Ngày trước…
Cô quản đốc viện bảo tàng quốc gia Stockholm chấp nhận tiếp anh một cách dễ dàng. Khi mà ta mang tên Dan Barett… Anh hầu như không nói gì với nàng trong điện thoại. Chỉ ngắn gọn là anh quan tâm đến André Le Nôtre. Anh rất muốn xem các bình đồ và các bản phác thảo mà viện bảo tàng đang sở hữu. Dấu chấm gạch. Nàng hỏi ngay tức khắc: “Chắc là không phải để mua?” Một lần nữa, tên tuổi của anh đã đến trước anh. Anh làm nàng yên tâm: “Tôi chỉ mua những gì được đem ra bán.” Cuộc nói chuyện tiếp theo đó thì dễ chịu hơn. Nghe giọng khàn khàn của nàng khiến anh hình dung nàng là một loại phụ nữ giống Angela Merkel[1] nhưng trẻ hơn, khô khan và tinh thông công việc mình. Người ta đều đặn tìm thấy kiểu người với nét đặc thù trên nắm giữ những chức vụ mang trách nhiệm cao trong các nước Bắc Âu. Nhưng Kathrin Strandberg chẳng có gì giống thế cả.
Trước khi đi anh đã sai người sửa soạn cho anh một phiếu lý lịch về nàng. Ngay vào thời điểm đó mà anh đã sở hữu hơn mười ngàn phiếu rồi. Vâng, anh biết, em thường trách anh về sự “thẩm tra” này trong đời sống của người ta. Nhưng anh có sự chọn lựa nào không? Trước người đối thoại hay đối tác biết tất tần tật về anh – hay tất cả những gì mà giới truyền thông nói ra, nghĩa là, thường là nhiều hơn những gì tự anh nói ra – đó là phương tiện duy nhất để mình vươn lên cùng mức độ thông tin với họ. Em còn nhớ cái ngày mà anh gặp bố em lần đầu tiên ở New York không?
Khi anh nhắc đến những năm ông làm việc bên cạnh Richard Nixon[2], anh đã tin rằng em sắp sửa nổi khùng. Em hét lên: “Vậy thì anh và bố em sẽ nói chuyện gì hả, nếu như anh biết ráo về bố em?” Anh trả lời em: “Nói về con người ông ấy! Không phải thú vị hơn sao?” Anh còn nhớ cái im lặng kéo dài tiếp theo.
“Với cái máy tính, em nói với anh rất lâu sau đó, ta có thể biết tất cả về người ta, ngoại trừ những gì nằm trong tim họ.”
Những phiếu đó còn có ích hơn cho anh đối với một người mà anh đã gặp. Như thế anh có thể khen ngợi người đó về bài báo mà ông (hay bà ta) đã đăng sáu tháng trước trên báo The New York Times, dù anh không đọc nó chút nào… Khi anh khởi đầu cái chuyện làm phiếu này, công việc cập nhật hóa hệ thống phiếu hồi đó thì còn chán ngắt lắm. Ngày nay, anh chỉ cần ghi lại vài câu nói trên máy điện thoại hay trên mảnh che tai Wifi của mình khi anh ra khỏi một cuộc hẹn. Các dữ liệu được truyền đi bằng Internet và tập tin này tự cập nhật hóa lấy.
Lúc đó là giữa tháng giêng và trời tuyết khi chiếc máy bay 747 của hãng American Airlines đáp xuống phi trường Stockholm. Đoạn đường về thành phố trông có vẻ tẻ nhạt đối với anh. Dưới một tấm ga trắng thì tất cả thành phố châu Âu đều giống nhau. Chẳng có gì đáng để ý. Người ta đến đây để làm việc. Taxi, phi trường, khách sạn, em biết quá cái điệp khúc này mà.
Quản đốc viện bảo tàng đến chờ anh ở phi trường. Khi vừa thấy nàng anh nhận ra là cái hệ thống phiếu của mình không được hoàn hảo cho lắm. Dĩ nhiên, anh không phải không biết về các văn bằng của nàng (lịch sử nghệ thuật, điều hành dịch vụ công), về sự nghiệp của nàng (thành công của một viện bảo tàng công nghệ cao dành cho thiếu nhi mà nàng tạo dựng ra từ con số không, ở một thành phố miền Bắc, khiến nàng sau đó nhận được trọng trách danh giá ở viện bảo tàng thủ đô.), về cuộc sống riêng tư của nàng: ba mươi ba tuổi, ly dị, không con. Thế nhưng, vì không có ảnh nên tấm phiếu lý lịch bỏ qua điều căn bản này: Kathrin Strandberg là một bức tranh tiêu biểu của phụ nữ Thụy Điển. Cao lớn, tóc vàng, nhưng thôi, anh bỏ qua những chi tiết. Nhất là cái cổ nàng, nó dài mà những lọn tóc ngắn và quăn để lộ ra. Một thiên thần miền Bắc Âu.
Đi kèm bên nàng là cô phụ tá nhỏ nhắn, tóc hung theo kiểu Anh, bàn tay tròn trĩnh mềm nhũn như bột nặn khi anh bắt tay cô ta.
— Tôi đã dự định dành cho ông một ngày, ông Barett ạ, - Kathrin nói ngay tức khắc, giọng trầm đục tuyệt vời khiến anh nhớ tới giọng của một cô ca sĩ người Ý.
