Cửa Mật

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
6

❊ ❊ ❊

Ngày trước…

Anh bao giờ cũng muốn giải đoán những điều bí ẩn. Khi ba tuổi anh đã học đọc một mình. Năm tuổi, anh đã làm mẹ anh hét toáng lên khi bà thấy, trong các tờ báo của mình, những ô chữ đã điền kín và những giải pháp cho các trò chơi ghép chữ đã được chỉ ra. Tám tuổi, anh say sưa thích thú với những bí ẩn lớn của lịch sử: Chuyện Mặt Nạ Sắt cuốn hút anh suốt một mùa hè, rồi cái chết, tự nhiên hay không, của Napoléon luôn luôn là một trong những đề tài tranh luận trước khán giả ưa thích của anh (phải nói rõ là vào thời đó anh thiếu những người phản biện). Anh đã được xếp loại “phát triển sớm” trước khi cắp sách đến trường tiểu học, rồi khi anh bước vào tuổi thiếu niên thì mẹ anh ngừng tranh cãi với anh. Anh nhớ lại câu nói nhỏ nhặt đã làm tràn bình nước:

— Dan, ngồi vào bàn đi. Cơm tối sẵn sàng rồi đó.

— Mẹ chờ con một chút.

— Chờ cái gì? Con làm gì đó?

— Con suy nghĩ…

— Con suy nghĩ à, thế nghĩa là sao?

— Dạ, mẹ, con suy nghĩ. Chỉ đơn giản thế, không phải à? Mẹ đã cố gắng suy nghĩ chưa mẹ?

Ngày hôm sau mẹ anh đi tìm nhà tâm lý học giỏi nhất thành phố và thổ lộ mọi chuyện.

— Thằng Dan không vâng lời tôi. Ngồi hàng giờ đọc các chuyên luận về chiến lược và sách sử học, và bắt cha mẹ phải biện minh các quyết định nhỏ nhặt nhất.

Ông tâm lý gia bảo anh đến, và ông ta và anh đã nói chuyện suốt mấy buổi gặp. Anh không còn nhớ chính xác những gì bọn anh đã kể nhau nghe hồi đó. Anh nghĩ rằng anh đã giải thích cho ông ta nghe tại sao là hợp lý hơn khi đặt phòng giặt đồ ở tầng hầm nhà và thay đổi sơ đồ giao thông xe cộ trong khu phố. Dù sao đi nữa, cuối cùng ông ta cũng điện thoại cho mẹ anh để thú nhận sự bất lực của mình:

— Thưa bà, tôi e rằng con trai bà bao giờ cũng thắng cả.

Về Versailles cũng thế, em có cảm giác đó mà, anh từng nghĩ mình biết tất cả rồi. Anh từng tin mình hiểu biết lịch sử Thái Dương Vương và triều đình Pháp. Cho tới ngày anh gặp giữa đường tên tạo cảnh cần cù mặc áo thun vàng…

Em hiểu quá rõ những mối ám ảnh của anh và em biết hơn bất cứ ai khác – chính vì anh đã cùng em lần đầu tiên tham quan lâu đài Versailles cách đây gần hai mươi năm – là anh đã không quan tâm ngay lập tức đến các ngôi vườn nơi đó. Em còn nhớ chuyến đi vòng quanh châu Âu mười lăm ngày anh đã tổ chức mà không hỏi ý em không? Anh khi đó hai mươi mốt tuổi, còn em mười tám. Ban đầu em đã nhảy cẫng lên, mừng vui, nhưng rồi sau đó… em đã trách móc anh là mắt lúc nào cũng nhìn đồng hồ, tính toán từng phút một, trong các đất nước tính bằng thế kỷ đó. Anh đã áp đặt lên em cả hai giờ thăm viếng điện Versailles kèm theo lời bình của anh, anh biết nó tận chân tơ kẽ tóc mà; hai tiếng đồng hồ đi như ma đuổi… trong đó có mười lăm phút, với đồng hồ trên tay, dành cho các lối đi của Le Nôtre mà chẳng chịu dừng chân đôi chút để ngắm những bức tượng và những đài nước, hầu như không thấy gì (trời mù sương vì hơi nước, che khuất các viễn cảnh), hiểu chúng càng ít hơn. Anh đến đây chỉ để kiểm tra xem thực tế có đúng như trong các cuốn sách mà anh đã học kỹ. Vậy mà anh đã chơi liều, không học về các ngôi vườn chi cả. Nếu mà anh chỉ muốn lợi dụng bóng mát của các khóm cây để… thôi, em biết mà. Nhưng khi đó anh đã không nghĩ ngay cả đến việc ấy.

