Cửa Mật

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
11

❊ ❊ ❊

Ngày trước…

Khi thấy tấm ảnh của Costello ở trên bệ lò sưởi, anh bị ngạc nhiên vì nó giống Herbert von Karajan[1] quá đi. Cùng mái tóc dài rậm bạc trắng, cùng ánh mắt màu xanh thép, cùng vẻ uy nghi. Chắc là người ta thường nói với ông ấy nhận xét này. Thêm vào đó là cái duyên Pháp, một thứ ánh hào quang lãng mạn đã làm Kathrin thích thú. Nhưng bên cạnh tấm ảnh là một cái bình thếp vàng. Đựng tro hỏa táng của ông ấy.

— Bà Strandberg, xin mời ngồi, - Blandine Costello nói. - Ông…

— Barett, Dan Barett.

Khi anh nhận được thư điện tử của Kathrin báo tin Michel Costello đã chết, anh những muốn gọi điện ngay tức khắc cho vợ ông ấy ở Aixen-Provence. Nếu có cơ may nào nhỏ nhất để tham khảo những tài liệu của ông kiến trúc sư này thì là bây giờ đây. Không bao giờ ta được bảo vệ chống lại các sai lầm thô thiển đâu. Những người thừa kế có thể nổi hứng vứt đi tất cả. Những tấm tranh in từ bản khắc, những bức vẽ phác thảo của một tên khùng già thì có giá trị gì đối với họ chứ? Thế nhưng, anh đã không dám gọi. Thật khó mà gọi một người không quen biết chỉ vài tuần sau khi chồng chết nhằm lục lọi trong đống đồ lưu trữ của người chết. Anh có phải là Bernie Puttman đâu. Hắn, em biết rõ mà, hắn xông vào ngay. Những trạng thái tâm hồn ư? Đối với hắn là con số không.

Chính Kathrin đã tìm ra giải pháp. Nào là “công trình nghiên cứu”, nào là “lợi ích khoa học”. Nàng đã gọi cho Blandine Costello bằng cách viện ra những lý do này. Viện Bảo tàng quốc gia ở Stockholm quan tâm đến các quan điểm của Costello và muốn bổ sung cho đủ những hiểu biết của Viện về Le Nôtre. Cái cớ này đã qua lọt. Blandine Costello chấp nhận tiếp bọn anh. Nói đúng hơn, Kathrin thôi. Còn anh, anh chỉ là người được ghép vào đi chung.

Chỗ ở của Costello, toàn bằng đá màu đất son và hồng, không lớn lắm so với chuẩn Mỹ, nhưng sang trọng, được xây lên như một ngôi nhà kiểu “hispanique”[2] với sân trong. Đàng sau cái cửa chính giản dị, phía ngoài đường, là những bức tường tối, không thể xâm nhập được; phía bên kia là một cửa lớn mở ra vườn. Một phòng tiếp khách và các phòng ngủ bố trí xung quanh một sân trong hình tứ giác được trang hoàng với những chậu to trồng hoa màu hồng, được bày biện với những cái bàn và ghế bành bằng mây dành cho vùng nhiệt đới. Ngay trước sân hiên, dưới ban công, là một hồ bơi xanh phủ tấm bạt, bao quanh bởi các cây cam và cây chuối chưa trổ hoa. Khi đi dọc theo hồ bơi anh bỗng đứng khựng lại trước cái đồng hồ mặt trời gắn trên tường, phía trên bể nước. Trên nó là câu phương châm “Không gian sâu rộng là dấu hiệu sức mạnh của ta, thời gian là dấu hiệu bất lực của ta.” Ký tên Jules Lagneau, một triết gia Pháp.

Cuộc tiếp đón thì lịch sự, và chỉ thế thôi. Bình thường mà, anh tự nhủ, đặt vào hoàn cảnh như vậy. Kathrin, biết nhiều thứ tiếng như phần lớn người Thụy Điển, đã giới thiệu anh một cách dè dặt.

— Ông Barett đây là một nhà bảo trợ nghệ thuật lớn, đang tài trợ cho bảo tàng viện Stockholm, và thêm vào đó, lại đích thân quan tâm đến Versailles.

Blandine Costello tỏ ra không nhận ra anh. Anh không ngạc nhiên đâu. Người Pháp có tiếng là ghét công nghệ, cho dù em khẳng định ngược lại. Đúng thế, ngay cả khi họ phát minh ra Minitel và TGV… Anh bao giờ cũng nghĩ là nếu một ngày kia anh phải giấu giếm một bản mẫu đầu tiên cực kỳ bí mật hay một phần mềm cách mạng thì anh sẽ chọn chỗ giấu ở nước Pháp. Nước cuối cùng mà những tên cạnh tranh với anh nảy ra ý đi đến đó tìm.

Bà chủ nhà đi trước bọn anh vào phòng khách, đẹp, bàn ghế bằng mây với những gối đệm rộng và những màn cửa lớn bằng vải màu be.

— Ông, bà chắc uống cái gì chứ?

Bà Costello trông trẻ hơn người chồng quá cố. Ít ra cũng mười tuổi. Dạy đại học, giáo sư ngữ văn ở phân khoa Aix, ăn mặc không cầu kỳ, như nhiều nữ giáo sư khác: váy xám, áo veste xám, sơ mi trắng. Hè cũng như đông, chắc thế.

— Trà, xin bà, - Kathrin trả lời.

— Và ông…

— Coca Light, nếu bà có, cảm ơn.

— Mấy đứa cháu nội tôi đều uống. Tôi nói mãi với tụi nó là người Mỹ đầu độc chúng ta với thứ đồ uống đó…

Bà tỏ ra trực tính. Hơi khô khan về nội dung, có nhạc điệu trong hình thức, tuy vậy bà vẫn để lộ rõ một sự vui vẻ nào đó trong giọng nói, chắc là do một chút giọng miền Nam. Chính em đã hướng dẫn anh ngày nọ phân biệt những giọng phát âm khác nhau ở xứ sở này. Giọng vùng Provence, như em bảo, nghe nó thì như nghe nhạc Vivaldi[3], ngay cả khi người ta cãi nhau ỏm tỏi.

Blandine Costello nhanh chóng quay lại phòng khách với đồ uống và vài miếng bánh ga-tô nhạt. Bà đặt khay trên cái bàn thấp rồi ngồi xuống trên mép ghế bành. Phục vụ tối thiểu, lịch sự hợp cảnh.

— Chuyến đi của ông bà tốt chứ?

