suýt đi tới đấu kiếm nếu không được can ngăn kịp thời. Sự việc đến tay đô đốc phán xử. Câu chuyện không thật nghiêm trọng, song thể hiện một bầu không khí ngờ vực, đố kỵ đang bao trùm. Và Villegagnon đã ra phán quyết căn cứ vào một điều lệ của quan đội từ thời Charles VIII, căn cứ vào một lời chú giải đáng ngờ trong quyển Cuộc chiến tranh xứ Gaules và cũng theo cả ngẫu hứng lúc đó nữa.
- Cậu đã có lỗi, vậy phải chấp hành án phạt, vả lại theo mình hình phạt cũng nhẹ nhàng thôi.
Bỏ qua ý đe dọa ngấm ngầm trong câu trả lời vừa rồi, Le Thoret nhìn thẳng vào mắt người chỉ huy đồng thời là chiến hữu:
- Một lần cuối, xin hỏi ngày có rút án kỷ luật không?
Từ mấy tháng nay, viên tướng này ngày càng lầm lì, cau có. Ông đã mòn mỏi và không muốn tuân theo kỷ luật nữa, như một tấm thảm cũ rích mà không biết bao nhiêu kẻ cẩu thả đã chà đạp. Người như ông, đã phục vụ nhiều vương triều, đã chinh chiến trên nhiều mặt trận, đối đầu với nhiều kẻ địch lợi hại, nay phải nhận chỉ huy một đội quân ô hợp, điều ấy làm ông chán ngán. Vụ trục xuất phái Tin lành làm Villegagnon hài lòng, song Thoret không vui. Ông cố nhẫn nhục, song vụ kỷ luật bất công này đã như một mồi lửa làm mối hận của ông bùng cháy.
- Không! Đô đốc trả lời dứt khoát.
Hai người nhìn nhau một lúc lâu, và trong ánh mắt không còn phân biệt cấp bậc, chức vị và ngôi thứ của họ đều thể hiện sự quyết không nhượng bộ. Villegagnon nói tiếp:
- Hai ngày nữa, mình sẽ cho họp toàn thể để thực thi quyết định. Cậu sẽ bỏ mũ, quỳ gối xuống, nói lời nhận lỗi và tiếp nhận quyết định đình chỉ chức vụ chỉ huy trong ba tuần.
- Vậy thì tùy ông. –Thoret đáp, đội lại mũ lên đầu, đi ra.
Sáng hôm sau, lễ cầu kinh vừa xong thì Villegagnon được mời đi gấp, đến chứng kiến những dấu chân đáng ngờ và một hòm vũ khí quẳng vội ở hốc đá phía bờ tây của đảo. Lợi dụng lúc ai nấy đều bận tâm vào sự kiện do chính mình sắp đặt, Le Thoret bình tĩnh lệnh cho lính dưới quyền tháo neo một con thuyền, rồi trèo lên cùng với bốn tay súng tâm phúc đã theo ông từ thời ở Ý. Họ bỏ trốn mà không ai để ý.
Sang tới đất liền, những người huygơnô kéo nhau đến trú dưới bóng cây. Mưa tuy đã ngớt từ cuối chiều, song mặt đất, cây lá và áo quần mọi người vẫn ướt sũng. Nước từ những tán lá to trên cao trút xuống như phễu. Đêm đầu tiên thật khổ cực và dài dằng dặc. Người người rét run vì lạnh và vì sốt, ai nấy co quắp túm tụm vào nhau để truyền cho nhau chút hơi ấm. Do bệnh trĩ bất trị, DuPont đứng suốt cho tới nửa đêm, cuối cùng mới nằm vật xuống cát ướt.
Aude đã kể lại với ông chú về thất bại của mình. Trước đó Richer đã hoàn toàn ủng hộ mưu toan của cô cháu, mặc dù chưa biết nàng sẽ dùng phương cách nào. Ông thầm khen con bé có dũng khí, trong khi DuPont lại thiếu. Ông buồn bực nhìn nhà quý tộc già lão, nếu lão nghe theo lời khuyên của ông và tỏ ra chủ động tấn công hơn thì kế hoạch loại bỏ Villegagnon hẳn đã hoàn thành từ lâu, và đứa cháu gái của ông đã không phải liều thân mình để cứu vãn danh dự. Hơn nữa, khi Aude thú nhận với ông chú việc mình đã đâm Clamorgan, ông ta càng thương xót đứa cháu. Trước đó ông đã trao cho Aude một thanh đoản kiếm để tự vệ và sử dụng khi cần thiết. Song bây giờ thì hậu quả không lấy gì làm tốt đẹp. Just bị đâm trọng thương sẽ khiến Villegagnon thêm lồng lộn trả thù. Họ đang gặp cảnh thiếu thốn trong rừng, lại có thể sẽ bị truy đuổi gắt gao, như người Hê-brơ bị Pharaon truy sát, và họ tin rằng một eo biển cũng không thể ngăn cản được Villegagnon.
