Cửa Mật

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 28
28

❊ ❊ ❊

Ngày trước…

Nếu anh quả quyết là mình vẫn tin vào chuyện đó thì đúng là nói láo với em. Trong gần một năm, thật vậy, anh đã bỏ bê việc đi tìm căn phòng bí mật và cái công thức chứng minh Thượng đế hiện hữu. Nhưng nỗi ưu tư này vẫn hiện diện đâu đó trong trí nhớ sống động của anh. Bằng chứng: anh đã cho thêm vào danh sách “báo tin trước” trên mạng artvaluecom các từ khóa “đường hầm ở Versailles” và “Trianon”.

Bọn anh đang ở thành phố Casablanca, và vào một buổi tối, ở khách sạn Hyatt, một “tín hiệu báo trước” hiện lên trên PC của anh. Lúc đó, Amelia và anh được một nhà báo Pháp phỏng vấn về các hoạt động chống nghèo đói của bọn anh. Các câu hỏi, như thường lệ, làm anh chán ngấy. Quá đơn giản, quá dễ đoán trước. Anh nhà báo muốn trêu tức bọn anh về sự cạnh tranh giữa những nhà từ thiện lớn. Vì trong sự nghiệp nhân đạo cũng vậy, từ nay về sau, cuộc chiến giành quyền lãnh đạo đã bắt đầu. Càng ngày càng có nhiều tỉ phú mới nổi xông vào làm công tác từ thiện. Ở thung lũng Silicon, mới cách đây vài năm thôi, những người giàu, em còn nhớ chứ, đua trí tưởng tượng, đua tài khôi hài để mọi người chú ý. Họ cho nhân giống vô tính con chim két của mình với giá năm chục ngàn đô-la hay mua một chiếc xe lội nước để đi băng qua vịnh San Francisco vào giờ cao điểm… Bây giờ, giống như bọn anh, họ đầu tư vào các hoạt động từ thiện.

Vậy là anh ngồi trước mặt anh nhà báo, trong chiếc ghế bành bằng da của Hyatt. Như thường lệ, anh để anh ta đặt ra các câu hỏi và anh trả lời ngắn gọn, chính xác và… vô vị: chiến thuật của anh đó – trong mười lăm phút ban đầu – để đánh giá đối thủ, trình độ hiểu biết về đề tài đang nói, cũng như trí thông minh của hắn. Về phần Amelia thì nàng trả lời mấy thứ chuyện tầm thường dễ dãi. “Làm sao bà đi lại khắp thế giới mà vẫn chăm sóc tốt con cái?” “Thông thường thì những nhà tỉ phú bỏ chạy trước sự nghèo khổ bần cùng, còn ông bà thì không, tại sao vậy?”. Bọn anh bị hỏi đến mức đó.

Buổi phỏng vấn rề rà quá sức. Stan, tên cố vấn về truyền thông của anh, đã thuyết phục anh nhận lời phỏng vấn với tờ tạp chí Pháp này, được cánh tả đọc nhiều, và khá mau lẹ trong việc vun đắp chủ nghĩa bài Mỹ mà các thành phần tinh hoa Pháp ưa thích. Anh đã lưỡng lự, vì anh vừa cho báo chí Pháp phỏng vấn gần như một lần trên một trăm. Em hãy nhớ là chính em một ngày nọ đã lưu ý anh chi tiết này: trên bình diện thế giới, báo chí Pháp chỉ tương đương ít hơn 1% của toàn bộ việc truyền đạt tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng. 1% thị phần, một cuộc phỏng vấn trên một trăm: vậy là sự phân chia thời gian mà anh đầu tư trong các loại báo chí thì được tính toán nhanh chóng.

Bực bội, muốn xong cho nhanh, anh kín đáo liếc nhìn các thư điện tử riêng tư mà anh chỉ nhận trên treocom thôi. Đặc biệt lần này không có thư em. Ngược lại, có thư của mẹ anh, bà muốn tổ chức một buổi ăn tối gia đình “trong vòng sáu tuần lễ tới”, và một thư khác của cha anh, anh vừa tặng ông một món quà nhỏ mừng sinh nhật tám mươi lăm tuổi: hai mươi triệu đô-la cho hội sinh viên ngành cổ sinh vật học mà ông chăm lo.

Những lời cảm ơn của ông thì ngắn gọn, cha anh không bao giờ nói nhiều mà. Anh đang soạn câu trả lời ngoại giao cho thư mẹ anh thì một tín hiệu báo trước hiện lên trên màn hình. Người gởi: artvaluecom. Từ mấy tuần nay cái mạng này đã chẳng gởi gì cho anh cả. Đúng là những thứ đồ vật đưa ra bán liên quan đến Versailles, Le Nôtre, hay ngay cả Louis XIV thì không bao giờ nhiều. Trái ngược với những thứ đồ của Napoléon: hàng ngàn vật kỷ niệm của Hoàng đế đã xuất hiện lại trên thị trường vào năm trước, nhân dịp tưởng niệm hai trăm năm lễ đăng quang của ông. Nhưng sau đó thì thị trường trầm lắng lại.

Tiêu đề của bức thư điện tử làm anh bối rối.

Ngày 13 tháng 10-2005. Christie’s[1].

Bản thảo nguyên gốc

từ bà hoàng thiết kế của thế kỷ XX.

Biệt thự Trianon, Versailles. 1000 đô-la.

Anh mở thư.