— Vâng, tốt lắm. Tàu đến đúng giờ. Và chạy xuyên qua những cánh đồng phủ tuyết. Tuyệt diệu biết bao, con tàu TGV[4] của nước bà! Phải vậy không Dan?

Kathrin đã gọi anh bằng tên, vì nhu cầu công tác. Nhưng toan tính làm ấm không khí của nàng bị xẹp ngay. Blandine Costello trả lời như sáp nóng chảy:

— Tuyệt diệu ư? Đúng thế, ngoại trừ người Mỹ chẳng bao giờ mua cho một chiếc.

Đàng sau lời mỉa mai của bà, anh cảm thấy ló ra mối oán hận mà người Pháp đôi khi tỏ ra trước đồng bào của anh.

— Ồ, bà biết đấy, người Mỹ chẳng hiểu biết gì hết về thiên tài Pháp! - Anh thêm vào, nhã nhặn, rồi uống một ngụm Coca.

Blandine Costello buột miệng phản đối.

— Thiên tài à? Ông thấy làm ra nó, cái TGV đó, là thiên tài ư? Đi Paris nhanh gấp đôi ư? Tôi, tôi bất cần chuyện đi Paris nhanh gấp đôi đó! Càng ít đi đến đấy tôi càng thấy khỏe hơn! Thiên tài Pháp, không phải cái TGV đó đâu. Chính là Chateaubriand, Victor Hugo, Matisse, Braque!

— Và Le Nôtre nữa chứ, - Kathrin kết luận.

Blandine Costello sa nét mặt, buồn bã.

— Ông nhà tôi cũng đã nghĩ thế…

Nhưng cô quản đốc viện bảo tàng người Thụy Điển chộp ngay cơ hội mở ra.

— Thưa bà Costello, trước hết tôi xin cảm ơn bà lần nữa đã tiếp chúng tôi trong hoàn…

— Tốt! Ta đã nói chuyện này qua điện thoại rồi. Cô biết đấy, Michel lẽ ra sẽ vui lắm nếu cô đến gặp ông ấy sớm hơn.

— Tôi biết mà, tôi rất tiếc. Ông nhà là một người đàn ông có duyên lắm. Một nhà nghiên cứu lớn. Tôi có gặp ông cách đây hai năm ở một hội nghị, và công trình nghiên cứu của ông đã gây ấn tượng nơi tôi.

— Giá mà có nhiều người như cô hơn, và sớm hơn, quan tâm đến các công trình của Michel! Đó là một người đàn ông cực kỳ tinh tế. Và một nhà nghiên cứu phi thường. Những tháng cuối cùng này, ông đã đến gần sát đích. Nhưng căn bệnh đã cản ông lại… Đó là một cuộc chạy đua với thời gian, bởi vì ông không còn thể đi vào trong các ngôi vườn nữa. Cô biết đấy, mắt ông dần dần yếu đi, không nhìn rõ nữa.

— Không, tôi không biết, - Kathrin ấp úng.

Một sự im lặng khó chịu xuất hiện. Blandine Costello đứng dậy, vẻ mặt nhăn nhó. Anh cảm thấy là Kathrin bị khó khăn khi tìm cách đi vào trọng tâm vấn đề.

Bà chủ nhà đến gần lò sưởi bỗng đột ngột quay mặt về phía anh, hầu như hung hăng.

— Nhưng tại sao ông lại quan tâm đến Versailles?

Đây đúng là lúc thích hợp để kể lại niềm đam mê của anh đối với các vì vua nước Pháp, những câu hỏi anh tự đặt ra về sự sắp xếp trong công viên, những mối nghi hoặc anh mang trong đầu về tư thế của Apollon, chuyến đi Stockholm. Và vấn đề hiện nay đang ám ảnh anh: Le Nôtre có ghi khắc trong cấu trúc vô hình của ngôi vườn một công thức toán học chứng minh Thượng đế hiện hữu không?

Vậy thì anh bắt đầu bày tỏ những hiểu biết của mình về chủ đề này. Anh vừa mới nói ra thành ngữ “định lý thần linh” thì Blandine Costello rùng mình.

— Ông cũng biết đến công thức này sao? - Bà vừa nói vừa liếc mắt qua trái, qua phải, như thể bà thình lình lo sợ người ta nghe được lời nói. - Vậy mà ông nhà tôi lại bảo tôi là chẳng ai biết… Ông ấy không muốn nói đến nó! Ngay cả với tôi: ông không bao giờ đưa cho tôi xem cái công thức đó. Ông nói…

Bà ngừng nói và trở lại phía ghế bành để tựa lên lưng ghế, như thể sắp bị mất thăng bằng.

— Vâng, ông nhà nói gì? - Kathrin hỏi nhỏ.

— Ồ, chuyện sẽ làm cô cười đấy. Ông nói là nó có thể mang đến tai họa. Như lời nguyền độc của Toutankhamon[5], cô biết chứ? Hay của Otzi…

Em đã theo dõi câu chuyện này, phải không? Từ năm 1991, sáu trong những người khám phá ra Otzi, cái xác ướp được tìm thấy dưới tuyết ở nước Áo, đều chết cả, có thể là chết do tai nạn mà cũng có thể là chết tự nhiên. Và ở đầu bảng là Helmut, một người miền núi và là người chính tìm ra xác ướp.

Anh thầm nghĩ, để so sánh với Otzi hay Toutankhamon thì ông làm vườn này hẳn là khùng khùng sao đấy.

— Bà muốn nói các người khác trước ông nhà đã khám phá ra cái công thức và họ đã chết vì chuyện này, phải không ạ? - Kathrin thầm thì.

Blandine Costello lắc đầu.

— Tôi không biết. Sự khám phá về Thượng đế của ông chỉ mới xảy ra từ mười sáu, mười tám tháng nay; có lẽ ông tự tìm cách biện minh để khỏi nói về việc khám phá đó, chính xác là vì ông ghê tởm cái cung cách người ta đã xem khinh những phát hiện trước đó của ông… Cô biết đấy, từ hai mươi năm nay ông đã đi gõ cửa mọi nơi. Những vị giám đốc bảo tàng Versailles, tất nhiên rồi, Bộ Văn hóa, các chính trị gia ở Paris, các giới truyền thông, các nhà báo, tuần báo Paris-Match, tạp chí Historia… Chẳng có ai muốn tiếp ông. Hay đúng hơn, những người hiếm hoi tiếp ông thì lại xem thường ông.

— Việc khám phá ra cái cầu thang không thay đổi thái độ họ gì hết sao?