Tất cả sách hướng dẫn đều nhấn mạnh đến công cuộc tạo dựng cảnh quan phi thường mà các ngôi vườn này đại diện, và anh đã chẳng màng để ý đến chút nào. Tệ hơn nữa là sau lần thăm viếng đó anh còn có biết bao nhiêu cơ hội để khám phá cái bất thường của Apollon, và anh đã không lợi dụng cơ hội nào cả. Ngay cả khi anh tham quan những ngôi vườn đó bằng cách theo sát từng bước cuốn sách hướng dẫn tuyệt đỉnh: “Manière de montrer les jardins de Versailles”[1]. Cuốn kinh thánh này, do chính vua Louis XIV viết ra nhằm giúp ta không bỏ lỡ những điểm nhìn quan trọng và cảnh quan tương ứng, để kịp thời dừng chân trước một bể nước ngay khi nước phun vọt ra, hay trước các luống hoa vào lúc hoa nở. Nhà vua đã viết bản đầu tiên của tác phẩm vào năm 1689 và cập nhật hóa nó nhiều lần, tùy vào những biến đổi ở các ngôi vườn đó. Cho đến khi ngài qua đời.

Như vậy anh đã theo sát những lời chỉ bảo của nhà vua và bước đi trên những bước chân của ngài. Anh đã ngây ngất nhìn cỗ xe Apollon, cảm phục nhìn đoàn người ngựa từ mọi góc cạnh. Nhưng anh chẳng thấy gì cả. Nếu anh chỉ bỏ qua thông điệp chính trị mà vua Louis XIV và ông Le Nôtre đã đưa vào tác phẩm vĩ đại của họ, cái tư tưởng che giấu sau kỳ công thẩm mỹ đó, thì chẳng nói làm gì! Không phải thế đâu! Anh biết rành hơn bất cứ ai rằng những ngôi vườn này, xen kẽ bóng tối và ánh sáng, những bãi đất bao la với những cảnh trí riêng tư, những khu rừng nhỏ với những viễn cảnh ngút tầm mắt, chúng không chỉ là to rộng nhất hay đẹp đẽ nhất thế giới. Chúng trước hết là sự biểu dương sức mạnh. Một cương lĩnh chính trị. Chúng kể lại câu chuyện mà mọi triều thần, ở thế kỷ XVII, đều thừa biết: cuộc đời của Louis Đại Vương hòa lẫn với cuộc đời của mặt trời, biểu tượng của ngài, và hiện thân trong Apollon, vị thần Mặt trời.

Một công ty quảng cáo không thể tìm ra cái gì hay hơn! Mặt trời, linh hồn của vũ trụ, là một biểu hiện quyền uy, gây ấn tượng mạnh, ngay “bà nội trợ dưới năm mươi tuổi” thời đó cũng hiểu ngay tức khắc. Nó cũng là dấu hiệu của tính hiện đại, vì thiên văn học, từ thời Copernic[2], là một ngành khoa học thịnh hành lúc bấy giờ. Nhà vua tỏa sáng từ trung tâm hệ thống xã hội cũng như mặt trời từ trung tâm hệ thái dương. Giống như mặt trời, nhà vua muốn mình là một con người tốt bụng, ngay thẳng, độ lượng, bình tĩnh, nhất quán và không thể mỏi mệt, ban phát hơi ấm và ánh sáng cho mọi người – nói gọn lại, cuộc sống… Mặt trời là một biểu tượng chính trị.