Tiếng Anh của nàng thì hoàn hảo. Nàng cũng lịch sự lắm: tránh nói cho anh biết là vào mùa đông, viện bảo tàng điều chỉnh giờ hoạt động theo mặt trời. 15 giờ thì nó đóng cửa.
— Cô thật đáng mến… nhưng vài tiếng đồng hồ chắc đủ rồi chứ? Tôi có chuyến bay về lại Mỹ chiều nay, lúc 17 giờ.
— Nếu ông muốn xem tất cả thì cần cả một ngày đấy, - nàng nhấn mạnh với nụ cười mạnh dạn.
Lúc đó là 9 giờ sáng. Anh muốn tham khảo các tài liệu rồi quay lại Boston ngay. Vâng, anh biết điều mà em hình dung: ở qua đêm tại chỗ với một người tiếp đãi tương tự thì vui biết bao. Nhưng điều này đã không được dự tính, dấu chấm hết.
Bọn anh đã đi xuyên thành phố để đến thẳng viện bảo tàng, nó đóng cửa đặc biệt đối với công chúng trong hai giờ để anh có thể vào mà không ai nhận ra. Hiệu ứng Barett, một lần nữa đó mà… Bạn anh, Brad Pitt[3], người mê chuộng Van Gogh, thường khiến người ta mở cửa viện bảo tàng Amsterdam để cho bạn bè mình vào xem. Những kẻ cứ mở miệng than phiền về sự nổi tiếng của mình đều là bọn không ngửi nổi, phải không em?
Kathrin Strandberg đưa anh đến phòng nghệ thuật họa hình. Một căn phòng dài theo kiểu xưa với các cửa sổ lớn bằng kính, và những cái bàn lớn hình chữ nhật đặt gần chúng. Tài liệu lưu trữ thì chất đầy trong những ngăn kéo và những thùng to bằng nhựa dẻo. Anh sửng sốt: không có cái gì được số hóa ở đây. Người đến nghiên cứu, một khi được xác nhận hợp lệ, thì tham khảo những bản in được tập hợp trong các cặp đựng hồ sơ. Khi nhận ra số hiệu mà mình quan tâm thì anh ta điền vào một phiếu đưa cho người phụ trách lưu trữ, rồi người này đi tìm bản vẽ nguyên gốc ở các giá sách.
May thay, Kathrin đã sửa soạn chu đáo cho anh. Cô phụ tá đã nhanh chóng mang đến một nửa tá cặp đựng tài liệu và thùng nhựa dẻo lớn, tất cả đều chứa đựng những bản vẽ được quy là của Le Nôtre. Rồi để kiểm tra là anh có ý thức rõ ràng về sự ưu đãi dành riêng cho anh cũng như những báu vật đưa ra cho anh xem, nàng nhắc lại là trên thế giới chỉ có khoảng hai chục bức do chính tay Le Nôtre hoàn toàn vẽ ra; khoảng bốn chục bức khác, thực hiện cùng với những người phụ tá và do ông ghi chú; và khoảng một trăm bản sao, được làm ra xung quanh thời kỳ đó.
— Ông mang vào đi, bắt buộc đấy, - nàng vừa nói vừa đưa cho anh đôi bao tay trắng bằng cao su rất mỏng.
Anh thấy các ngón tay xinh xắn của nàng biến đi trong tiếng lạo xạo của chất nhựa dẻo. Kathrin mở cái hộp một cách thận trọng.
— Các bản vẽ không bao giờ được triển lãm thường trực, - nàng giải thích khi lấy ra tấm thứ nhất. - Ba hay bốn lần mỗi thế kỷ là nhiều nhất.
Rất nhẹ nhàng từng cái một, như thể cầm những đồ sứ quý hiếm, nàng lấy ra từ mấy cái cặp những bản vẽ rồi đặt chúng nằm, trước mặt anh, trên một cái bàn lớn nhận ánh sáng trắng từ hai cái đèn. Phần lớn những tác phẩm này đều được các lớp lót khung viền quanh. Kathrin bình luận về chúng một cách hớn hở. Nếu Stockholm phong phú về bản vẽ của Le Nôtre như thế, chính vì ba thế kỷ trước một kiến trúc sư Thụy Điển trẻ đã đến rèn luyện tay nghề ở triều đình nước Pháp. Ông ta tên Carl, và như de Claverie đã nói với anh, ông ta đã có thể mang về nước mình nhiều bản vẽ nguyên gốc của bậc thầy đó.
Đa số là các bản vẽ về thác nước dành cho những lâu đài hoàng gia: ở Sceaux, Saint-Germain… cũng như ở Vaux-le-Vicomte mà Kathrin đưa cho anh xem sự thể hiện tuyệt đẹp, một bức vẽ lớn nhất được biết đến của Le Nôtre. Dài một mét ba mươi, rộng bảy mươi centimét. Anh cũng khâm phục bản phác thảo bể nước dành cho Jupiter, thần của các vị thần, cha của Apollon, một bể nước không bao giờ hiện hữu trong các ngôi vườn ở Versailles, theo sự hiểu biết của anh. Em thử hình dung xem, Jupiter là thần Sấm Sét mà! Louis XIV sẽ không chịu đựng nổi cảnh tên địch thủ này có mặt trên đất của ngài!