— Không gì hết. Tin tôi đi, phải cần một cuộc cách mạng thực sự mới bắt buộc được các chuyên gia đó suy nghĩ lại về Versailles của họ. Họ tin họ biết nằm lòng Versailles đơn giản vì họ đã xem xét tỉ mỉ các sổ sách chi tiêu ở đó.

— Sổ sách chi tiêu à? - Anh hỏi vì sợ mình hiểu sai từ này. - Bà muốn nói ý gì thế, Blandine?

Kathrin trả lời thay bà, bằng tiếng Anh:

— Các sử gia Pháp phục hiện lịch sử Versailles bằng cách dựa vào những chi tiêu phát sinh từ việc tái thiết lâu đài và các ngôi vườn. Colbert, thủ tướng của vua Louis XIV, đã cho ghi vào sổ sách một cách chính xác và chi tiết. Cho nên ta có thể biết, từng ngày một, đã tiêu tốn bao nhiêu tiền cho khóm cây này, cho việc trồng lại các cây kia, hay cho việc san bằng mấy ngọn đồi nọ.

— Nhưng vấn đề, - Blandine nói tiếp bằng tiếng Pháp, - lại nằm ở chỗ là công trường nào không được ghi vào các sổ sách chi tiêu thì được xem như chưa từng hiện hữu!

Bà vừa gõ mấy đầu ngón tay lên tay dựa ghế bành vừa viện anh làm chứng.

— Ngay cả sau khi khám phá ra cái cầu thang, họ đã làm như Michel không có mặt trên đời này! Nói đúng hơn, đó là điều tôi đã tin lúc ban đầu. Vì tiếp theo đó thì hình như đối với tôi, sự việc bị đẩy lên cao hơn là tôi tưởng.

Blandine nghiêng người ra phía sau, bất chợt lộ vẻ mảnh khảnh trong chiếc ghế bành rộng bằng mây, rồi nói tiếp với giọng tâm sự:

— Tôi không chắc chắn về gì cả. Tuy nhiên… Michel, từng làm việc đều đặn ở các công trường công cộng, đã không được Nhà nước đặt hàng tí nào trong suốt mười năm tiếp theo giai đoạn đó. Dĩ nhiên, tình hình kinh tế không được thuận lợi cho lắm, và sự cạnh tranh thì gay gắt. Nhưng nhiều công trường, theo lô-gích thì đáng lẽ ông ấy phải nhận được nhưng rồi ông chỉ đành trơ mắt mà nhìn.

Người đàn bà góa thu mình lại giữa các gối đệm, ánh mắt mất hút trong cõi mơ hồ.

— Chuyện này đã gặm mòn ông. Cách đây ba năm ông bắt đầu cảm thấy những cơn đau đầu, càng lúc càng nhiều hơn. Nhưng người ta chỉ khám phá ra khối u trong đầu ông khoảng một năm nay thôi. Sau đó thì mọi sự tiến triển rất nhanh…

Anh hiểu nỗi thất vọng của Costello, nhưng cũng vô ích thôi, anh bắt đầu sốt ruột rồi đó. Kathrin biết anh không rõ bằng em, nhưng nàng đã nhận ra nỗi bực dọc nơi anh. Anh lúc nào cũng đung đưa người ra sau, ra trước khiến ai cũng đoán được mà.

— Bà Costello này, như tôi đã nói với bà qua điện thoại, chúng tôi có ít thì giờ lắm. Chúng tôi phải lên lại tàu TGV lúc 18 giờ. Ông Barett nhất thiết phải có mặt ở Paris tối nay. Và chúng tôi thì không muốn làm phiền bà quá lâu. Chúng tôi có thể nhìn sơ qua các tài liệu lưu trữ của ông nhà được không ạ?

— Ông bà đến đây vì chuyện này mà. Vậy thì đi theo tôi nào. Ở trên đó, trong chuồng cu[6].

Cái chuồng cu là xưởng vẽ của Costello, nằm dưới mái nhà. Một buồng áp mái nhỏ trong đó chất lộn xộn cả đống bản vẽ mẫu tàu thủy chở khách, cao ốc, các bình đồ cuộn tròn, đặt dựa vào tường. Còn trên các kệ là hàng chục cặp xếp hồ sơ lưu trữ được sắp theo thứ tự chữ cái. Dưới cửa sổ, một tràng kỷ bọc nhung đỏ sờn cũ.

— Đó, tất cả đó! - Blandine nói to, đưa tay chỉ khoảng một chục chiếc cặp xếp đánh dấu bằng chữ “Versailles” viết tay với bút phớt đen. - Tôi chưa mở chúng ra, tôi không có thì giờ… hay can đảm.

Cái bàn giá vẽ thì ngổn ngang nhiều thứ. Blandine Costello đưa tay đẩy về một bên mấy cuộn giấy phủ đầy bụi.

— Đấy, đứng đây này. Ông bà có thể xem tất cả. Tôi chỉ yêu cầu ông bà đừng mang đi cái gì hết. Nếu muốn làm bản sao thì ông bà có thể dùng máy téléphone-fax của chúng tôi.

Anh mỉm cười. Gần như thương hại, khi anh thấy cái máy téléphone-fax, đặt trên chồng báo Le Monde xỉn vàng. Không máy vi tính, không máy scan, chẳng có gì cả. Nhà tạo cảnh này, với dáng điệu thi sĩ làm xiêu lòng đàn bà, có thể là thứ lão làng đủ sức “thuyết” hàng giờ về “sự chối bỏ nhân cách của chữ viết” và “sự triệt sản của tư tưởng” do việc sử dụng máy tính gây ra.

Anh ngồi xuống ghế đẩu đối diện Kathrin; nàng bắt đầu mở những cặp lưu trữ lấy từ kệ xuống. Nàng có vẻ trầm tĩnh nhưng anh cảm thấy nàng đang sôi sục bên trong. Thỉnh thoảng nàng liếc nhìn anh, kín đáo đến mức anh thề là nàng nhìn cái trường kỷ đỏ. Nàng có nụ cười ngọt ngào, hầu như lả lơi. Anh sẽ là tên nói láo nếu anh nói với em là anh dửng dưng trước vẻ hấp dẫn mà nàng để lộ ra với anh. Nhưng thôi, em biết anh mà. Anh bị hội chứng Marylin, như em gọi. Khi anh tập trung đầu óc vào một việc gì mà có cô gái nào đẹp nhất thế giới đi vào văn phòng anh thì anh hầu như không thấy cô ta chút nào. Marilyn Monroe[7] mà có đổ bộ xuống thì anh, mắt hầu như không nhướng lên, đủ sức sai nàng đi mang cà phê đến chứ chẳng chơi đâu. Em luôn luôn mỉa mai nhiều về sự khác biệt này giữa hai ta. Em mà thấy Hugh Grant hay George Clooney[8] xuất hiện bất ngờ thì…

Bọn anh khảo sát tỉ mỉ các tài liệu từng cái một. Mỗi một thành phần của ngôi vườn – bể nước, pho tượng, vại, lối đi – có vẻ được dành cho một cặp xếp bằng cạc tông chứa các ảnh chụp, các bản vẽ nháp, các bảng ghi số đo đạc, đôi khi còn có những lời bình luận thông thái về ý nghĩa tượng trưng hay nơi ăn chốn ở của thần linh trong truyện thần thoại. Anh cố gắng, trên hết, hiểu những chú giải phức tạp mà nhà nghiên cứu Costello đã viết bên lề. Bọn anh ở trong chuồng cu được hơn một tiếng đồng hồ thì Kathrin buột miệng kêu to:

— Dan, nhìn này.