Bước lần theo những dấu ấn của hàng trăm sử gia, anh biết rằng chẳng có gì là phó mặc cho tình cờ trong sự tạo dựng các ngôi vườn. Trong cái công viên vô song này, nhà vua là mặt trời, và mặt trời, về phần nó, là vua. Công viên thì sao phỏng chu kỳ của nó, theo hướng Đông-Tây. Mặt trời mọc phía Đông, bên cạnh “Cour de Marble”[3], sau đó nó đi qua phía trên lâu đài, lượn trên lối đi hoàng gia rồi “Grand Canal” trước khi lặn ở phía Tây, phát tán những tia nắng cuối cùng trên mặt tiền lâu đài. Người ta đồn rằng – dù chưa ai có thể kiểm tra – vào ngày lễ Saint Louis[4], mặt trời, bị khuất phục, đậu lại ngay tại đầu con kênh “Grand Canal”.

Nhưng đối với những nhà dàn dựng, tạo cảnh thời kỳ đó, họ còn cần phải lập ra mối quan hệ nhãn tiền giữa mặt trời và nhà vua. Chính ở chỗ này mà họ đưa ra Apollon! Kẻ trung gian thần linh. Vậy thì trong các ngôi vườn, một khi Apollon được tạc đứng trên cỗ xe của mình thì không một khách nhàn du nào lại có thể không biết đến cái quan hệ giữa nhà vua và Thượng đế. Nhà vua là con của Thượng đế, giống như Apollon là con của Zeus, thần của các vị thần ở đỉnh Olympe[5].

Thế là nói được hết rồi! Đúng là một thiên tài, cái ông Le Nôtre này! Đúng là thiên tài mới thành công được trong việc phổ nhạc – có lẽ anh nên nói là sắp đặt bằng hình ảnh – chiến lược chính trị của nhà vua!

Vì sau đó những bức tượng tự chúng sống động hẳn lên! Le Brun và Colbert đã chuyển giao các chiếu chỉ của nhà vua và các bản phác họa của Le Nôtre cho một nhóm điêu khắc gia – Girardon, Coysevox, Desjardins và Le Hongre – họ đã biến các ngôi vườn Versailles thành một cuốn sách hình ảnh phi thường. Một kinh thánh ngoài trời! Nhưng một kinh thánh không có mặt bất cứ thần thánh lớn nhỏ nào, không có một ám chỉ nhỏ nhặt nhất nào về đạo Thiên chúa. Một vườn địa đàng mới, nơi mà Louis XIV-Apollon đi lại ngang hàng với các thánh thần khác thời cổ đại.

Phần anh, anh thấy khoái chí chạy bộ giữa họ. Dạo này anh không còn mang theo máy nghe nhạc MP3 nữa như thuở ban đầu. Thú vui giản dị và đủ đầy đối với anh là vừa chạy dọc theo các khóm cây, vừa thích thú ngắm nhìn, đến cả lần thứ một trăm, luôn tự hỏi làm sao mà các nhà điêu khắc đầy tài năng này đã diễn tả được huyền thoại Apollon tuyệt vời đến thế. Vì ở đây, mọi thứ đều kể ra một câu chuyện. Mỗi một pho tượng, mỗi một đài nước đều mang một thông điệp. Và khách tham quan, chỉ cần là anh hay chị ta muốn thôi, sẽ được dẫn dắt, giữa những khóm cây, về phía Chân lý, Minh triết và Thiên khải.

Công viên Versailles không chỉ là một công viên, nó chính là ngôi vườn khai tâm mà những người khổng lồ bằng đá cẩm thạch, đứng thẳng trên các bể nước của họ, giấu mình trong những khóm cây, vào mùa đông thì đầu họ được trùm dưới tấm vải màu lục, thầm thì một lời nhắn gởi mà kẻ dạo chơi lơ đãng hiếm khi nghe được. Em đừng nói ngược lại nghe… Em đã cần bao nhiêu thời gian để hiểu?