Anh khâm phục những tác phẩm này giống như người ta khâm phục một bức tranh xưa hay một pho tượng Ai Cập, vì sự xúc động chúng gây ra nhiều hơn là vì cái đẹp nội tại của chúng, và vì chúng làm ký ức hiện lên về những con người đã lao động thực hiện chúng. Những đồ vật xưa cũ làm sống lại những con người, em không tin sao?
Kathrin tỏ vẻ mê mẩn trước các bản vẽ mà nàng lần lượt trải ra trước mặt anh. Nàng biết rõ kỹ thuật của Le Nôtre và nói về ông giống như một kẻ ái mộ nói về thần tượng của mình.
— Đây này, dự án cho thác nước ở Marly đó! Ông có thấy bằng cách nào ông ấy thể hiện trên mặt phẳng cái chiều thứ ba không? Bằng cách nào ông sử dụng bóng của những cây cổ thụ, của những hàng rào bằng cây xanh, của những tia nước phụt ra không? Tuyệt đẹp phải không?
Kathrin lưu ý anh là người ta vẫn không biết được những bản vẽ này dành cho lãnh địa nào. Vài dự án mà nhà tạo vườn cảnh này đã không thực hiện ở Versailles – đôi khi ngược lại với ý nguyện của mình, để tuân theo những ham muốn hay bị thay đổi của vua Louis XIV – có thể đã được đề nghị đến các nơi khác.
— Ông ấy làm thế để khấu hao công sức đầu tư của mình hay sao? - Anh hỏi.
— Chính xác hơn là do đầu óc trả thù, nếu ông muốn nghe ý tôi. Để chỉ ra rằng một dự án của ông đã bị gạt ra một cách bất công… Để bày tỏ với Louis XIV điều gì tương tự như thế này: “Tâu bệ hạ, bệ hạ đã không muốn nó, nhưng bệ hạ hãy nhìn xem nó đẹp làm sao ở chỗ người khác.”
Sau này, rất lâu sau này, anh sẽ nhớ lại những lời này của Kathrin Strandberg. Nàng là người đầu tiên gợi ra ý tưởng là có thể có một sự trả thù của ông Le Nôtre tài giỏi này đối với ông bạn vàng của mình, là nhà vua.
Một khi bản vẽ cuối cùng đặt lên mặt bàn, Kathrin vòng tay trước ngực rồi quay về phía anh, tươi cười.
— Ông Barett, xong rồi đấy, thật tuyệt vời phải không?
Nàng thấy anh cười gượng, biết là anh không chia sẻ nhiệt tình của nàng. Anh hơi bị thất vọng, chắc em cảm thấy điều đó nơi anh. Viện bảo tàng này không sở hữu một bản vẽ nhỏ nhất nào liên quan đến Apollon.
— Ông Barett này, ông tìm chính xác cái gì ở Viện bảo tàng quốc gia? - Nàng vừa hỏi vừa xếp lại một cách thận trọng tấm bình đồ dành cho lãnh địa Vaux-le-Vicomte.
Anh thấy mình không còn lý do gì để giấu nàng lâu hơn nữa mục tiêu thực sự của chuyến đi này.
— Nói thực tình… những bản vẽ chuẩn bị cho bể nước Apollon.
— Ông muốn nói đến những bức tượng của Tuby hay chính cái bể nước?
— Cả hai…
— Không lẽ ông lại quan tâm đến cái…
— Tư thế của Apollon, chính thế, nếu…
Nàng bật cười.
— Đáng lẽ ông nên nói ngay chuyện này với tôi! Chính chuyện này làm ông bận tâm, bận trí từ đầu à?! Thế thì ông không phải là người đầu tiên đâu. Ông đến đây, tôi sẽ chỉ cho ông cái này.
Nàng tiến vài bước về phía giá sách nằm cách đó vài thước, đưa tay lấy xuống một quyển cỡ lớn, lâu đài Versailles được thể hiện ở trang bìa. Chỉ cần vài giây là nàng đã có được cái mình tìm: một bản vẽ đen trắng thể hiện nhóm tượng điêu khắc Mặt trời mọc với Apollon ở chính giữa. Bên dưới, một tấm ảnh của chính công trình điêu khắc này ở trong bể nước của nó. Trên bản vẽ, nhóm tượng gồm Apollon, ngựa, cỗ xe có vẻ chắc nịch hơn là trên tấm ảnh.
— Cái này, - nàng nói, - là bản vẽ nguyên gốc của Le Brun[4]. Và cái kia, trên tấm ảnh, là tác phẩm điêu khắc của Tuby. Ông Barett, nhìn đây này, nhà điêu khắc đã sáng tạo tuyệt vời biết bao! Ông ta đã thêm vào bản vẽ nguyên thủy những yếu tố mới mà không bóp méo nó bao giờ. Ông đã đặt một Amour[5] ở dưới chân Apollon và xung quanh chàng, trong bể nước, thì đặt những thần biển đầu người đuôi cá và cá voi!
Kathrin tỏ ra hớn hở thêm một lần nữa. Về phần mình, anh đã xem xét bức vẽ nhưng vô ích, anh chẳng thấy dấu hiệu gì để anh có thể xác định là những bức tượng này được nghĩ ra để nhìn về hướng lâu đài hay ngược lại, về hướng đồng quê. Và cũng chẳng có hậu cảnh. Kathrin quan sát anh.