Nàng đặt dưới mắt anh một hồ sơ mang tên “Sự ứng dụng con số thần kỳ trong cấu trúc những ngôi vườn ở Versailles”. Nó chứa đựng hàng chục bản vẽ gồm các hình tròn, các đường cong và các đường thẳng chằng chịt với nhau. Thình lình nàng rút ra từ lô đó một tờ giấy đã bị xé ra từ mép trong và hai bên mặt giấy thì đầy chữ viết khít nhau.

— Dan, nghe cái này đi! Nàng reo lên.

Nàng bắt đầu đọc to và dịch ra, chậm hơn một chút, cái có vẻ là một ghi chú của Costello, rõ ràng là dành cho các học trò hay cho những kẻ mới bước vào nghề: có lẽ đó là một phác thảo bài viết, ghi là năm 1988, dành cho một tạp chí không chuyên nào đó.

Khi ta vẽ bình đồ một ngôi vườn hay một ngôi nhà, quy tắc đầu tiên chủ yếu là sáp nhập vào một tỉ số căn bản. Tôi giải thích: nếu tôi vẽ một khoảng vườn trồng hoa hình chữ nhật, tỉ số căn bản này sẽ là tỉ số giữa chiều dài L của nó và chiều ngang l. Ta hãy hình dung, ví dụ như chiều dài là 10 mét, chiều ngang 5 mét. Trong trường hợp này, L / l = 2. Khi tôi xây dựng tiếp một hình chữ nhật thứ hai, rồi những cái tiếp theo, dù chúng to hay nhỏ hơn cái đầu tiên, tôi vẫn giữ tỉ lệ này. Nó được xác định chỉ một lần thôi. Chính hằng số này sẽ bảo đảm sự hài hòa cho toàn thể. Chính từ – giữa những cái khác – cái tỉ lệ lặp lại nhiều lần này mà cái Đẹp ra đời.

Đoạn tiếp theo nằm ở mặt sau tờ giấy.

Tôi không ngừng tìm kiếm cái tỉ số mà Le Nôtre đã chọn cho…

Anh ngắt lời nàng. Anh ghét mất thì giờ của mình. Anh rút ra cái sổ tay điện tử được trang bị phần mềm mới nhất của Controlware cho phép chụp hình một văn bản và nhận ngay tức khắc bản dịch của nó trên màn hình. Như vậy anh có thể đọc trực tiếp và bằng tiếng Anh bản ghi chú mà Kathrin tiếp tục giương mắt đọc một cách khó nhọc.

Tôi không ngừng tìm kiếm cái tỉ số mà Le Nôtre đã chọn cho các hình vẽ của mình. Tôi tìm một con số nguyên, và đó là lý do tại sao việc này quá khó đến thế. Vì không có con số đó! Con số mà tôi bao giờ cũng tìm ra, dù đo đạc thế nào đi nữa, lại không phải là con số nguyên!

Khi tôi đạt tới kết quả này, tôi không tin thế được. Tôi nghĩ mình đã làm sai cái gì đó, ví dụ như tôi đã đo đạc chưa chính xác cho lắm, tôi đã tin vào một sự trùng hợp… Tôi bắt đầu tính toán lại nhiều lần. Nhưng bao giờ cũng cho ra cùng một đáp số. Cùng một phân số.

Tôi lúc nào cũng rơi đúng vào tỉ số duy nhất mà Le Nôtre đã không thể sử dụng được. Tức là…

Kathrin ngừng lại, miệng há hốc. Anh nói trước nàng.

— Con số vàng![9]

Nàng nhìn anh, mắt tròn xoe.

— Làm sao ông biết được nó?

— Bản dịch có máy tính trợ giúp mà! Cô biết đấy, hiện nay nó chạy tốt lắm Kathrin à!

Đang lúc hăng say làm việc thì anh cũng vậy, anh cũng gọi nàng bằng tên riêng nhưng nàng không nhận ra. Nàng quay lại tờ giấy của mình.

— Con số vàng, thực sự…

Nàng có vẻ hoang mang. Phần anh, anh không hiểu tại sao con số vàng là “cái tỉ số duy nhất mà Le Nôtre đã không thể sử dụng được”.

— Rồi sao nữa? - Anh hỏi quá nhanh.

— Ông không biết con số vàng à? - Nàng hỏi, giọng ngạc nhiên vì hiểu lầm ý câu hỏi của anh.

— Biết chứ, tất nhiên.

Anh suýt buột miệng trả lời nàng là anh đã học thuộc lòng con số thần kỳ này – ít ra là mười thập phân đầu tiên – rất lâu trước khi nàng chào đời. Anh cũng suýt nói với nàng là khuôn mặt nàng thực sự biểu thị những tỉ lệ của con số vàng. 1,6180339887. Cái tỉ số “lý tưởng” giữa chiều dài và chiều rộng, dù là cho một bãi cỏ hay là cho khuôn mặt của một cô người mẫu hạng nhất.

Nàng không để cho anh có thì giờ nói tiếp.

— Dan, ông nhìn này! Nhìn này! Costello đã đo đạc tất cả. Không tránh được!

Những ghi chú của Costello không phải hiển nhiên để hiểu, nhưng anh tin ở Kathrin.

Từ chỗ vào lối đi rộng lớn của lâu đài cho đến lối đi cắt ngang: 350 tz (toises[10] ). Từ khóm cây Girandole cho đến… 50 tz, vv…

Nàng vui ra mặt. Nàng trải các bình đồ lên trên bàn, đặt chúng cạnh nhau, kiểm tra trong đầu các kết quả tính toán… Một cơn gió lốc. Như mùi nước hoa của nàng, nó cũng bồng bềnh chung quanh anh.