Trước hết, bể nước Latone khai mạc buổi khiêu vũ hoành tráng của các ẩn dụ: ta thấy ở đấy những dân quê bị biến thành cóc nhái, họ đã từ chối cho tị nạn bà mẹ Apollon đang trốn chạy cùng các con. Sự ám chỉ thì rõ ràng đấy: những kẻ tham gia cuộc biến loạn la Fronde[6] hãy liệu hồn mà xử sự, vì vào ngày 5 tháng giêng 1649, họ đã khiến cho Anne d’Autriche, mẹ của Louis XIV, bỏ trốn cùng hai con trai khỏi Palais-Royal ở Paris bằng cửa hậu để tị nạn ở vùng Saint-Germain-en-Laye! Rồi những bể nước Lézards, ngay bên cạnh Latone, ở đó những con người cũng bị biến thành thú vật bầy nhầy, cũng làm rõ thêm ẩn ý này.

Và cuốn phim tiếp tục ở bể nước Dragon[7]: con Trăn mà Apollon đã đánh thắng khi còn bé, nằm dài ở đấy, mình bị cắm đầy tên. Lại ám chỉ đến những cuộc nổi loạn và những cuộc chống đối. Xa hơn một chút là Encelade, tên khổng lồ tội nghiệp đã liều lĩnh nổi dậy chống lại Jupiter và tỏ ý leo lên đỉnh Olympe, bây giờ nằm dài trong một khóm cây mang tên mình, thân hình bị đè dưới một núi đá, miệng mở toác hoác để cầu xin ông trời lượng thứ. Một sự trừng phạt tàn nhẫn dành cho người khổng lồ, bị chôn sống như thế vì đã làm cho thánh thần nổi giận.

Ngay cả được Thượng đế tấn phong, số phận một ông vua vẫn còn phụ thuộc hoàn toàn vào một cuộc nổi dậy, và Louis thời trẻ biết rõ điều này hơn ai hết. Ông nội ngài, vua Henri thứ tư[8], đã bị ám sát chết. Người anh bà con, Charles thứ nhất[9], vua nước Anh, đã bị xử tử.

Như vậy, mọi ẩn dụ của ngôi vườn đều nhằm cảnh giác những kẻ gan góc có thể liều lĩnh tấn công vào đức vua nước Pháp. Từ tất cả những khóm cây, những đài nước, xuất hiện lời cảnh báo của Louis XIV: “Ta sẽ trừng phạt những tên nổi loạn không gớm tay để làm gương.” Biết bao lần anh ước gì em có mặt bên anh để chỉ cho em thấy ngôi vườn này biểu lộ tính chính trị chừng nào!

Nhưng chắc là anh có lỗi nếu em đã quan tâm quá muộn màng, quá rời rạc, đến các ngôi vườn Versailles. Đáng lẽ anh phải lôi em vào những cuộc tìm hiểu của anh ngay từ lúc đầu. Như thế em mới hiểu hơn niềm đam mê của anh đối với bể nước Apollon. Được đặt thẳng hàng với khoảnh vườn trồng hoa Latone, ngay đầu Tapis vert, Apollon trên cỗ xe trông có vẻ như lao lên trời, chạy như bay đến cứu mẹ… Khi ta biết được những mối liên hệ gắn bó đứa con trai với người đẻ nó ra đời, thì tư thế này có vẻ hoàn toàn tự nhiên. Vị thần Mặt trời quay mặt về phía Latone, nó hợp lô-gíc lắm.