Đồ đem ra bán là một lá thư viết tay, ghi năm 1932, ký tên Elsie de Wolfe. Bản giải trình thì ngắn gọn.

Elsie de Wolfe (1865-1950), nhà trang trí nội thất Mỹ danh tiếng, là chủ một nơi ở tuyệt vời tại Versailles, biệt thự Trianon, trong nửa đầu thế kỷ hai mươi. Ngôi nhà này nằm ở rìa công viên của lâu đài Versailles, ngày trước là nhà đi săn của bá tước d’Artois, em út vua Louis XVI, vào thời Trung hưng[2], ông bá tước này đã lên làm vua một thời gian ngắn dưới vương hiệu Charles X[3].

— Thưa ông Barett, ông có nghĩ là người ta có thể xóa bỏ sự nghèo đói trên thế giới giống như người ta xóa bỏ một kẻ cạnh tranh không?

Lần này câu hỏi của tên nhà báo được đặt thẳng với anh.

— Chỉ cần đặt vào đó cùng một sự chuyên tâm. Cùng lòng quả quyết. Chiến lược. Các mục tiêu. Các phương tiện. Đánh giá các hiệu quả. Đơn giản thôi.

Người ta đã hỏi anh cả trăm lần câu hỏi này từ trước. Câu trả lời được sửa soạn chung với Stan. Anh nói, mắt không ngước lên, cùng lúc tải xuống lá thư của Elsie de Wolfe.

— Với tất cả tiền bạc mà ông bà mang cho người nghèo, thì sẽ còn lại gì cho các con ông bà? Nói như một trong những người bạn tỉ phú của ông bà, chúng là hội viên của “câu lạc bộ những tinh trùng may mắn”. Ông bà đã quyết định dành lại cho chúng bao nhiêu?

Anh nghe bên tai câu trả lời của Amelia.

— Đủ nhiều để chúng có thể làm cái nghề mà chúng muốn. Đủ ít để chúng bị buộc phải học lấy một nghề.

Được lắm, Amelia. Câu đáp trả này cũng được sửa soạn chung với Stan. Thường thường, nó gây hiệu quả. Chưa có nhà báo nào dám cả gan hỏi cho ra con số cho phép thực hiện cùng lúc hai mục tiêu trên. May thật, bởi vì bọn anh hẳn là lúng túng lắm mới đưa con số đó ra.

Nội dung của cái bản thảo sắp mang ra bán vào tháng sau ở Christie hiện ra trên màn hình. Đó là một lá thư mà Elsie de Wolfe viết cho một trong những bạn gái của bà, cựu đạo diễn Elizabeth Marbury hồi đó đang sống ở New York. Ba đoạn đầu dành cho những thăm hỏi thông thường: Elsie hỏi han tin tức sức khỏe của Elizabeth, nói về sức khỏe của mình và của ông chồng, và nói bóng gió về những biến cố chính trị mới đây ở hai bên Đại Tây Dương. Trong đoạn bốn, bà đề cập đến lý do chính của bức thư: cái chết của con chó xù, một poodle[4], mà Elizabeth đã biết rất rõ. Nhưng chính cái đoạn năm suýt chút nữa làm anh nhảy đụng trần nhà.

[…] Cậu sẽ không tin chuyện này đâu, Bessie à! Vợ chồng mình đã phát hiện ra một đường hầm dưới ngôi nhà mình ở! Một hành lang trong lòng đất bắt đầu từ chỗ mà cả hai đứa mình ngày xưa thường ngồi uống trà – cậu nhớ không nào? Nó nằm sâu một thước dưới đất và chạy về hướng các dinh thự Trianon.

Anh không muốn mất thì giờ đọc tiếp. Anh cần lá thư này. Và cả ngôi biệt thự Trianon nữa.

— Thưa ông Barett, ông sắp sửa bốn mươi mốt tuổi. Món quà nào sẽ làm ông hạnh phúc nhất?

—…

— Dan, có chuyện gì vậy?

Anh hầu như không nghe câu hỏi của nhà báo. Anh đứng dậy và nói vắn tắt là một công việc cực kỳ khẩn cấp bắt buộc anh phải đi. Anh yêu cầu Amelia trả lời thay anh; anh biết là nàng sẽ hoan hỉ lắm.

— Hạnh phúc chủ yếu không phải là nhận được cái gì mình ham muốn, - Amelia nói, - nhưng là ham muốn cái gì mình có.

Đó là câu châm ngôn nàng ưa thích. Nàng dễ dàng thuyết phục Stan đưa nó vào trong các buổi media training[5]. Thông thường thì các nhà báo ghi chép lại một cách cần mẫn. Và ngừng ở đó.

Về phần lá thư thì chẳng có gì phức tạp: khi ra đấu giá, tất cả chỉ là vấn đề có phương tiện hay không.

Nhưng ngôi biệt thự lại không được bán. Ngôi nhà xưa bị bỏ liều này thuộc về một phụ nữ Versailles mà ông bố bà ta quen thân với Elsie. Không ai đến ở trong đó bao giờ kể từ khi bà chủ danh tiếng chết đi, và mọi thứ vẫn được để nguyên như trước: những đồ trang trí nhỏ, bàn ghế tủ giường và ngay cả một số áo quần trong tủ. Song anh phải thuyết phục bà chủ nhà hiện nay đang chống đối mọi chuyển nhượng.