— Ông nhìn cái góc các lan can của Latone này đi! Và những góc khác xuất phát từ Apollon! 108 độ! 54 độ! Tất cả đều là bội số của 18! Chúng đều liên hệ với con số vàng… Và cái hình này, trong các khu vườn: ngôi sao năm cánh! Hình năm cạnh! Tất cả kiến trúc của các ngôi vườn đều dựa trên con số vàng!

Anh tới lúc đó vẫn không hiểu được tại sao nàng lại tỏ ra hưng phấn đến thế. Con số vàng thì ai cũng biết xưa nay rồi. Dù Le Nôtre có sử dụng nó chăng nữa thì việc này, dưới mắt anh, không có vẻ gì là một sự khám phá căn bản. Và nhất là điều này thì có liên hệ gì với việc truy tầm của bọn anh cơ chứ? Apollon bị đặt ngược hướng. Bằng chứng cho sự hiện hữu của Thượng đế. Anh cảm thấy bọn anh đang lạc đường. Trong những trường hợp như thế, em biết anh mà, anh điều chỉnh ngay hướng đi.

— Kathrin này, cô rất tốt, nhưng tôi không thấy dựa vào cái gì mà nói đó là một cuộc cách mạng.

— Dan, thôi đi mà! Ông không nhận ra sao! Le Nôtre đã dùng con số vàng đó! Khi mà vào cuối thế kỷ XVII, đó là tà giáo! Ai mà dựa vào nó thì bị nghi là đi theo một dị thuyết hắc ám, một “combinazione”[11], một môn phái…

— Cô có hơi cường điệu không đấy?

— Không chút nào! Đến như Le Nôtre mà phải cần đến con số vàng thì thật là hoàn toàn không thể tưởng tượng được. Đó là một con người hiện đại, có niềm tin ở khoa học, như vua Louis XIV vậy. Ông dùng các cặp kính có chia độ nổi tiếng của tu viện trưởng Picard để tính toán những chênh lệch độ cao từ đường cong của quả địa cầu, hay số lượng đất cát phải dời đi để mà người ta có thể thấy bể nước Apollon từ các cửa sổ lâu đài… Ông đã thầm thì bên tai nhà vua tất cả những ý tưởng của mình nhằm dẫn một lượng nước tối đa đến các khu vườn Versailles. Đó là một nhà khoa học! Ông bị một nguy cơ đe dọa thực sự khi sử dụng con số cổ lỗ sĩ này!

Anh bắt đầu hiểu được sự hưng phấn của Kathrin. Anh biết chuyện nhà vua say mê mấy môn thiên văn, địa lý, hình học, toán học, vật lý… Khi ông lên ngôi thì Galilée[12] và Descartes[13] đã qua đời từ vài năm trước, nhưng ảnh hưởng của họ thì to lớn: họ đã làm cho tinh thần khoa học vào được trong triết học, trong các kỹ thuật và ngay cả trong nghệ thuật. Các nhà văn, các họa sĩ, các nhà điêu khắc, tất cả đều bị chi phối bởi tính hợp lý. Làm sao hình dung được là người tạo dựng cảnh vườn cho nhà vua, người duy nhất tháp tùng nhà vua gần bốn mươi năm trời, lại chính mình tuân theo một qui luật nào khác hơn là qui luật của khoa học?

— Le Nôtre không thể nào là lạc hậu được! Vả lại, ông ấy giấu nó mà, cái con số vàng đó: giờ thì tôi hiểu tại sao các bình đồ của ông ấy lại không bao giờ chỉ ra những cái trục. Vì như thế thì người ta mới không thể nào đo được các góc!

Kathrin Strandberg nắm cánh tay anh mà day.

— Dan này, khi Costello khẳng định rằng Le Nôtre đã sử dụng con số vàng để nghĩ ra các ngôi vườn Versailles thì chắc là ông đã biến những “sếp to, sếp nhỏ” ở Versailles thành kẻ thù! Không ai trong bọn họ có thể công nhận tà thuyết đó!

Anh hiểu tầm quan trọng của việc khám phá này. Một người yêu chuộng sự chuẩn xác khoa học tới mức như Le Nôtre thì không thể nào làm chuyện đưa một chiều kích huyền bí vào trong ngôi vườn kiểu mẫu của mình được.

— Tại sao ông ấy làm điều đó?

— Ông chờ chút… Tôi nghĩ câu trả lời ở đây rồi.

Kathrin đưa anh mặt sau tờ giấy bị xé đó mà nàng đang giữ nơi tay. Anh sao chụp nó và chờ bản dịch hiện ra. Trong khi đó thì quản đốc viện bảo tàng lại lên tiếng đọc tiếp.

Khi ta tạo ra một hình chữ nhật mà chiều dài và chiều rộng được kết nối bởi con số vàng (nói rõ hơn, nếu chiều dài bằng 1,618 lần chiều rộng), và ta rút từ hình chữ nhật này một hình vuông có mỗi cạnh bằng chiều rộng của nó, đơn giản bằng cách căng dây cho thẳng đều – một việc mà mấy người làm vườn đều biết rõ – cái còn lại, cái mà ta có được, là một hình chữ nhật vàng mới! Rồi hạ một lần nữa chiều rộng của hình chữ nhật mới này trên chiều dài của nó, ta có được một hình chữ nhật vàng thứ ba, tự nó cũng chứa một hình chữ nhật vàng thứ tư… Phép tính này có thể lặp lại đến vô cực! Ta tạo ra như vậy một động lực vô tận, một cấu trúc mở ra bên ngoài, nơi mà mỗi hình dạng liên kết với những hình dạng tiếp theo trong một sự hòa hợp vẹn toàn.

Kathrin nói một cách chậm rãi, giọng rất trịnh trọng. Như một tu sĩ khám phá ra Phúc âm thứ năm.

— Một động lực vô tận! Hiểu được chứ Dan? Một sự hòa hợp vẹn toàn… Ông không thấy sao?

Lần này anh đã hiểu cùng lúc như nàng. Nhưng anh cứ để nàng nói.

— Con số vàng, trong nghệ thuật kiến trúc, chính là cái tuyệt đỉnh tao nhã. Nhưng đó không phải điều giải thích duy nhất về sự sử dụng nó. Thực ra, nếu Le Nôtre chịu bất trắc khi dựa vào nó thì đó không phải là dựa vào một dị thuyết hắc ám nào đó mà là để hoàn thiện cuộc thắng lợi huy hoàng của Thái Dương Vương. Như thế thì ông mới giúp cho nhà vua thực hiện giấc mơ về tuyệt đối. Ông dâng cho nhà vua, qua sự sắp xếp hoàn hảo những cầu thang hay những khóm cây, một viễn cảnh vô hạn nhìn ra đồng quê. Một chân trời ngoại khổ. Nói một cách khác, ông dâng cái vô cùng cho một con người quả quyết rằng mình nắm quyền lực từ Thượng đế, cho một con người đại diện Chúa trên cõi trần này! Như thể là ông chỉ cho nhà vua thấy Thượng đế hiện hữu.