Thế nhưng, cái khiếm khuyết nằm chính ở đó! Làm sao mà anh, mẹ kiếp, lại không nhận ra nó? Tại sao anh đã đợi đến khi Leroux, tên tạo cảnh vườn gàn dở, nói ra mới biết? Apollon được đặt như thế thì có thể, tất nhiên, chào bà mẹ mình, nhưng chàng lại tiến ngược hướng Mặt trời! Đó có phải là một sự lựa chọn tự giác không? Và nếu phải, thì nó che giấu cái gì? Anh đã xoay qua, trở lại trong đầu câu hỏi này không biết bao nhiêu lần. Anh còn nằm mơ về nó nữa đấy. Anh đã xem xét tỉ mỉ cả đống chuyên luận của các sử gia về chủ đề này, đầy dẫy từ ngữ chuyên môn, cũ rích bụi bám dày, thiếu cơ sở vững chắc. Luận cứ phổ biến nhất giải thích là cỗ xe thực ra chạy về hướng động Thétis[10]: thật vậy, ở bể nước nằm gần lâu đài ta có thể chiêm ngưỡng một bức tượng Apollon đang nghỉ ngơi ban đêm, giữa bầy tiểu nữ thần, và sẵn sàng đi tiếp về hướng tây. Một lối diễn giải ngông cuồng, phi lý, nên không lạ gì khi biết cái động đó đã bị phá hủy ngay từ năm 1684.

Trên thực tế, một thứ đồng thuận có vẻ bắt đầu hình thành giữa các tác giả: tư thế lạ lùng của Apollon hẳn là “gây khó chịu” cho huyền thoại mặt trời, nhưng xét cho cùng, việc này đối với họ thì chẳng quan trọng gì. Đối với anh thì ngược lại tất cả. Anh cảm thấy là anh không thể từ bỏ ý định làm sáng tỏ bí ẩn này. Anh bao giờ cũng tìm ra, trong suốt sự nghiệp của mình – và em biết rõ mà – những giải pháp ở ngay những chỗ mà người khác chỉ thấy toàn là vấn đề không à. Trong các lãnh vực phần mềm, công nghệ sinh học, bệnh tật… thế thì tại sao Versailles có thể cưỡng lại anh chứ?

Trực giác anh mách bảo rằng, nếu anh thực sự muốn làm sáng tỏ cái bí ẩn này, muốn thành công chính ngay chỗ những người khác đã thất bại, anh phải tìm thấy những bình đồ nguyên bản mà ông Le Nôtre, nhà tạo cảnh vườn của vua Louis XIV, đã vẽ, những bản phác thảo đầu tiên về cái bể nước này, về “Tapis vert”, về “Grande Perspective”, về những khóm cây, về cái công trình vĩ đại mà ông ta đã gầy dựng ở Versailles.

“Le Nôtre.” “Louis XIV.” “Ngôi vườn Versailles.” “Bình đồ nguyên bản.” “Bản vẽ đầu tiên”. Anh đã lập trình cả chục từ khóa trên artvalue. com, và mạng Internet này gửi cho anh những tín hiệu báo trước mỗi khi những vật dụng mà anh quan tâm có nguy cơ bị đem ra bán đấu giá. Vả lại, thỉnh thoảng vẫn có vài thứ như thế, nhưng chẳng có cái gì liên quan đến Apollon hay các bình đồ nguyên bản của Le Nôtre cả.

Anh trở lại Boston và nhiều tuần lễ trôi qua, anh không có cơ hội nào để chúi mũi vào hồ sơ này. Những cuộc phản công của các công ty cạnh tranh với Controlware làm anh lo lắng, dù rằng bây giờ anh đã không còn nắm giữ trọng trách điều hành xí nghiệp mà để dành thì giờ và tâm trí cho quỹ từ thiện của mình. Puttman thường nổi cơn thịnh nộ, đổ mồ hôi ròng ròng, đuổi việc nhân viên một cách kịch liệt và ném loạn xạ những lon Coca trong các buổi họp. Vấn đề Apollon ngược hướng, như thế, trở thành thứ yếu và sắp sửa chìm sâu vào ký ức hổ thẹn trong bộ óc anh, như một khoảng không gian trong cái đĩa ghi nhớ, nơi anh lưu trữ các bí ẩn – hiếm hoi lắm đấy – mà anh không bao giờ thành công trong việc làm sáng tỏ chúng.

Nhưng vào một buổi sáng, hôm trước ngày Lễ Tạ Ơn[11], ở văn phòng, anh nhận được một cú điện thoại từ Sandra.