Nhưng mọi người ai cũng có một giá! Anh thương lượng qua điện thoại. Trước tiên, anh đề nghị với bà phụ nữ Versailles mức giá bốn triệu euro, cao gấp đôi giá trị của ngôi biệt thự. Bà suýt cắt ngang điện thoại, tỏ vẻ bực tức. Anh tăng lên sáu triệu: bà viện ra kỷ niệm của cha bà. Đến mười triệu thì bà dẹp hết đắn đo qua một bên. Đúng là cái giá quá đắt trả cho một phế tích, nhưng anh hẳn sẽ sẵn sàng đẩy lên năm mươi triệu. Đối với một vài chuyện được thua, em biết mà, anh không cần nhìn đến bảng tính tiền.

Vậy là anh đã mua biệt thự Trianon mà không thấy mặt nó.

Khi bước vào ngôi nhà đó lần đầu tiên mười lăm ngày sau, nhằm lễ Thanksgiving, anh như một đứa trẻ con trước hang Ali Baba. Lối đi trồng cây tiêu huyền hai bên, các chuồng ngựa cũ nằm cuối sân, các mặt tiền kiểu thế kỷ XVIII và XIX, các ống máng, cái chuông treo trên bức tường ngoài để tập hợp binh lính khi cần: tất cả các chi tiết này quyến rũ và cùng lúc, khêu gợi trí tò mò nơi anh. Chưa bao giờ anh cảm thấy vui thú nhiều như thế kể từ khi anh xây nhà ở California, nơi mà Amelia và anh chọn đến từng miếng thảm trải sàn nhỏ nhất, kể cả thảm ở nơi đặt bàn nhún lấy đà tập nhảy. Anh đã thấy mình tự đứng ra trùng tu những thứ tuyệt vời này, theo sát những bản vẽ phác thảo của Elsie de Wolfe, những mô tả của bà cũng như vài bức ảnh chụp thời đó mà anh tìm mua được. Amelia, về phần nàng, vừa thấy biệt thự Trianon là tự khép kín như con hàu. Vẻ phấn khởi của anh làm nàng khó chịu.

— Tại sao cái nhà này làm anh hài lòng đến thế? - Nàng hỏi anh khi bước vào phòng khách-sân hiên. - Có biết bao thứ để xây dựng trên thế giới, có biết bao cuộc đời để cứu vớt.

— Nhưng Amelia này, chúng ta đã làm điều đó rồi! Nơi đây, chúng ta đóng góp vào việc cứu vãn di sản của nhân loại. Lịch sử con người. Ký ức con người. Cái gì quan trọng hơn nào: ký ức con người hay cuộc sống con người?

— Ái chà!

Nàng vừa bị trật mắt cá chân khi đi xuống cầu thang gỗ, bị mối mọt gặm thủng, dẫn xuống tầng hầm, về hướng các nhà bếp. Và, em biết không, mười lăm phút trước đó nàng bị cây hoa hồng dại có gai làm rách da đùi khi muốn đến góc vườn mà Elsie de Wolfe đã biến thành nghĩa địa dành cho… mấy con chó của bà.

Thế là quá lắm rồi! Amelia không nghe những gì anh nói gì nữa.

Về phần anh, anh không thấy cái cầu thang bị mọt ăn, không thấy những tấm thảm bạc màu, những sàn gỗ bị bong tróc, không thấy những chuyện đồng bóng về chó của Elsie. Nhưng anh thấy Marie-Antoinette trốn khỏi các dinh thự Trianon để đến đùa giỡn trong các phòng khách của người em chồng, bá tước d’Artois, bà đi tìm chút lạc thú đáng lo ngại trong chuyện thưởng thức trái cấm. Amelia thì chẳng thấy có gì hấp dẫn trong lịch sử nước Pháp.

Nàng ngồi xuống ở một bậc thang và xoa bóp mắt cá.

— Dan này, em chán ngấy cái biệt thự này rồi! Và Versailles! Và lịch sử nước Pháp! Điều anh làm thì chẳng có nghĩa lý gì cả. Tuần sau chúng ta phải đi Dacca rồi, anh nhớ chứ?

— Nhưng em nhìn này! - Anh cứ nói thêm nữa, người chồm qua cửa sổ để nhìn về phía bức tường bao quanh. - Em thấy các ngôi nhà, ngay đó kìa, cách đây ba trăm thước không? Là thôn Hoàng hậu và trang trại của Marie-Antoinette đó! Lịch sử các vị vua Pháp đã diễn ra ở đây… trong biệt thự này của chúng ta.

Nàng nhăn mặt khi nghe “của chúng ta”. Tỏ vẻ khó chịu. Và đòi anh phải đưa nàng trở lại khách sạn ở Paris, để chăm sóc mắt cá chân. Ngày hôm sau nàng lấy máy bay về Boston.

Anh quay lại biệt thự Trianon, một mình. Có hề chi tâm trạng bực bội của Amelia. Nó rồi sẽ qua thôi. Em biết nàng mà. Vợ anh đã hình thành những thói quen xấu từ vài năm nay, thực ra, từ khi bọn anh cùng nhau lãnh đạo quỹ từ thiện Barett. Quỹ này được đặt tên theo hai tên của bọn anh, Dan và Amelia. Nàng cùng anh đi đến những khu nhà ổ chuột ở São Paolo hay Dehli, thăm viếng những trung tâm y tế mà bọn anh tài trợ cho công tác chữa trị trẻ em bị dịch tả. Bọn anh cùng nhau đi lại bằng máy bay phản lực riêng của mình, cùng nhau thảo luận với các bác sĩ, y tá, cùng nhau quyết định về những món tiền đầu tư, những mục tiêu cần đạt tới…

— Dan này, lợi nhuận lớn nhất trong đời anh đến từ việc đầu tư, đó là khi anh cứu lấy cuộc sống trẻ em, - nàng thường nói với anh. - Và hơn nữa, vợ chồng mình cùng nhau làm việc này. Đó cũng là một lợi nhuận phụ to tát.