— Nếu ông đoán được hướng đi của cỗ xe từ bản vẽ này, thì ông cừ lắm… và ông sẽ thấy những cái mà không ai thấy bao giờ! Nhưng ông Barett, quả thật, ông là một người nhìn xa trông rộng mà!
Nàng hơi nói mỉa, tuy nhẹ nhàng nhưng làm anh khó chịu. Nàng đã lợi dụng sự hiểu biết tinh tường của mình về đề tài này. Và giống như mọi người đàn bà đẹp, và biết mình đẹp, nàng tưởng mình có thể muốn nói gì thì nói. Anh hiểu là anh chẳng thể biết thêm gì nữa và quyết định chấm dứt câu chuyện.
— Bà Strandberg, tôi xin cảm ơn bà đã đón tiếp. Tôi không muốn làm phiền bà lâu hơn. Hai giờ nữa tôi phải lên máy bay. Bà có thể gọi taxi cho tôi không?
Kathrin liếc nhìn đồng hồ ở cổ tay.
— Ông Barett này, ông sẽ không đi bây giờ đâu! Tôi chẳng biết có cái gì chán ngắt hơn là ngồi chờ ở phi trường. Ngay cả ngồi trong phòng đợi hạng VIP. Tôi sẽ gọi taxi trong nửa giờ nữa. Không sợ kẹt xe ở Stockholm hiện nay đâu. Ông đồng ý đi ra ngoài uống cà phê không? Có một quán dễ thương nằm ở con đường bên cạnh đây.
Nàng tỏ ra ung dung, thoải mái với anh, khiến anh ngạc nhiên. Thường thường thì người ta tỏ ra rụt rè hay cung kính đối với anh. Nhưng anh thực sự không kịp phản ứng; nàng đã quấn khăn quàng cổ của mình vào vai anh và khoác vào người áo veste nhồi lông màu đỏ to sụ. Nàng chỉ hướng ra. Một niềm vui trẻ con, tinh nghịch lóe sáng trong đôi mắt trong của nàng. Nàng giống một Cô bé quàng khăn đỏ đã lớn lên rồi. Dù biết, một cách vô ích, là cuối cùng anh sẽ bỏ nàng lại một giờ sau đó, anh bỗng dưng thấy rất muốn đi theo nàng.
— Đó là một quán cà phê văn học. Cách đây năm trăm thước. Ông sẽ thấy, không khí quán rất dễ chịu.
Trời lạnh không độ bên ngoài, và vừa bước vào quán thì hơi nóng bên trong tạo cho anh cảm giác như vừa uống một ly bia ngay giữa mùa hè khi bụng còn trống. Lạ lùng thật.
Kathrin ngồi dưới những kệ sách, trong một căn phòng cũ kỹ với những bức tường phủ đầy sách và ảnh chụp được các nhà văn lớn đề tặng. Trông nàng thật quyến rũ. Anh đã đọc trên tấm phiếu lý lịch là luận án tiến sĩ của nàng bàn về những nhân vật trong các truyện dân gian của Grimm[6]. Anh nhắm vào đề tài này để mở đầu câu chuyện. Anh để nàng nói dài dòng về lý thuyết của nàng – mà anh chẳng giữ lại trong đầu cái gì hết, nếu không phải là sự chuyển động của đôi môi nàng – những con sóng nhỏ, chậm và tham lam. Rồi anh cắt ngang một cách thô bạo, nói rằng chuyên môn của riêng anh, chính xác là để phá bỏ những câu chuyện đẹp đẽ này. Vài năm trước đây một trong những trò chơi tại nhà vào buổi tối với Kevin mà anh thích nhất, là tìm ra những ngón nghề kỹ thuật để làm các truyện thần tiên trở nên lỗi thời. Ta trang bị cho, ví dụ như, cậu bé Petit Poucet[7] một cái GPS[8] để cậu ta tìm ra lại đường đi, hay bảy chú lùn một cái laptop để báo tin kịp thời cho anh hoàng tử đẹp trai…
— Nhưng tại sao ông lại quan tâm đến Versailles nhiều thế? - Nàng đáp trả đột ngột, với ý tưởng đã cân nhắc trước là để đổi đề tài câu chuyện.
Anh không có thì giờ cũng không có ý muốn giải thích tất cả cho nàng. Tuy vậy, anh cũng nhắc đến Bertrand Leroux một cách ngắn gọn, đến lý thuyết của anh ta về lâu đài được “phục dựng” và những lạc đà nổi tiếng. Ngay khi anh nói ra từ này, bằng tiếng Pháp, nàng giật nẩy mình. Nàng biết anh nói gì.
— Cô biết lạc đà là gì chứ?
Nàng ngồi lùi lại trên ghế, lộ vẻ bối rối.
— Vâng, chắc chắn…
— Ở Versailles? Cô đến đó rồi à?
— Vâng, hai lần. Lần đầu, khi tôi còn sinh viên… Lần hai, cách đây khoảng hai năm, dự một hội nghị.
— Và ai đã nói với cô về những cái bất thường ở công viên?