— Anh Dan, em nói chuyện với anh được chứ? Em không làm phiền anh chứ?

— Sandra, em không bao giờ làm phiền anh cả.

Sandra từng làm việc cho Controlware, bây giờ thì điều hành quỹ từ thiện mà anh đã lập ra cùng với Amelia. Em biết cô gái này mà! Một mạch vi xử lý ở ngay trong thùy não trái! Chính cô này là người mà anh trao trách nhiệm xem xét các yêu cầu tài trợ. Em biết không, từ khi trở thành một tổ chức từ thiện quan trọng nhất thế giới, bọn anh bị ngập đầu, ngập cổ dưới đống hồ sơ xin tiền gửi đến tới tấp. Về nguyên tắc, bọn anh đã hướng các hoạt động của mình về mục tiêu chống nghèo đói nhưng bọn anh không thể ngăn cản tất cả những cơ sở nhân đạo, những ông, bà chủ các lâu đài hoang phế hay giám đốc các viện bảo tàng thiếu tiền, thiếu vốn viết thư cho mình. Sáu mươi tỉ đô-la có sẵn đó, ai mà không chảy nước miếng…

— Anh Dan ơi, ở đây em đang có một người khách Pháp. Ủy viên công cán của Bộ Văn hóa. Ông ấy đến nói với chúng ta về Versailles.

Sandra biết rằng anh quan tâm đến chủ đề này.

— Ông ta muốn chính xác cái gì?

— Ông ấy nói rằng một nhà sưu tập Pháp đưa ra bán đấu giá ở Paris, qua trung gian của Sotheby’s[12], một cái rương nhỏ Boulle của vua Louis XIV. Đồ vật này có nguy cơ rời khỏi nước Pháp nếu Versailles không tìm ra phương tiện để sở hữu nó. Ông ấy tìm những nhà tài trợ hảo tâm. Đó không phải là việc của chúng ta, anh Dan à, nhưng…

— Giá bao nhiêu?

Sandra đã quen lối nói thẳng của anh.

— Tám trăm ngàn đô-la.

Chuyện nhỏ! Trừ phi anh không muốn vi phạm đến chiến lược của mình. Tiền bạc quỹ từ thiện của anh đâu nhằm làm giàu thêm các bộ sưu tập của các lâu đài Pháp. Nói vậy thôi, anh vẫn có thể mua cho họ với tư cách cá nhân. Nó còn liên quan đến Versailles nữa mà!

— Mời ông ta đến.

Một giờ sau, Pierre de Claverie có mặt ở văn phòng anh. Tuổi độ bốn mươi, cao lớn, đeo kính, mặc đồ lớn màu biển sậm, áo sơ mi xanh, cà vạt màu rượu “bordeaux”, anh ta đã sở hữu dáng vẻ hoàn hảo của một công chức cao cấp Pháp, không thô lỗ chút nào, đủ sức trụ vững trước các chính phủ thay đổi luân phiên. Lẽ ra em đã có thể trở thành y chang như thế nếu một nửa gien em không phải Mỹ. Anh ta đến gặp Sandra để trình bày những dự án của các nhà bảo tồn Versailles trên vấn đề tài trợ hảo tâm. Tiếng Anh của anh ta thì chậm nhưng trau chuốt, và con người này không tỏ ra rụt rè khi thấy mình ở trong văn phòng của ông chủ quyền lực nhất thế giới.

— Ông de Claverie, tôi có ba mươi phút.

Cái mánh cũ của em để tránh cho các cuộc họp kéo dài mãi…

Claverie lấy từ cặp ra các tấm ảnh và tài liệu chứng minh nguồn gốc của cái rương dùng để đồ quý nói trên. Chỉ lớn hơn cái hộp đựng giày chút xíu, nó được làm ra vào giữa những năm 1685 và 1690 bởi André Charles Boulle, và ngay từ đầu, nó được dành cho văn phòng Versailles mà vua Louis XIV vừa mới dọn đến. Anh nghe tên quan chức nói một cách lơ đãng. Lại vừa nhận điện thoại từ Puttman hai lần về vụ án Balco. Mười lăm phút trôi qua, và anh cắt ngang:

— Nghe này, ông de Claverie, chúng ta hãy đơn giản hóa vấn đề thế này. Tôi cho ông tám trăm ngàn đô-la… nếu ông giải thích tôi nghe tại sao cỗ xe Apollon ngược hướng.