Do đó, dĩ nhiên, nàng cảm nhận việc anh trở lại đam mê Versailles như là một sự phản bội. Nhưng anh đành chịu thôi. Biệt thự Trianon làm anh hưng phấn, đó là một điều mạnh hơn cả anh. Ở đấy anh cảm thấy như ở trong phòng thí nghiệm, vào khoảnh khắc thần diệu mà em đã trải qua như anh, khi ta tiến lại gần sự khám phá một sản phẩm mới. Khoảnh khắc thú vị này là lúc ta chưa đến đích nhưng có ý thức là ta sắp sửa đến. Khoảnh khắc ngây ngất khi một nhóm nhỏ tập hợp xung quanh bàn, biết là mình đang nắm trong tay công thức từng được chờ đợi biết bao, bản mẫu đầu tiên từng được ham muốn biết bao. Chỉ là vấn đề vài phút thôi. Cánh cửa sắp sửa mở ra đó…

Trong lá thư mà anh mua đấu giá, Elsie de Wolfe không chỉ ra chính xác đường hầm bắt đầu từ đâu. Không phải vì bà muốn nói về nó bằng mật mã, nhưng bà đang nói với một người bạn thân chắc đã biết nằm lòng những thói quen của bà.

Trong xe taxi đưa anh từ khách sạn quay lại biệt thự Trianon, anh đọc lại lần thứ mười đoạn thư hệ trọng đó:

[…] Cậu sẽ không tin chuyện này đâu, Bessie à! Vợ chồng mình đã phát hiện ra một đường hầm dưới ngôi nhà mình ở! Một hành lang trong lòng đất bắt đầu từ chỗ mà cả hai đứa mình ngày xưa thường ngồi uống trà – cậu nhớ không nào? Nó nằm sâu một thước dưới đất và chạy về hướng các dinh thự Trianon. Chính Charles đã khám phá ra nó. Rất có thể là bọn mình, đàn bà mà, mang đầu óc quá thực tế để mà nhìn những gì có dưới mặt đất… Mình mặc đại cái quần của ông xã, áo sơ mi, xỏ đôi ủng, rồi theo ông ấy xuống đường hầm. Anh làm vườn đi trước vợ chồng mình. Than ôi, mình phải thú nhận với cậu là chuyến đi thám hiểm này gây thất vọng chút ít đấy: đường hầm bị sụt lở cách biệt thự khoảng ba trăm thước. Khai thông nó là một công cuộc to tát mà vợ chồng mình không có tiền để trả vào lúc này.

Rõ ràng là Elsie không có phương tiện để thăm dò lối đi đó tới cùng. Nhưng anh thì anh sẽ làm. Và tìm ra điểm xuất phát thì cũng dễ thôi: những căn phòng ở tầng trệt, nơi dùng làm chỗ uống trà thì không nhiều lắm đâu: các phòng khách, hiên nhà, phòng đọc sách… Để tìm ra căn phòng mà Elsie đề cập trong thư, ta không cần dùng ra-đa dò khắp cả nhà. Chỉ cần, anh tin chắc thế, tìm hiểu những thói quen của nhà trang trí nội thất này, những tật sính nhỏ nhặt của bà. Anh sẽ tìm ra nhanh chóng cái mà anh kiếm tìm.

Đặc biệt chỉ một lần, anh không cần máy tính lẫn các tấm phiếu số hóa. Anh đã biết mọi chuyện về cô de Wolfe ngay cả trước khi đặt chân vào ngôi nhà này. Lá thư, như anh đã nói với em, được viết vào năm 1932. Elsie de Wolfe lúc đó đã trở thành Phu nhân Charles Mendl, một người đàn bà sáu mươi bảy tuổi lại quả quyết mình đã tám mươi để mà người ta trầm trồ khen ngợi trước vóc dáng “trẻ một cách ngạc nhiên”của mình. Tất cả bạn bè của bà, tất cả những ai đã dự những bữa tiệc liên hoan kỳ lạ ở biệt thự Trianon, nơi bà xuất hiện với khuôn mặt trát đầy phấn, tóc nhuộm màu xanh biển, vận trang phục của Patou hay Chanel, đều tin bà bất tử. Nhà nhiếp ảnh danh tiếng Cecil Beaton là người được bà bảo trợ, và bà đã gợi hứng cho Cole Porter[6] viết ra ca khúc That Black and White Baby of Mine[7]… Elsie là ngôi sao của báo chí people vào thời kỳ đó. Các nhà báo Mỹ chờ bà ở ngay bến cảng khi bà trở về từ Pháp, sẵn sàng bòn rút những tiết lộ của bà về các khuynh hướng thời trang mới nhất!

Sinh năm 1865, cha là người Mỹ và mẹ thì xuất thân từ một dòng họ lớn ở Scotland, nhưng Elise là một đứa bé thuộc loại xấu thậm tệ. Mẹ bà cứ để con ăn mặc lôi thôi, và cha bà cấm con mỉm cười vì nó thiếu một cái răng. Amelia, nàng đã thử mọi cách để anh đâm ghét ngôi biệt thự, một ngày nọ kể lại cho anh nghe câu này của Elsie, viết khi bà hai mươi tuổi, và nó tóm tắt tất cả: “Nếu tôi xấu xí – và tôi xấu xí thật đó – tôi sẽ mang cái đẹp dàn trải xung quanh mình. Đó sẽ là đời tôi. Tôi sẽ làm hết sức mình để có một cuộc đời như thế.”