Nàng cắn môi và hạ ánh mắt xuống. Nàng biết về chúng nhiều hơn là muốn nói ra.
— Tôi đã gặp một… kiến trúc sư cảnh quan. Người Pháp. Say mê môn lịch sử. Hơn nữa, một người đàn ông lý thú lắm. Ông đã cho đăng một nghiên cứu dài hơi về những ngôi vườn trên một tạp chí chuyên môn của những nghệ nhân cảnh quan.
— Rồi sao nữa? Ông ta bảo vệ quan điểm gì?
Kathrin gạt câu hỏi anh ra bằng cái khoát tay. “Chẳng quan trọng gì. Thôi, đổi đề tài đi”, nàng có vẻ nói thế.
Nàng đã nói quá nhiều về chuyện này, hay nói không đủ. Tại sao nàng lại nhắc đến nhân vật này? Tại sao nàng tỏ ra luyến tiếc ông ta? Nàng biết ông ta nhiều hơn là nàng quả quyết? Vì một lý do khó có thể bày tỏ?
— Ông ta đã kể cho cô chuyện gì, nói tôi nghe nào? - Anh tiếp tục bằng cách làm như không thấy vẻ bối rối của quản đốc viện bảo tàng.
— Ôi, chẳng có gì cả. Ông ấy hơi… đặc biệt. Biến tất cả những chuyên gia về Versailles thành kẻ thù.
Một nhà nghiên cứu không giống ai. Bị khinh ghét bởi giới quyền uy của Versailles. Điều này làm anh nhớ đến cái gì đó.
— Ông ta không học trường Mỹ thuật à?
— Ông muốn nói đến “Monuments historiques”…
Kathrin mỉm cười. Nàng biết là ở Pháp, để được nhận vào hội những chuyên gia về di sản lịch sử, ta cần phải đưa ra danh hiệu kiến trúc sư trưởng của “Monuments historiques”.
— Ông ấy đơn giản chỉ là một nghệ nhân cảnh quan, thực tế là vậy, - nàng tiếp, giọng vẫn còn ngập ngừng. - Ông đã chứng minh được là có một cầu thang hình lục giác đã hiện hữu vào thế kỷ XVII ở mặt tiền phía Bắc của lâu đài. Không ai tin ông cả… Nhưng vài năm sau, người ta tình cờ tìm thấy cái cầu thang đó.
Chuyện cái cầu thang! Anh đã biết mà. Bertrand Leroux, tên nghệ nhân cảnh quan trẻ, đã nói về cái ông này với anh. Thầy của anh ta. Người đã nhận dạng ra mười ba cái lạc đà.
— Tôi biết… cả tôi nữa, tôi cũng đã nghe nói về chuyện này. Nhưng, có quan trọng gì không? Một chuyện cãi cọ giữa các chuyên gia. Về mấy bậc cấp bằng đá thôi mà. Cô biết không, tôi thích những nhà nghiên cứu. Họ, tôi sử dụng hàng trăm người trong công ty Controlware. Nhưng đặc điểm của những người nghiên cứu là bao giờ cũng than phiền mình là thiên tài không được ai hiểu…
— Chắc thế rồi, ông Barett ạ. Nhưng ông này lại vượt khỏi cái thông thường. Đó là một… Einstein[9] của Versailles. Một Christophe Colomb[10] của những ngôi vườn.
— Cô muốn nói gì thế?
Kathrin vừa khuấy chiếc muỗng trong tách trà vừa mỉm cười rụt rè. Anh nhìn nàng, đầu nàng cúi xuống tách trà, chậm chạp đưa mắt lên về phía anh rồi hạ xuống. Cái nhìn của nàng, mờ sương từ hơi nước trà nóng, có vẻ cầu khẩn. Giống hoàn toàn như giọng nói của nàng, một giọng trầm rung vang, ai oán khi nghe. Anh cảm thấy bị cám dỗ. Điều này làm em ngạc nhiên, đừng chối nghe. Đàn bà, từ ngày bọn mình quen biết nhau, không bao giờ làm anh quan tâm lắm. Bọn mình thường nói chuyện về điều này. Quá thường đi chứ. Có những trận đánh khác trong cuộc sống. Dù sao đi nữa, lãnh đạo một công ty như Controlware là một thiên chức, ít còn chỗ dành cho dục vọng. Cho dục vọng của những người khác còn ít hơn là cho dục vọng của anh.
Tên bồi đến gần bàn.
— Bà Strandberg?
— Tôi đây.
— Taxi sẽ đến vài phút nữa.
Anh quan sát quản đốc viện bảo tàng, bây giờ đã lấy lại hoàn toàn vẻ bình tâm khi cảm ơn tên bồi. Và anh, theo bản năng, để người lúc lắc trên ghế, từ trước ra sau. Mẹ anh và các đồng nghiệp đã từng lưu ý anh – trước em nhiều – là khi anh suy nghĩ căng thẳng thì anh có cái phản xạ này mà anh không phải lúc nào cũng ý thức được. Nửa người trên cử động chậm chạp, đu đưa khá xa. Người đàn bà trẻ trước mặt anh có vẻ bối rối. Anh thấy nàng quay ánh mắt sang chỗ khác, đưa tay lấy điện thoại di động và bắt đầu nói chuyện bằng tiếng Thụy Điển.