Nàng hớn hở ra mặt. Chính anh mới là người trở lại nhanh chóng trên cõi trần.

— Kathrin, cô tiến nhanh quá đi. Tôi muốn lắm chứ, việc con số vàng cho phép đặt cái vô tận trong cái con người, thế nhưng, dù như thế chăng nữa thì đó cũng không phải là một công thức chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế! Ngược lại là đàng khác.

— Ông hãy thừa nhận việc Le Nôtre sử dụng nó là đáng kinh ngạc.

— Hẳn thế rồi.

— Và thật khó mà hình dung là ông ấy làm thế là thể theo yêu cầu của nhà vua, phải không?

— Nghe này Kathrin, chúng ta sẽ suy nghĩ sau. Ta chỉ còn một giờ rưỡi thôi mà. Tôi đề nghị cô chụp tối đa các tư liệu. Ta sẽ làm bản kiểm kê sau đó.

Anh canh giờ. Sự khám phá của Costello, có vẻ rất kỳ lạ dưới mắt Kathrin, lại không soi sáng gì hết về hướng tiến của pho tượng Apollon, và nếu như nó cho phép đưa “cái vô tận vào trong cái con người”, nó lại không có mối liên hệ với một công thức nào đó chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế. Anh bắt đầu tự hỏi không biết Costello quả thật đã xác định được một định lý cách mạng giữa những đài nước và những luống hoa hay không. Những công việc cần mẫn, công phu của ông, quỳ hàng giờ trên những lối đi trong công viên, tay cầm thước đo, có hay không, đem lại những kết quả nào khác hơn là chứng minh sự hiện diện của con số vàng trong bộ khung các ngôi vườn, một kết luận tự nó đã là cách mạng? Các cặp xếp hồ sơ còn lại mà bọn anh tra cứu chắc chứa đựng các thông tin khác. Nhưng vì thiếu thì giờ thì tốt hơn đành sao chụp tất cả vậy. - Tên khùng này đáng lẽ nên lưu giữ tất cả mấy thứ này trong máy tính! Anh buột miệng thốt ra, khom người trên các tài liệu đó để chụp ảnh. Ông ta có thể là một nhà tạo cảnh tài giỏi, nhưng vì mải miết chúi đầu chúi mũi trong mấy đống giấy tờ và bò lên bò xuống trong các khu vườn nên bị thiên hạ bỏ rơi, tội nghiệp ông bạn này quá!

Kathrin đáp trả lớn giọng, tàn nhẫn, tia nhìn khó chịu:

— Nhưng ông tự cho mình là ai vậy, ông Barett?

Bây giờ anh còn nhớ giây phút đó. Nét mặt bỗng dưng căng ra của Kathrin Strandberg, hai bàn tay co quắp lại trên chiếc cặp xếp bằng cạc-tông màu lục. Giọng nàng trầm đục, gần như giọng đàn ông. Chẳng có gì chung với Cô gái quàng khăn đỏ dịu dàng ở Stockholm cả. Như thể xâm phạm đến Costello là anh đã gây ra một phản vệ miễn dịch nơi nàng. Chính xác vào lúc đó, anh có cảm giác là nàng đã yêu người đàn ông ấy. Ít ra là yêu vụng trộm.

— Bà Strandberg, có hãng taxi vừa gọi về việc bà. Họ hỏi không biết bà xác nhận giờ hẹn xe phải đến đón bà không.

Kathrin giật mình.

— Ơ… vâng. Nửa giờ nữa, cảm ơn bà! - Nàng nói lắp bắp.

Blandine Costello đã đến vào lúc xấu nhất. Bà ta đã quan sát bọn anh từ bao lâu rồi? Bà có nghe những lời anh nói về chồng mình không?

— Bà Costello, cảm ơn nhiều, - Kathrin lặp lại. Chúng tôi chưa xong hoàn toàn.

Bà chủ nhà vừa mới quay lưng thì Kathrin rút điện thoại di động từ túi cầm tay ra. Một cái Nokia đời mới nhất với máy quay vidéo và máy chụp ảnh số có tám “mégapixels”.

— Mỗi chúng ta đều chụp cho riêng mình chứ? - Nàng hỏi, bồn chồn. - Làm như thế, nếu một trong hai chúng ta quên hay mất một tư liệu thì…

Bốn mươi lăm phút sau, nàng đã tải lên điện thoại của mình những ảnh chụp các bình đồ và các ghi chú của Costello trải trên bàn. Sau đó, nhờ anh giúp một tay, nàng sắp chúng lại trong các cặp xếp trước khi đặt tất cả vào chỗ cũ. Các câu chào từ biệt bà Costello thì lịch sự, không hơn. Kathrin quên cái túi xách ở phòng khách. Khi nàng quay lại tìm nó, anh thấy nàng đi vòng để tránh đi sát cái bình đựng tro hỏa táng.

Trong chiếc taxi đưa bọn anh ra nhà ga, Kathrin không hé miệng một lời. Anh không dám hỏi tại sao nàng lại căng thẳng đến thế.

Vừa mới kịp ngồi trên tàu, nàng mở laptop và tải về những bình đồ chứa trong điện thoại di động của nàng. Trên màn hình của anh cũng thế, những bản vẽ của Costello hiện ra, cái này tiếp cái kia, sắc nét hơn những cái của nàng, tất nhiên rồi. Bọn anh bắt đầu nhấp chuột, “zoomer”[14], và sắp xếp. Sự hiện diện của con số vàng trong tác phẩm của Le Nôtre đánh dấu sự hoàn thiện của ông. Được thôi. Thế nhưng, cái mà chính anh đi tìm, cái ám ảnh anh suốt, lại chính là sự khiếm khuyết. Cái khuyết điểm khó nhận biết, cái “bug”[15] cực nhỏ đưa một điểm yếu vào trong một kiến trúc lý tưởng. Quỷ sứ, em biết rồi mà, thường giấu mình trong các chi tiết. Anh không ngừng nói đi, nói lại điều này. Vả lại, đó là một trong những lý do khiến anh đã chọn Puttman để kế nhiệm anh. Một kẻ ám ảnh với chi tiết.