Anh còn nhớ mối ác cảm của Amelia.

— Đó không phải là kiểu đẹp mà em yêu thích!

Elsie, cô gái xấu xí, trở thành người đàn bà ăn mặc đẹp nhất hành tinh, một nhà trang trí danh tiếng nhất nước Mỹ. Một nhà cách mạng trong lãnh vực thiết kế nội thất, đã thay thế đồ bàn ghế tủ giường theo phong cách “victorien”[8] bằng những chiếc ghế mặt mây đan và màn cửa vải mu-xơ-lin… Đủ để vợ anh nổi khùng thực sự.

— Đáng lẽ bà ấy nên lấy cảm hứng xây nhà cho người nghèo hơn là trang trí nhà người giàu!

— Em cường điệu quá đi! Bà là một anh hùng thời chiến. Làm y tá ngoài mặt trận trong thế chiến 1914-1918… Bà nhận được huy chương chiến công và huân chương Bắc đẩu bội tinh của Nhà nước Pháp đó! Bà mệnh phụ ở Versailles này đâu chỉ là một kẻ hay la cà tiệc tùng. Bà làm gần như cùng một công việc như em!

— Và bà có phải là đồng tính luyến ái nữ hay không? Cuối cùng thì người ta biết điều đó chứ?

Thật điên khùng là các bà có thể cố tình tàn nhẫn biết mấy với người cũng là phụ nữ như mình, khi họ biến người này thành kẻ giơ đầu chịu báng.

Em đừng vội cười nghe! Em cũng vậy mà, đó là câu hỏi đầu tiên của em khi bước chân vào biệt thự Trianon vài tháng sau đó, vào dịp bọn mình trải qua một cuối tuần ở đấy. Đúng là Emma bất trị! Tin chắc là các đấng mày râu bị thu hút bởi những người đàn bà chỉ yêu đàn bà, bởi vì họ muốn mình là người đầu tiên đưa các người đàn bà này trở lại chính đạo. Ngày hôm đó anh đã không phản đối. Theo thói quen – và thường giống như mọi phụ nữ, anh có thể nói thế –, em để ý đến giai thoại ngoại vi hơn là mục tiêu chính yếu: sự tìm kiếm của anh về những bản vẽ nguyên gốc của Le Nôtre. Đúng là em không thể nào đoán được rằng ngôi biệt thự Trianon này là quả tim của sự bố trí đường hầm bí mật. Từ khi bọn mình thất bại ở Grand Trianon, anh đã không còn nói với em về cái định lý chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế nữa. Anh đã tâm sự nhiều điều với em nhưng rồi cũng vô ích, anh đã dằn lòng lắm để khỏi thú nhận với em là anh đã mua ngôi biệt thự chỉ là để tìm cho ra cái định lý ấy. Và, trái với thói quen của mình, em chẳng đoán ra được cái gì hết! Đã tiêu mất rồi trực giác nổi tiếng của em…

Anh trả lời em, giả vờ thở dài:

— Đúng, bà ta đồng tính luyến ái đó. Rồi sao nữa?

— Vậy mà bà vẫn lấy huân tước Mendl làm chồng!

— Khi sáu mươi mốt tuổi! Chỉ để hưởng tước hiệu của chồng thôi, người ta đồn thế. Để đánh bóng cho cuộc sống ăn chơi thượng lưu của bà.

— Bà không bao giờ cải chính các tin đồn sao?

— Để làm gì cơ chứ? Bà đâu giấu giếm việc mình bị những người đàn bà mạnh mẽ, nam tính, lớn tuổi hơn thu hút, như bà Bessie danh tiếng thuộc giới sân khấu đó, hàng năm bà sống với Bessie ở đây cả nửa năm, trong ba mươi năm liền. Bởi vì tình yêu thực sự của bà, em biết đấy, chính là ngôi nhà này.

— Và những hàng vải có sọc khắp nơi.

Em ám chỉ đến nhiều màn trướng trang trí các bức tường. Những mặt vải hồng, be, lục, với những đường kẻ dài thẳng đứng, đặt ngay hàng hay cuộn lại giống như những cái trụ buộc neo cho những con thuyền chở khách du lịch ở Venise hay những cái cột trong sân Palais-Royal ở Paris.

— Vậy ông Buren[9] của các cô đâu có sáng tạo gì!

Như mỗi lần mà anh có thể làm cho em thấy là anh hiểu biết về lịch sử nghệ thuật hơn em, anh còn dập thêm vào.

Căn nhà nhỏ trong vườn dành cho khiêu vũ với những bức tường có đường rạch màu lục, nối liền với căn nhà chính của biệt thự, là chỗ đầu tiên mà anh thăm dò. Nơi đây, nơi mà anh đã quyết định biến thành một hồ bơi có mái che, có vẻ là một chỗ lý tưởng mà Elsie thích ngồi uống trà, theo ý anh. Lúc đầu, đó là một cái lều rạp xiếc do Elsie cho dựng lên, phục vụ cho buổi chiêu đãi phi thường nhất trong sự nghiệp của bà: một circus ball[10] với dàn nhạc Hawaii và các tiết mục của ngựa “pony”[11] được tập để làm trò. Elsie yêu thích biết bao căn nhà nhỏ tường sọc trắng và xanh lá cây này, các tấm màn xếp nếp theo phong cách thời Régence[12] và các ghế dài bằng da, đến nỗi bà để nó y nguyên như thế, như một nhà phụ thường trực của ngôi nhà chính sẵn sàng đón tiếp những dạ hội tưng bừng.