— Xe taxi ông sắp đến, - Kathrin lặp lại, lần này quay mặt về phía anh. - Ông sẽ đến kịp phi trường. Hôm nay không có nhiều xe cộ lưu thông.
Đúng là nàng tỏ ra dễ thương đã lo chuyện giờ giấc cho anh, nhưng tại sao nàng lại chuyển hướng câu chuyện? Nhà nghiên cứu và nghệ nhân cảnh quan đó đã nói cái gì với nàng? Lão ta thiết lập được một luận cứ về Apollon không? Nàng không thể tiếp tục “dắt anh đi dạo” giữa những lời ám chỉ và những do dự của nàng như thế. Đó không phải là thứ thái độ mà anh chịu đựng lâu được, em biết mà.
— Cô Kathrin, nghe này, tôi chỉ còn vài phút… Tôi biết câu chuyện của lão nghệ nhân vườn cảnh này, nếu điều này có thể làm cô yên tâm, lão ta dành hết thì giờ đo đạc bằng tay những ngôi vườn ở Versailles, bằng cách bò trên đất. Một ngày kia lão kết luận từ việc đo đạc này là có một cầu thang từng hiện hữu gần khu nhà phía Bắc, gần những dãy phòng của hoàng hậu. Các sử gia khinh thường lão ra mặt! Nhưng nhân dịp các nguyên thủ quốc gia đến Versailles dự họp G7, năm 1983, người ta phải đào đắp, sửa sang lại đất đai và tình cờ người ta tìm thấy những dấu vết của cái cầu thang hình lục giác đó…
— Nói thẳng ra, tôi không chắc là cần thiết phải nói đến những luận cứ của ông này, - Kathrin cắt ngang. - Có quá nhiều luận cứ về Versailles được lan truyền, tất cả đều kỳ cục như nhau!
— Cô Kathrin, please[11]… Vấn đề nằm ở đâu?
— Ông nghệ nhân cảnh quan này nói chuyện với tôi với điều kiện là phải giữ bí mật.
— Tôi biết giữ bí mật.
— Tôi cũng vậy. Đó cũng là nguyên tắc của sự bí mật.
— Cô Kathrin ơi, đừng đùa với tôi…
— Ông cho tôi cái gì?
Theo thói quen, anh tính toán trong những trường hợp như thế này. Chỉ để đưa ra một số tiền cho đúng. Nhưng anh giữ lại ý định của mình.
— Không có gì cả. Tội hối lộ công chức. Ở Thụy Điển, người ta lấy bao nhiêu cho việc này?
Nàng mỉm cười.
— Tôi nói trước cho ông biết, tôi không chia sẻ luận cứ của ông ta, tất nhiên. Nó… gây bất ổn định.
— Đủ rồi, cô Kathrin. Nói ra đi!
Kathrin Strandberg chồm người trên bàn về phía anh. Rồi nàng buông ra:
— Nghệ nhân cảnh quan này chẳng có ngông cuồng chút nào. Và ông ấy tin chắc rằng Le Nôtre đã ghi khắc trong các ngôi vườn một công thức toán học về sự hiện hữu của Thượng đế.
Anh giật nẩy người khi nghe đến đây.
— Một công thức toán về…
Nàng không tỏ ra bối rối trước tia nhìn của anh.
— Vâng, ông nghe rõ rồi mà. Một định lý chứng minh Thượng đế hiện hữu.
Anh nghĩ ngợi một chút. Công thức toán học về đấng Sáng thế à? Làm sao hình dung ra được một lão nghệ nhân vườn cảnh Pháp trang bị với một cái thước đo đã có thể khám phá ra một quả bom như thế? Rằng lão ta đã có thể đi xa hơn Pascal[12], Einstein và bao người khác nữa? Ở điểm này, anh thấy Nathan, giám đốc nghiên cứu của anh, Laughing Out Loud[13]. LOL, như hắn nói. Cười chết đi được. “Này Dan, tại sao bạn lại mất thì giờ đi lo mấy chuyện ngớ ngẩn như thế được chứ?! Thôi, đến nhà mình đi! Mình tìm được bí quyết làm món “gratin dauphinois aux truffes”[14]. Cũng do một người Pháp dạy cho. Đối với chuyện ẩm thực thì họ giỏi nhất rồi. Và cái món này, tuyệt vời lắm đó!” Nathan, em còn nhớ không, đã dùng một năm nghỉ nghiên cứu để học hỏi cách làm bếp từ những đầu bếp Pháp lớn. Rồi thử tạo ra một phần mềm từ những bài học này.
Kathrin bây giờ nhìn anh chằm chằm. Nàng ngả người ra đàng sau, nghiêng đầu sang một bên, như thể khuyến khích anh đi theo những ý nghĩ của nàng.
— Tôi biết, cái này có vẻ ngoài sức tưởng tượng. Ông ấy… chính ông ấy đã đến đích. Ông ấy đã bỏ nhiều năm trời bò trong các khu vườn đó. Nhưng ông ấy không tiết lộ cho tôi cái công thức. Thế mà ông cảm thấy rõ là tôi đã cố nài…
Anh hình dung khá rõ, đúng thế, các quân chủ bài mà Kathrin Strandberg đã có thể tung ra nhằm thúc đẩy lão nghiên cứu đó mở miệng nói ra.