Anh đã bắt đầu ngủ gà ngủ gật, thấy chán tìm uổng công cái điểm yếu trong tất cả các bình đồ này, các bản vẽ này, các ghi chép đo đạc này khi anh cảm thấy bàn tay của Kathrin đặt lên cánh tay anh.

— Dan, ông muốn xem những anh trí thức Pháp tầm thường biết làm gì không?

Anh làm như không biết đến giọng điệu nhạo báng trong câu nói, và quay nhìn màn hình của nàng. Nàng đã cho hiện lên một tấm ảnh lãnh địa Versailles và chỉ vào nó bằng con trỏ.

— Ông thấy gì?

— Hầu như không, chất lượng hình thế này thì… Nói đúng hơn, tôi thấy: bể nước Latone, nhìn từ các cầu thang.

— Ông không biết các bể nước Lézards thật sao? - Kathrin hỏi, dùng ngón tay chỉ hình vẽ hai bể nước này trên màn hình.

— Biết chứ, dĩ nhiên rồi. Chúng là một phần của khoảng vườn trồng cây cảnh Latone.

— Chúng không gây sốc cho ông à?

— Không. Tôi không thấy. Cả hai đều đối xứng một cách hoàn hảo…

— Đối xứng, chính thế đó Dan! Bản vẽ chỉ ra như vậy. Nhưng ta hãy nhìn cái ghi chú của Costello này! Hai bể nước song sinh? Dấu hỏi. Tất cả vấn đề nằm ở đó cả!

— Rồi sao nữa? Tại sao có dấu hỏi này?

— Dan, tôi giải thích cho ông đây. Theo Costello, không thể nào mà Le Nôtre đã sắp đặt hai bể nước theo kiểu này, không thể nào ông ấy lại muốn sự đối xứng như phản chiếu trước gương được.

— Thế à?

Anh sốt ruột. Tốt hơn cô ấy nên đi vào cụ thể cho rồi. Anh ghét, em biết rồi mà, việc mấy người đối thoại với anh ưa câu giờ, kéo dài sự chờ đợi hồi hộp nhằm tăng thẩm quyền của mình. Kathrin mỉm cười.

— Ông đừng bực mình, tôi sắp giải thích đây.

Nàng lại ngừng nữa. Anh thấy muốn bóp cổ nàng. Chỉ là một cách nói thôi, vì ngay khi có ý chụp cái cổ xinh đẹp của nàng trong hai bàn tay thì lòng ham muốn lại nổi lên. Anh đưa mắt quay sang nhìn phong cảnh nối tiếp nhau bên cửa sổ.

— Để tạo ra cái đẹp, Le Nôtre đã dùng đến sự đối xứng – nhưng theo nghĩa nguồn gốc của từ này, tức là “sự tương đồng” giữa các bộ phận chứ không phải “sự đồng nhất” của chúng. Như vậy khi nghĩ ra phần phía Nam của các ngôi vườn, ông đã không vẽ nó một cách song song chính xác với phần phía Bắc; ông đã vẽ những đường xiên mà ông sửa chữa lại và làm tỏa ra xung quanh bể nước Mirroir. Nhờ thế mà ông tránh được vẻ đơn điệu của sự đối xứng hai bên chặt chẽ.

Kathrin bây giờ cho hiện lên màn hình bản đồ Versailles hiện nay, và dùng ngón trỏ chỉ ra những vị trí các thành phần. Nàng thuộc nằm lòng tấm bản đồ.

— Ông cũng làm như thế khi vẽ Grand Canal vào năm 1668, ông tạo ra những cái đối xứng nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Những cái đối xứng chỉ là những hiệu ứng thị giác mà thôi. Hai cái bể nước nằm ở hai đầu Grand Canal và tương đương nhau khi được nhìn từ Grande Terrasse, trong thực tế thì không cùng kích cỡ chút nào. Nếu mà đúng là như thế thì theo phép viễn cảnh, cái bể nước thứ hai, tên là de Gailly, cái bể nước xa nhất đó, sẽ bị dồn nén lại, trông nhỏ hơn. Le Nôtre không đi tìm cái đẹp qua sự đối xứng như phản chiếu trước gương, như là sinh đôi. Cái đó đã là một đặc trưng của nghệ thuật thế kỷ trước. Le Nôtre, phần ông, đã đi sang giai đoạn tiếp theo rồi.

Kathrin ngừng nói, có lẽ chờ anh lên tiếng khen ngợi nàng về lập luận minh chứng của mình.

— Rồi sao nữa, Kathrin, cô kết luận thế nào?

— Nhưng, Dan này, đơn giản thôi mà! Các bể nước Lézards, quá giống như sinh đôi, quá đồng nhất đó, Le Nôtre không thể nào muốn chúng như thế, từ khởi thủy. Costello có ý nói rằng chúng không xuất hiện trong các bản vẽ ban đầu.

— Nhưng tại sao chúng có lẽ được thêm vào?

— Câu hỏi hay lắm. Tại sao chúng được thêm vào? Hay nói cho đúng, cái gì đáng lẽ phải xuất hiện ở chỗ của chúng?

Kathrin khơi dậy anh. Bọn anh ngồi quá gần nhau trong khoang tàu TGV đến nỗi anh cảm thấy hơi ấm từ người nàng bên cạnh anh. Khi di chuyển ở châu Âu bằng tàu lửa thì thường thường anh thấy hành khách ngồi sát nhau quá. Nhưng sự chật chội đôi khi cũng có lợi.

Kathrin lại cúi mặt xuống bản vẽ lần nữa.

— Dan, nhìn này, có cái khác đây. Latone. Thấy không? Như ông biết, bể nước Latone là thành phần trung tâm của toàn bộ sự bố trí. Khuôn hình có tính quyết định. Chính từ nó mà các khuôn hình khác liên kết với nhau, cái này đáp lại cái kia. Từ ban đầu, pho tượng Latone, ngay giữa bể nước, thì nhìn về phía lâu đài và đặt ngang mặt đất. Rồi nhà vua quyết định đưa nó cao lên và nhìn về phía Apollon. Không một lời giải thích nào được đưa ra lúc đó. Những kẻ xấu miệng nói là vào giai đoạn mà Latone được nghĩ ra, năm 1668, nhà điêu khắc Gaspard Marsy đã dùng Phu nhân de Montespan, một sắc đẹp vẹn toàn, làm người mẫu. Phu nhân này là nhân tình của vua Louis XIV đó.

— Thế mà vào năm 1683 nhà vua lại cưới Phu nhân de Maintenon khô khan làm vợ.