Anh thăm dò khắp nơi, dưới những thanh gỗ lót sàn, không kết quả… Không thấy gì hết, ngoại trừ một lá cờ Anh. Chắc là để trưng ra trong những ngày mà Elsie chiêu đãi công tước và nữ công tước Windsor[13]. Tiếp đó, anh đụng đến phòng đọc sách ở tầng trệt. Phòng này thì nhỏ, cũ nát, mở đóng bằng những cánh cửa có đặt thêm những sách giả chỉ có bìa, trần nhà màu be. Và đèn thì không đủ sáng.

— Amelia có lý, nó bốc mùi mốc.

Anh còn nhớ lời nhận xét ranh mãnh này của em khi em bước chân vào căn phòng đó – căn phòng duy nhất, sau khi trùng tu, mang không khí thế kỷ XIX.

Anh cũng dò tìm phòng làm việc kiêm phòng khách nhỏ riêng của phụ nữ, một chỗ mà theo anh nghĩ có thể tìm ra lối vào đường hầm. Trong số phòng ở tầng trệt thì phòng này gần tường bao quanh lâu đài Versailles nhất. Khi đào đường hầm thì người ta chọn điểm xuất phát ngắn nhất phải không? Hơn nữa, chỗ này chắc hợp với Elsie nhất: lý tưởng để ngồi uống trà và hơi nam tính. Nhưng rồi cũng không có gì: không lỗ hổng nào, không có gì có thể mở ra một lối đi về phía lâu đài.

Cùng một ghi nhận như thế đối với sân hiên, phòng khách lớn rồi sau chót là phòng đợi. Không một cửa sập. Không một lối đi. Trống rỗng. Hay nói cho đúng hơn, đầy đặc. Cái ra-đa của anh im lặng một cách tuyệt vọng.

Đồ bát đĩa vẫn còn trong các tủ bếp, đó là của Elsie. Cũng như các chai rượu trong tủ buýp-phê. Anh lấy ra một cái ly rồi pha cho mình một cốc-tay gồm rượu Cointreau, gin và nước nho, một cốc-tay ưa thích của Phu nhân Mendl. Rồi anh lên nghỉ ngơi ở phòng của bà trên lầu. Cửa phòng màu đỏ được tô điểm bằng một tấm lắc nhỏ hình bầu dục mang hàng chữ “Đừng bấm chuông trước… 8 giờ 30”, và một tấm biển rộng được chạm trổ với một từ bằng tiếng Pháp: “Moi”[14]. Anh quyết định chọn nó làm phòng của mình. Anh ngồi xuống ghế bập bênh rộng đối diện lò sưởi. Anh còn thấy lại mình lúc đó tay cầm ly rượu, đầu óc tập trung suy nghĩ, chậm rãi đu đưa ra sau, ra trước theo nhịp lắc của chiếc ghế. Chỉ có tiếng kêu kèn kẹt của các thanh ván lót sàn mới khuấy động chút xíu vẻ tĩnh lặng của ngôi nhà.

Amelia có lý không? Anh có phải ngừng lại mọi chuyện không? Anh có phải dành hết sức mình cho riêng quỹ từ thiện không? Cho cuộc chiến của bọn anh chống lại sự nghèo khổ đã gây biết bao phẫn nộ và làm chết hàng triệu con người bởi vì họ chỉ có một đô-la để sống mỗi ngày và không thể trả tiền một món thuốc có giá tới hai đô-la? Đối mặt với thử thách này thì những thứ như các bản vẽ nguyên gốc của Le Nôtre, tư thế của Apollon, thuận hay ngược về phía lâu đài, về phía mặt trời, có quan trọng gì không? Điều hão huyền này chỉ làm anh mất quá nhiều thì giờ thôi. Rồi bằng chứng về sự hiện hữu của Thượng đế thì thế nào? Thượng đế phải chăng, như các nhà thần học nói, luôn hiện diện trong hành động hàng ngày của con người? Chữa cho châu Phi khỏi bệnh sốt rét, đó không phải là để hoàn thành một phép lạ hiện nay hay sao? Đó không phải là bằng chứng thực sự cần đưa ra để chứng minh sự hiện hữu của đấng Toàn năng hay sao?

Anh đứng dậy và đi về phía cửa sổ. Em biết chỗ này mà. Bên ngoài, phía bên kia bức tường phủ cây thường xuân, ta có thể nhận ra những thân cây đầu tiên thuộc lãnh địa hoàng gia. Lối đi từ cửa Saint-Antoine kéo dài mặt đường lát đá của nó đến tận Grand Canal. Dưới đó, con tàu nhỏ chạy trên đường sắt giữa Versailles và Trianon chở đi dạo các đám du khách ngồi chật ních trên ghế, mắt dính vào máy quay vidéo cầm tay, “zoom” trên những tia nước phụt mạnh, trên những con thiên nga thếp vàng, và trên Grande Perspective.