— Ông ấy chờ đến lúc có thể chứng minh những gì mình đề xuất một cách không thể phản bác được, trước khi đưa ra những tiết lộ. Ông ấy đã đến gần mục tiêu. Ông ấy đã hứa sẽ gọi lại cho tôi ngay khi có bằng chứng.
Tên bồi xuất hiện ngay khoảnh khắc này để ra dấu cho anh biết là taxi đang đợi trước quán cà phê. Phải đi thôi.
— Kathrin! Cho tôi số di động, nhanh lên! Tôi sẽ gọi lại cô.
Anh bấm số điện thoại của nàng vào máy anh, khoác vội áo mưa và để lại lên bàn chiếc khăn quàng cổ mà nàng cho anh mượn. Anh cũng không bắt tay nàng, anh thề với em đó. Anh nhào vào trong taxi rồi vội vàng gọi cho Kathrin. Sự tiết lộ của nàng đã gợi lên nhiều câu hỏi dồn dập trong đầu anh. Cho dù Le Nôtre muốn ghi khắc trong các khu vườn bằng chứng về sự hiện hữu của Thượng đế đi nữa, thì tại sao không? Xét cho cùng, có dấu hiệu nào tốt hơn dành cho nhà vua về quan hệ huyết thống giữa ngài và Thượng đế không? Có sự thừa nhận nào tốt hơn đối với tạo vật của đấng Sáng thế ở đúng vào thế kỷ của Khoa học không? Nhưng trong trường hợp này, tại sao lại không đưa ra công khai ý định cao cả đó? Tại sao những khách đi dạo lại không thể đọc được nó? Rồi, nếu nó đã bị giấu kín thì ai có lợi khi giấu nó, và với mục đích gì? Sau hết, tại sao cái lão đo đạc điên khùng này lại là kẻ duy nhất khám phá ra bí mật đó? Câu hỏi phụ: tư thế không thể hiểu được của Apollon có dính dáng gì đến công thức này không?
Kathrin bắt máy ngay tiếng chuông đầu.
— Ông nhanh thật! - Nàng reo lên.
— Chỉ những kẻ nhanh tay lẹ mắt mới sống còn, cô biết chứ. Nhưng trở lại cái công thức đi. Lão ta thực sự chẳng cho cô dấu hiệu gì về sự kết cấu của nó hay sao?
Trời đã tối đen trên Stockholm. Bông tuyết bay lộn trước đèn xe. Đoạn đường đi đến Skavsta thì giống như mọi đoạn đường trên thế giới đi đến phi trường. Như thể nó được xây ra để làm người ta muốn bỏ chạy. Anh nghĩ đến Versailles, đến Grand Canal rực rỡ dưới ánh mặt trời, đến những khóm cây bình lặng, đến vẻ uy nghi của những con đường đi. Những ngôi vườn này, ít nhất từ mười năm nay, là một nơi chốn trên thế giới mà anh thích đến thư giãn nhất. Không một khách sạn xa hoa nào, không một “spa”[15] nào, không một hồ bơi của tỉ phú nào mang lại cho anh sự thoải mái tương tự. Có lẽ vì anh có cảm giác là tất cả những nơi chốn đó chỉ là những địa điểm qua đường tầm thường. Chẳng có nơi nào hít thở Lịch sử như cái công viên đó. Đứng ở bồn hoa Midi, trước Latone và Apollon, anh cảm thấy những gì mà mấy người bạn sùng đạo của anh nói họ cảm thấy khi ở trong gác đàn của thánh đường. Sự hiện diện, gần gũi, của Chúa, của Đấng vĩnh hằng, của Nguồn gốc uyên nguyên của con người.
Mỗi khi anh đến đó, hai hay ba lần mỗi năm, anh tìm thấy được cùng một sự dịu ngọt và cùng một sức mạnh, một cuộc kết hợp mong manh giữa chất quyền uy và vẻ yêu kiều. Anh tìm lại được nguồn cội sâu xa của mình. Có phải vì sự hiện hữu của Thượng đế đã được ghi khắc ở đó không? Nhưng, nếu đúng thế thì tại sao hằng thế hệ sử gia, nghệ nhân cảnh quan, chuyên gia đo đạc lại thấy hụt dấu hiệu này?
Taxi đến phi trường. Trong khi xuống xe, điện thoại di động kẹp dưới cằm, tay cầm túi đeo, anh vừa cố tiếp tục trao đổi, vừa bước về hướng quày làm thủ tục.
— Kathrin, cô đã gặp lão nghệ nhân vườn cảnh đó cách đây hai năm phải không? Rồi từ đó đến nay? Nếu lão ta không gọi lại cho cô, có phải vì lão chưa tìm ra cái bằng chứng mà lão đi tìm, phải thế không?
Im lặng một lát.
— Tôi không thể nói với ông. Phải hỏi ông ấy chứ.
— Tên gì vậy, cái lão của cô đấy?
— Michel Costero… Costello thì đúng hơn. Ông muốn…
— Đúng, cho tôi địa chỉ hay số điện thoại.
Ước gì anh tỏ ra lịch sự hơn với Kathrin. Nhưng làm sao được, anh đã giở lại cái giọng sai bảo, một phản xạ mà.