Tên quan chức im lặng một lúc, rồi đặt các tài liệu của mình lên bàn. Anh chờ anh ta né tránh câu hỏi, trở lại việc cái rương Boulle, ngay cả cười phá lên. Sai bét. Claverie vẫn tỏ ra thẳng thắn, lạnh lùng.

— Cỗ xe Apollon ngược hướng à… Câu chuyện xưa quá rồi. Nhiều sử gia đã tìm hiểu vấn đề này. Nhưng chẳng xong cái khỉ mốc gì cả, nếu tôi được phép dùng chữ như thế, ông Barett ạ. Các ngôi vườn này đã thay đổi, tiến hóa biết mấy với thời gian!

Anh ta định mỉm cười nhưng tự chặn lại ngay trước khi nói tiếp, giọng nghiêm túc:

— Có lẽ chỉ có một cách duy nhất để kiểm tra. Tìm thấy những họa đồ nguyên gốc của Le Nôtre. Thế nhưng, chuyện này thì cũng nghe nói mà thôi…

— Tất cả những họa đồ cũ của Le Nôtre đã được phân tích, đúng không nào? Chúng đều nằm ở Pháp, nước ông, ở Thư viện quốc gia hay ở Institut de France[13], phải không?

— Đúng thế. Nhưng chắc là ông biết một anh nghiên cứu trẻ người Pháp, Pierre Bonnaure, đã tìm ra cách đây vài tuần một bình đồ đó, có niên đại từ 1664, phải không? Nó nằm trong kho lưu trữ của Thư viện quốc gia Pháp…

— Phải, tôi đã thấy nó trên blog của anh ta. Nó trước đây đã bị người ta gán cho một ông François de la Pointe nào đó trong khi nó được vẽ ra từ chính tay Le Nôtre. Nhưng nó không phải là bản nguyên lai và chẳng mang lại điều gì mới liên quan đến Apollon.

— Thật vậy, nhưng cái khám phá này chứng tỏ ít nhất một điều: không loại trừ khả năng là người ta, một ngày nào đó, sẽ tìm ra các bình đồ khác, xưa hơn nữa, trong các bộ sưu tập cá nhân, các kho lưu trữ, trong các viện bảo tàng cũ kỹ, trong các tầng nóc các ngôi nhà… Nhất là ở Thụy Điển.

Ở Thụy Điển à? Ngay lúc này thì chính anh lại im lặng một chút. Tại sao lại là Thụy Điển? Có cái gì đó đã thoát khỏi sự hiểu biết của anh.

— Viện Bảo tàng Stockholm, - Claverie nói tiếp khi thấy anh tỏ vẻ ngạc nhiên, - sở hữu một bộ sưu tập phong phú nhất những họa đồ của Le Nôtre. Không chừng có một cái nào trong bộ đó liên quan đến Apollon chăng? Có các bình đồ bộ phận không? Hay có ai đó có thể chỉ cho ta chỗ nào mà đi tìm không?

— Làm sao ông biết chuyện này?

Viên công chức ngồi thẳng người trước mặt anh, gần như nghiêm chào. Hãnh diện, em có thể hình dung được mà, khi được dịp phô trương kiến thức của mình về lịch sử nước Pháp. Nhất là trước một người Mỹ.

— Tôi đã làm việc ở Louvre[14] cách đây vài năm, - anh ta nói tiếp. - Chúng tôi trao đổi nhiều nghệ phẩm với Stockholm. Nhưng không bao giờ trao đổi những bản vẽ của Le Nôtre. Chúng không đi đâu ra ngoài hết. Chúng mỏng manh quá.