Apollon quay mặt lại ư? Cỗ xe của chàng thì mâu thuẫn với đường đi của Mặt trời ư? Latone bị lệch trục ư? Các du khách có ý thức về những điều tinh tế này không? Nhưng nói cho cùng, có quan trọng gì không? Những khóm cây tươi mát, những con đường ngay hàng thẳng lối, những mặt tiền lâu đài óng vàng soi bóng trong các tấm gương mặt nước, tự chúng không đủ để nuôi dưỡng niềm vui của họ sao? Nhà họa sĩ Pháp Bonnard đã vẽ nội thất và những ngôi vườn được mặt trời chiếu sáng, và dưới cây cọ của ông thì chẳng có mục đích nào khác hơn là làm bật ra những khoảnh khắc vàng tươi của hạnh phúc thường ngày. Le Nôtre, nói cho cùng, là một người làm vườn và trước hết là một người làm vườn. Có lẽ ông ta cũng chỉ có một mục tiêu thôi, niềm vui của đôi mắt, phải thế không? Và ông chỉ có một điều lo lắng: sự câu thúc kỹ thuật. Tại sao ta lại đi tìm ý nghĩa cho vị trí của đảo Amour? Một cách đơn giản, không phải là nó được tạo ra ở nơi hợp lưu của các con rạch chảy vào một cách tự nhiên từ hàng thế kỷ nay sao? Tại sao lại đi tìm một thông điệp ngay ở chỗ mà cái nhìn tìm thấy niềm vui? Tất cả những sử gia, những nhà phân tích tâm lý hay những nhà thần học này nhận ra trong những bản vẽ các ngôi vườn Versailles một ý đồ ưu việt, thậm chí thuộc tiềm thức, nhận ra trong kiến trúc được sắp đặt một cách tinh tế một công cụ tuyên truyền, giới truyền thông lại phổ biến trước mặt thế gian quyền lực thiên mệnh, thái dương, thần linh, của một ông vua thiên tài, họ có lầm đường lạc lối không? Có lẽ chính người làm vườn tầm thường nhất lại có lý. Một người làm vườn thấy trước hết trong công viên của lâu đài một lời mời gọi cất bước đi dạo, mời gọi hít thở thư giãn, mời gọi bước vào sự tĩnh lặng. Như một hộp đựng vật quý dành để tiếp nhận mùi hương hoa cỏ, vẻ uy nghiêm của cây cao bóng cả, trò chơi tự nhiên của bóng tối và ánh sáng. Một người làm vườn biết nói rằng Versailles là một ngôi vườn, chứ không phải là bộ môn hình hiệu học.

Trên kệ lò sưởi có một tờ tạp chí Life cũ phai màu như các tấm màn trướng treo trên tường. Anh đưa tay cầm nó một cách máy móc. Ngay lúc anh bắt đầu lật từng trang thì một cuốn sổ bằng vải giả da, nằm dưới tờ báo, rơi xuống đất. Nó chứa đựng những ghi chép của Elsie de Wolfe. Anh nhận ra nét chữ của bà và bắt đầu đọc. Bà viết nhiều về chuyện bếp núc, các buổi dạ tiệc, các sinh hoạt xã hội… Những chuyện tầm thường quen thuộc của bà trang trí nội thất khi bắt đầu nói về các đề tài này. Chắc đây là một bản nháp cho cuốn sách của bà (Làm sao để buổi dạ tiệc của bạn thành công?) mà sự đóng góp chính yếu vào nghệ thuật ẩm thực thế giới là lời khuyên các bà chủ nhà nên dùng các đĩa nóng như được trụng nước sôi. Chẳng có một lời ám chỉ đến cái đường hầm, tất nhiên rồi. Anh cố sức đọc tận trang cuối và khi sắp sửa xếp cuốn sổ lại thì anh thấy có cái gì đó. Mặt sau của cái vỏ bọc bị lồi lên một chút. Ở mép của nó hiện ra một khe hở và anh thọc ngón tay vào đó. Anh khều ra một tờ giấy rất mỏng, chắc là loại giấy dùng để in kinh Thánh. Anh giở nó ra nhiều lần mới thấy được nó hình vuông, cạnh rộng khoảng bốn mươi centimét, trang trí bằng những dải kẻ thẳng đứng màu trắng và xanh lá cây. Được ghi ngày tháng phía trên, bên trái: Tháng chín 1949, một năm trước khi Elsie qua đời. Và trên khắp mặt giấy là những hình vẽ phác họa những con chó xù, phía trên mỗi con thì có một cái tên và vài lời mộ chí.

Những con poodles, mẹ kiếp, những con poodles! Làm sao mà anh đã không nghĩ đến chuyện này sớm hơn chứ! Anh đã đọc trước đó mà. Phu nhân Mendl không bao giờ di chuyển mà không có một con chó xù ôm trong vòng tay. Nó ngủ trong giường bà, nằm chơi trên trường kỷ, ăn nấm “truffe” và bánh mì nướng trét gan ngỗng béo. Bà không có con, anh nhắc lại cho em nhớ.

Khi một trong những con thú cưng của bà chết đi, Elsie buồn bã không tài nào an ủi được suốt cả tháng. Và đối với bà, tất cả đều thành cái cớ cho nghi thức, bà tổ chức một lễ tang nhỏ, một mourning[15]. Bà lập ra mộ phần cho con chó xù, đôi khi viết cả câu văn bia cho nó: “Cho đứa mà ta yêu nhất” hay “Cho đứa cưng nhất của ta”.

Những ngôi mộ của các con poodles, đúng chỗ đó rồi!