— Chính xác! Nhà vua không muốn cái công viên gợi lại những hành vi ngông cuồng đã qua của mình… Hãy đem giấu bộ ngực gợi cảm này đi, ta không thể nhìn! Tóm lại, Latone bị phạt quay mặt vào tường.

— Và Le Nôtre không phản đối sao?

— Không, Le Nôtre cũng chẳng hơn gì Gaspard Marsy. Nhưng sau đó thì luôn luôn có một sự nhập nhằng về tư thế lý tưởng cho bà vợ của Jupiter này. Đến mức mà cách đây hai mươi năm, khi các quản đốc nhà bảo tàng ở Versailles quyết định thay pho tượng gốc bằng một bản sao bằng nhựa, các kỹ thuật viên đã làm sai: họ đã quay pho tượng về phía lâu đài, chứ không còn về phía Apollon như đã từng trong hơn ba thế kỷ! Nó bị đặt sai hướng như thế cả hai ngày!

— Làm sao cô biết chuyện này?

— Một người làm vườn kể nó cho Costello nghe. Người làm vườn đó đã nhận ra trúng ngay cái “bug”.

— Tốt lắm, rồi sao nữa? Cô muốn đi đến đâu?

— Được thôi, ta có thể tự hỏi tư thế thực sự của Latone là gì, cái mà Le Nôtre muốn đó. Cái mà ông hình dung ra ngay từ lúc đầu. Quay về phía lâu đài? Hay về phía Apollon? Ông hãy nhìn Costello viết cái gì đây này: “Nhưng nếu không phải hướng này, cũng chẳng phải hướng kia thì sao?”

Anh giữ im lặng vài giây lát. Trước khi trở lại những nỗi ám ảnh của anh.

— Nhưng đâu là mối liên hệ với tư thế của Apollon? Hay với Thượng đế?

— Dan, kiên nhẫn nào! Vả chăng, ông không thấy lạ lùng sao? Những Lezards đối xứng. Latone bị xoay ngược lại, đối diện với Apollon và quay lưng với khách thăm viếng. Apollon, về phần mình, thì quay mặt về phía lâu đài, trái ngược với tư thế lô-gích của nó. Đấy, chúng ta có ba cái “bug” này, như ông nói, ba sự phản bội lại lý tưởng của Le Nôtre. Làm sao mà không hình dung ra mối tương quan giữa ba cái này?

— Không có gì chứng minh nó cả!

— Dù sao đi nữa, Costello đã tin như vậy! Và cái điều còn gây ra lo ngại hơn nữa, đó là…

Kathrin chỉ ngón trỏ lên màn hình, kiểu cách như một ông thầy. Vẻ đắc ý của nàng khiến anh phát bực. Nhưng đôi môi và ánh mắt long lanh cuốn hút anh.

—… Đó là chuyện ba khuôn hình mà chúng ta đang bàn, ba cái đại diện cho sự bất thường, ba cái này được đặt trên cùng một trục, từ hai phía của Tapis vert. Đừng tìm kiếm chỗ khác vô ích: nếu công thức về sự hiện hữu của Thượng đế được ghi khắc đâu đó, chính là đây này. Phải lục lọi ở đây. Trên trục trung tâm của các ngôi vườn. Trục hoàng gia.

❀ ❀ ❀

[1] (1908-1989): nhạc trưởng danh tiếng người Áo, được phong làm nhạc trưởng trọn đời của Dàn nhạc giao hưởng Berlin (Đức) mà ông điều khiển từ năm 1954 cho đến khi qua đời.

[2] Thuộc Tây Ban Nha hay các nước Châu Mỹ la-tinh nói tiếng Tây Ban Nha.

[3] Antonio Vivaldi (1678-1741), linh mục, nhà soạn nhạc người Ý; một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là bản “Bốn mùa”.

[4] Viết tắt của Train à Grande Vitesse: tàu cao tốc.

[5] Toutankhamon, vua Ai Cập cổ (pharaon) thuộc triều đại thứ XVIII (khoảng 1354-1346 trước Công nguyên), chết lúc mười tám tuổi. Ngôi mộ tráng lệ của ông nằm ở Thung lũng các vì Vua (la Vallée des Rois) được khám phá vào năm 1922.

[6] Pigeonnier: chuồng nuôi chim bồ câu. Ở đây chỉ căn phòng nhỏ và nằm trên cao.

[7] (1926-1962): nữ diễn viên điện ảnh Mỹ, nổi tiếng về sắc đẹp gợi tình trong những năm 1950.

[8] Hugh Grant và George Clooney là hai nam diễn viên điện ảnh ăn khách ở Hollywood.

[9] Còn gọi là tỉ số vàng hay tỉ lệ vàng.

[10] “Toise” là đơn vị đo chiều dài của Pháp ngày xưa, bằng 1,949 mét, viết tắt là tz.

[11] Combinazione: tiếng Ý, có nghĩa sử dụng các phương tiện, các thủ đoạn mờ ám để đạt mục đích, như “đi cửa sau”, “móc ngoặc”, mua chuộc hay bạo lực… Tác giả cố ý dùng từ Ý này ở đây vì nước Ý có tiếng giỏi sử dụng “combinazione”, không riêng gì trong lãnh vực chính trị mà lan tràn trong nhiều hoạt động khác của xã hội.

[12] Nhà bác học và nhà văn người Ý, tên đầy đủ là Galileo Galilei (1564-1642), nổi tiếng trong lịch sử là đã bị Tòa án dị giáo (L’Inquisition) của Giáo hội Thiên chúa giáo, năm 1633, kết án và bị ép phủ nhận lý thuyết nhật tâm do nhà bác học Ba Lan Nicholas Copernic khởi xướng. Ông chỉ được Giáo hội đó phục hồi danh dự hơn 4 thế kỷ sau, vào năm 1992.

[13] René Descartes (1596-1650), triết gia, nhà toán và vật lý học Pháp danh tiếng.

[14] Làm cho kích thước của vật được chụp hay quay hiện lên to hơn/nhỏ hơn trên màn hình máy tính.

[15] Trong ngôn ngữ tin học, có nghĩa là con rệp được cài đặt hay chỗ hỏng hóc trong máy tính.

hà băng, quản lý các cổ phần đầu tư của mình bằng Internet, sưu tầm các phao cứu đắm và những cuộc đi chơi xa ở công viên quốc gia Yosemite, và đôi khi… Tất nhiên họ vẫn xuất hiện như một cặp đôi mỗi khi có thể. Nhưng chỉ mỗi khi có thể thô
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Christine Kerdellant - Éric Meyer

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.