May tay, sáng sớm nhìn sang phía đảo xa xa, không thấy có động tĩnh gì đáng ngại. Viên mục sư lại giở bài cầu kinh để trấn an quân sĩ. Được cái ông thuộc làu rất nhiều thánh kinh, thánh ca, có bao nhiêu đem ra xài hết. Cả đêm, ông ta đã cố động viên tinh thần của các bạn cùng cảnh ngộ, thế mà đến tận rạng đông, kho kinh bổn của ông ta vẫn chưa cạn. Chúa nghe thấy đã động lòng chăng, mà sáng hôm đó trời nắng ráo, quần áo bắt đầu khô. Tuy nhiên mây vẫn ùn lên ở cuối trời, hết ngày thế nào cũng lại mưa. Phải mau tìm chỗ trú, nếu không có sẵn thì phải tự tạo lấy.
May mắn làm sao, hôm đó đúng ngày lành: họ gặp nhiều người từ trong rừng đi ra, cầm đầu là một người trẻ tuổi da trắng. Phái huygơnô từng nghe nói có một lực lượng trấn giữ ven biển, và lực lượng này đối địch với Villegagnon. Vậy là sống rồi, nếu chứng tỏi cho rõ mình không phải cùng phe với đô đốc.
Tên trẻ tuổi tự giới thiệu là Martin, hắn chào hỏi họ tử tế, duy điệu bộ hơi có vẻ huyênh hoang. Cũng chẳng lạ đối với kẻ đã xưng hùng xưng bá ở nơi rừng xanh núi đỏ này. DuPont tiến lên, cũng đàng hoàng không kém:
- Thưa ông, chúng tôi là những người vô tội bị một tên tàn bạo đầy đọa. Chúng tôi biết ông không đứng cùng một phía với tên tàn bạo ấy. Hy vọng ông sẽ nhận chúng tôi là bạn.
Được một người thuộc dòng quý tộc cầu xin, Martin rất phỡn, dù kẻ quý tộc ấy đang có bề ngoài thảm hại vì đã lăn lóc cả đêm dưới đất.
Hắn vênh mặt:
- Ngài yên tâm, chừng nào còn ở trên lãnh thổ của tôi, ngài chớ lo. Tôi sẽ bảo vệ các người.
Đám lưu vong thở phào nhẹ nhõm. DuPont dấn thêm một bước:
- Xin ông tin rằng, chúng tôi sẽ chấn chỉnh lại lực lượng và sẽ sát cánh cùng ông chống lại tên bạo ngược, tên tiếm quyền chuyên chế ấy.
Điều này thì Martin chưa tính đến. Chừng nào quân Bồ Đào Nha chưa kéo tới, hắn đã thỏa thuận- dù là giả dạng – với Villegagnon sẽ không có hành động đối địch. Quan trọng lúc này là để Vittorio qua lại giữa hai bờ nhằm thu thập thêm tin tức. Nói cho đúng, Martin chẳng cần gì bọn huygơnô này, thừa sức đánh bật chúng ra biển. Tuy nhiên, hắn linh cảm tạm để bọn này yên thì tốt hơn. Trước hết, chắc chắn chúng có tiền, dù bên ngoài thiểu não thế nào. Sau nữa, là phòng thân. Nếu vạn nhất kế hoạch của Bồ Đào Nha thất bại, ít nhất hắn cũng có thêm lực lượng đối phó với Villegagnon. Mà bọn chúng lại có nhiều thế lực hùng mạnh ở châu Âu hậu thuẫn, càng tốt.
Nhìn đám người đang run lên vì lạnh, Martin nói trịch thượng:
- Thôi, lúc này mà đòi hỏi các ông chiến đầu thì không phải chút nào. Hãy tạm sống đã, rồi hồi phục sức lực. Các ông theo tôi.
Đã được Vittorio báo trước về những vị khách sắp tới, Martin đã cho dân làng Anh điêng ở bìa rừng dời đi nơi khác, và dẫn DuPont cùng ba quân tới đó. Những gian lều sơ sài tết bằng lá cọ, kém xa những căn nhà ở trên đảo, đối với họ lúc này đã quá là tiện nghi, sang trọng.
Họ sắp xếp đồ lề, hong nốt quần áo cho khô, rồi xúm vào ăn ngấu nghiến những thứ mà thổ dân Anh điêng vừa dọn ra.
Chập tối, cơn giông lại nổi, song họ đã ấm chỗ và cảm thấy thoải mái. Cứ yên vị ở đây chờ Chartier về cùng với viện binh từ Genève tới, cũng tốt. Lúc đó, Villegagnon hãy liệu hồn!