— Tôi chưa về lại văn phòng, và tôi không mang chúng theo người. Tôi sẽ gửi thư điện tử cho ông lát nữa. Thế được không?
— Được, Kathrin, cảm ơn.
— Địa chỉ thư ông là sao?
— Viết thế này… treo… treo@treocom
Anh đã lưỡng lự khi cho nàng địa chỉ thư điện tử riêng tư nhất. Cái địa chỉ chỉ dùng cho hai ta. Nhưng lúc này là trường hợp khẩn cấp.
— Tre…? Ông nói sao?
— Treo. T-R-E-O @treocom.
— Được rồi.
— Kathrin?
— Vâng, sao ạ?
— Tôi cũng muốn cảm ơn cô về ngày hôm nay. Một ngày vui đối với tôi.
— Tôi cũng vui lắm ông à.
— Tôi chắc rằng chúng ta sẽ gặp lại nhau.
— Tùy ông thôi…
— Tạm biệt.
— Tạm biệt, ông Barett.
Trước khi tắt máy, tiếng nàng thầm thì tên anh như trong một hơi thở.
“Tôi chắc rằng chúng ta sẽ gặp lại nhau.” Anh đã nói ra câu này theo thói quen. Vì cứ gặp hoài những người mà anh không bao giờ gặp lại… Kathrin cũng thế thôi. Anh biết là nàng sẽ nhập, trong một xó xỉnh nào đó của trí nhớ anh, vào danh sách dài những cuộc gặp gỡ dở dang, chúng đầy dẫy trong cuộc đời mà. Chẳng hề chi, đối với riêng anh. Đó là chuyện làm ăn. Một cái chợ mà ta gặp gỡ nhiều người. Có người ta gặp lại, có người không. Những tác nhân kinh tế di chuyển theo quyền lợi riêng của mình. Đừng vác theo những gì không đáng kể, vô ích thôi. Tối hôm đó, khi rời Stockholm, anh nghĩ đến điều em đã nói với anh về sự tất nhiên của những cuộc gặp gỡ nửa vời đó. Em thấy chán quá. Em thấy thất vọng quá. Nhưng sự thất vọng này, nói cho cùng, không phải là một trong những cái diệu kỳ của hiện sinh hay sao? Niềm hạnh phúc thoáng thấy là không đủ cho ta hay sao? Tự nó, niềm hạnh phúc thoáng thấy này, không phải là một dạng hạnh phúc hay sao?
Vào lúc máy bay bắt đầu hạ cánh xuống New York, tám giờ sau, anh mở laptop. Thư của Kathrin chờ anh ở hộp thư đến.
Thưa ông Barett,
Số điện thoại mà tôi giữ đây không còn là của Michel Costello nữa, nhưng tôi đã có thể tìm ra dấu vết ông ấy nhờ Hội Kiến trúc sư. Costello đã về hưu từ một năm nay. Ông ấy đến ở Aixen-Provence, miền Nam nước Pháp. Tôi vừa gọi xuống dưới đó. Chính bà vợ ông trả lời.
Michel Costello đã qua đời cách đây vài tuần vì khối u trong óc.
Tôi thành thật lấy làm tiếc.
Trân trọng.
Kathrin Strandberg.
❀ ❀ ❀
[1] Nữ thủ tướng Đức.
[2] Richard Nixon (1913-1994), Tổng thống Mỹ từ năm 1968 đến 1974.
[3] Nam diễn viên điện ảnh Hollywood thuộc hàng sao hiện nay.
[4] Charles Le Brun (hay Lebrun) (1619-1690): họa sĩ và nhà trang trí Pháp, được vua Louis XIV ưa chuộng, đã chủ trì công tác trang hoàng cung điện Versailles.
[5] Amour, còn có tên khác là Cupidon, là con trai của nữ thần Venus, thường được vẽ hay tạc dưới dạng một đứa bé trai 7 hay 8 tuổi, như một tiểu thiên thần.
[6] Tên của hai anh em nhà văn và ngữ văn học người Đức, Jacob Grimm (1785-1863) và Wilhelm Grimm (1786-1859), viết nhiều truyện dân gian Đức nổi tiếng.
[7] Tên nhân vật trong truyện thần tiên của Perrault (1697), được viết lại bởi anh em Grimm (1812).
[8] GPS, viết tắt của “Global Positioning System” (Hệ thống định vị toàn cầu), máy giúp tìm đường, tìm chỗ các địa chỉ… thông qua vệ tinh.
[9] Albert Einstein (1879-1955), nhà vật lý học danh tiếng, tác giả các thuyết tương đối. Giải Nobel năm 1921.
[10] (1450 hay 1451-1506), nhà hàng hải người Ý, khám phá ra châu Mỹ năm 1492.
[11] Xin vui lòng, làm ơn…
[12] Blaise Pascal (1623-1662), nhà bác học, nhà văn và triết gia Pháp. Tác phẩm xuất bản: “Les Provenciales” và “Pensées”.
[13] Tiếng Anh, có nghĩa “cười ầm lên”.
[14] Món ăn bỏ lò gồm khoai tây phủ bánh mì vụn hay phó mát nạo, thêm nấm củ “truffe”, theo cách nấu của vùng Dauphiné, Pháp.
[15] Nơi chữa bệnh bằng nước khoáng, bùn, nước biển, bằng sự vận động, sự xoa bóp…