— Nhưng tại sao chúng lại ở đó?

— Chuyện xưa rồi. Đứa cháu trai gọi Le Nôtre bằng ông bác đã để cho một kiến trúc sư người Thụy Điển vào xem những họa đồ của Le Nôtre. Hắn còn cho phép anh ta làm những bản sao và mang ngay cả các bản gốc về nước mình.

— Ai là người ông liên hệ ở đó?

— Có phải là một câu hỏi với giá tám trăm ngàn đô không?

Anh ta ăn nói một cách khoan thai nhưng suy luận nhanh chóng.

— Ông hiểu hết rồi mà, ông de Claverie ạ.

— Strandberg, Kathrin Strandberg, quản đốc viện bảo tàng.

Ngày hôm sau anh ra lệnh chuyển tiền cho Claverie. Rồi anh bay sang Stockholm.

❀ ❀ ❀

[1] “Cách thức chỉ cho xem những ngôi vườn Versailles”.

[2] Nicolas Copernic, nhà thiên văn học Ba Lan vĩ đại (1473-1543), người đầu tiên đưa ra giả thuyết Trái đất và các hành tinh khác xoay quanh Mặt trời, tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử tư tưởng và tiến bộ khoa học.

[3] Sân Cẩm thạch.

[4] Vua Pháp, Louis IX (1214-1270), được phong thánh vào năm 1297 nên còn gọi là Saint Louis.

[5] Olympe: đỉnh núi cao nhất nước Hy Lạp (2917 mét), được người Hy Lạp xem là nơi cư ngụ của các đấng thần linh.

[6] La Fronde (1648-1653): từ dùng chỉ những cuộc biến loạn xảy ra khi vua Louis XIV còn nhỏ tuổi, chống lại chế độ nhiếp chính của mẹ vua, thái hậu Anne d’Autriche và thủ tướng - hồng y Mazarin. Cuộc nổi loạn này của nhân dân Paris và một số quý tộc cuối cùng thất bại.

[7] Có nghĩa là con rồng.

[8] Henri IV (1553-1610), vua Pháp thuộc triều đại Bourbon. Bị tên Ravaillac giết chết.

[9] Charles đệ nhất (1600-1649), vua nước Anh thuộc triều đại Stuart. Bị Quốc hội Anh kết án tử hình rồi sau đó bị chặt đầu ở Luân Đôn.

[10] Theo thần thoại Hy Lạp, Thétis là một trong năm mươi nữ thủy thần (Néréides) con của Nérée, thường cứu giúp các thủy thủ bị nạn. Thétis là mẹ của Achille.

[11] Thanksgiving Day. Ở Mỹ, là ngày thứ Năm cuối cùng của tháng Mười một hàng năm.

[12] Sotheby and Co., hay Sotheby’s, một doanh nghiệp toàn cầu quan trọng nhất về bán đấu giá, được thành lập vào năm 1733 ở Luân Đôn. Chuyên về đồ cổ và các tác phẩm nghệ thuật.

[13] Institut de France là một tập hợp gồm năm hàn lâm viện của nước Pháp: Académie française (Hàn lâm viện Pháp), Académie des inscriptions et belles- lettres (Hàn lâm viện bi ký học và ngữ văn), Académie des sciences (Hàn lâm viện khoa học), Académie des beaux- arts (Hàn lâm viện mỹ thuật) và Académie des sciences morales et politiques (Hàn lâm viện khoa học đạo đức và chính trị).

[14] Viện bảo tàng danh tiếng ở Paris, thuộc hàng lớn nhất thế giới, được lập ra từ năm 1791.

hà băng, quản lý các cổ phần đầu tư của mình bằng Internet, sưu tầm các phao cứu đắm và những cuộc đi chơi xa ở công viên quốc gia Yosemite, và đôi khi… Tất nhiên họ vẫn xuất hiện như một cặp đôi mỗi khi có thể. Nhưng chỉ mỗi khi có thể thô
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Christine Kerdellant - Éric Meyer

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.