Anh đặt vội cuốn sổ lên kệ lò sưởi và ba chân bốn cẳng chạy xuống vườn.

Các ngôi mộ được bố trí dọc theo bức tường bao quanh nhà, ở phía công viên lớn của lâu đài. Ba ngôi mộ nhỏ xíu, trông giống như các giường ngủ bảy chú lùn của Bạch Tuyết. Khi thành chủ nhà, anh và Amelia đã đi một vòng biệt thự nhưng anh chỉ thoáng thấy chúng. Lần này, anh tiến lại gần bất kể mấy cây hoa hồng dại nhiều gai. Và anh nhận ra ngay là dù được đặt hoàn toàn thẳng hàng, các tấm bia có khoảng cách không đều. Hai bia đầu thì cách nhau độ ba mươi centimét, nhưng lại cách bia thứ ba đến một mét năm mươi.

Cách mấy tấm bia chừng hai bước chân là một cái bàn tròn bằng sắt rèn với bốn ghế xung quanh được đặt trên một bãi cỏ nhỏ hẹp. Đây chắc là nơi mà Phu nhân Mendl ngồi dùng trà. Trong ngôi vườn, đây là một nơi chốn dễ chịu nhất của biệt thự, như bà đã viết. Và đối diện với các con chó cưng của mình.

Anh dò dẫm từng bước giữa các tấm bia, tay hướng cái ra-đa xuống mặt đất. Dấu vết của các hàng chữ ghi trên mộ chí đã biến mất, xóa nhòa bởi thời gian và rêu xanh. Mưa to gió lớn đã cọ rửa các viên đá, rêu xanh và nấm mọt đã gậm nhấm chúng chỗ này, chỗ nọ. Bóng cây bạch quả cao lớn bên cạnh không đủ che chở nơi yên nghỉ cuối cùng này. Nhưng ngược lại, bức ảnh của các con chó đặt trong các tấm lắc nhỏ hình bầu dục lồng kiếng hơi phồng lên thì còn thấy rõ.

Máy ra-đa bất ngờ bắt đầu rung lên. Anh đang đứng ở khoảng không gian trống giữa các tấm bia thứ hai và thứ ba. Anh đeo cặp kính có màn hình lên mắt. Và anh thấy trên màn hình từ từ hiện ra hình ảnh, khi đầu còn mờ, rồi càng lúc càng rõ ra, của một đường hầm đi sâu về hướng công viên của lâu đài.

❀ ❀ ❀

[1] Một trong những công ty chuyên bán đấu giá quan trọng nhất trên thế giới, được thành lập vào năm 1766 ở Luân Đôn.

[2] La Restauration (Trung hưng), chế độ chính trị Pháp được thiết lập sau khi Napoléon mất quyền, kéo dài dưới hai đời vua, Louis XVIII (1814-15 và 1815-24) và Charles X (1824-30).

[3] (1757-1836), thuộc dòng họ Bourbon, lên ngôi vua nước Pháp năm 1824, sau khi anh trai, vua Louis XVIII (1755-1824) từ trần. Thoái vị năm 1930.

[4] Con chó xù.

[5] Tiếng Anh, có nghĩa tập luyện để xuất hiện, trả lời hay đối phó cho tốt trước các phương tiện truyền thông.

[6] (1891-1964), nhà soạn nhạc và ca khúc người Mỹ, nổi tiếng vào những năm 1920 và 1930, thành công với những vở nhạc kịch (musical) ở Broadway (New York).

[7] Có nghĩa “Cục cưng đen và trắng đó của tôi”.

[8] Chỉ một phong cách kiến trúc và nội thất thịnh hành ở Anh và Bắc Mỹ từ giữa đến cuối thế kỷ XIX, cùng thời gian ở ngôi (1837-1901) của nữ hoàng Victoria của Đế chế Anh.

[9] Daniel Buren, sinh năm 1938, nghệ sĩ tạo hình Pháp nổi tiếng, thường dùng những tấm vải có sọc thẳng đứng một màu để tạo cấu trúc cho không gian.

[10] Buổi khiêu vũ có thêm những màn trình diễn xiếc.

[11] Một loại ngựa nhỏ, lùn, thường để cho trẻ con cưỡi.

[12] La Régence (Thời Nhiếp chính: 1715-1723): Philippe d’Orléans (1674-1723) cầm quyền tạm thời ở nước Pháp sau khi vua Louis XIV băng hà và vua Louis XV còn vị thành niên.

[13] Duke of Windsor (1894-1972), trước là vua nước Anh với vương hiệu Edward thứ 8 thuộc triều đại Windsor, đã từ bỏ ngai vàng năm 1936 để cưới Mrs. Simpson, một phụ nữ Mỹ ly dị chồng, và nhận tước hiệu công tước Windsor, còn vợ ông trở thành nữ công tước Windsor. Ông là bác ruột của Nữ hoàng Anh Elisabeth Đệ nhị hiện nay.

[14] Có nghĩa “Tôi, hay Anh, Em (cách xưng hô tình cảm)…”

[15] Đồ tang hay mặc đồ tang (để tang).

hà băng, quản lý các cổ phần đầu tư của mình bằng Internet, sưu tầm các phao cứu đắm và những cuộc đi chơi xa ở công viên quốc gia Yosemite, và đôi khi… Tất nhiên họ vẫn xuất hiện như một cặp đôi mỗi khi có thể. Nhưng chỉ mỗi khi có thể thô
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Christine Kerdellant - Éric Meyer

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.