— Canis lupus, nghĩa là sao đây?
— Chó giống sói. Tiếng La-tinh.
— Em có một tập tin có tên như thế.
— Cứ nhìn tiếp đi…
Emma và Pierre đã trở lại chiếc giường-đi văng trong phòng của Dan, và thay phiên nhau gõ lên bàn phím máy tính của ông ấy. Từ hơn một giờ rồi mà họ vẫn tìm những tập tin có mang từ “chó”, những cuốn sách cuối cùng mà Dan đã số hóa về đề tài này, và tất cả những gì có thể liên quan đến người bạn tốt nhất của con người. Họ đã dịch từ “chó” và “chó xù” sang mười thứ tiếng để tìm một cái nghĩa kép mà họ không biết. Vô ích.
— Em thấy… - Emma lên tiếng sau khi nhìn tập tin Canis lupus. - Đây là danh sách các tin rao vặt. Em nhớ là Dan muốn so sánh giá một con chó thật với giá của Kagébé.
Pierre tỏ vẻ ngạc nhiên.
— Anh không hình dung ra là ông ta lại lo nghĩ về mấy thứ chi tiết nhỏ nhặt thế này!
— Ồ, anh biết đấy, Dan không bao giờ ở nơi mà người ta chờ đợi anh ấy.
Emma buông thõng hai tay xuống đầu gối, thở dài chán nản. Hay buồn bã, nàng cũng chẳng biết rõ nữa. Pierre thì nghĩ ngợi, đứng bên cạnh cửa sổ, dùng ngón tay cào chỗ nối bằng thạch cao bị lồi ra.
— Chờ chút xem, - anh nói tiếp, quay mặt về phía nàng. - Và nếu Barett đơn giản muốn nói là phải tìm tại chỗ các con chó thì sao?
Nàng ngước mắt nhìn lên trần nhà.
— Vì anh nghĩ là ta đang làm cái quái gì ở đây?
— Không phải thế, anh muốn nói là tìm một cách thực tế ở chỗ các con chó: chỗ có cũi chó, rổ rá, cà mèn của chúng, sao anh biết hết được…
Chuông điện thoại reo lên khiến Emma không trả lời được.
— Brad đó! Cho em một phút nghe!
Nàng đứng dậy và đi đến cửa ra vào. Cuộc gọi của Brad đến không đúng lúc, nhưng – nàng liếc nhanh về đồng hồ đeo ở cổ tay phải – 1 giờ sáng ở San Francisco, và anh đã tìm cách gọi nàng suốt cả buổi tối. Không lẽ bây giờ nàng lại bảo chồng gọi lại sau.
— How are you, babe?[1] Anh lo lắng cho em quá. Darling[2], anh không thích khi biết em đang ở một nước như thế này.
Nàng suýt trả lời rằng Paris vào lúc này chắc chắn là không bị nguy hiểm hơn các thành phố lớn bên Mỹ. Và có lẽ số mệnh của cường quốc hàng đầu thế giới đang nằm trên bàn cân ở ngay đây. Nhưng nàng dằn lại. Cái làm nàng bực mình nhất, trong thực tế, là anh ta cứ gọi nàng babe. Bé. Dĩ nhiên, lời âu yếm nhỏ bé này thì còn thích hợp, mười năm trước, vào cái thời mà sự cách biệt tuổi tác giữa hai người còn rõ rệt hơn ngày nay, và cũng vào cái thời mà như ông bác sĩ phân tâm học của nàng đã giải thích, nàng tìm thấy nơi Brad “một kẻ thế vị người cha”. Nhưng hiện giờ thì đâu còn như vậy nữa. Vả lại, nàng đã yêu cầu anh ta tìm một cái tên gọi âu yếm khác. Anh ta từ chối.
— Dù có cố đi nữa, darling, anh vẫn không làm được.
Trên thực tế, ngay cả darling cũng không làm nàng hài lòng. Quá ước định. Không đủ tự phát. Nàng đi xa thêm vài bước trong hành lang: Brad nói to đến nỗi Pierre hẳn là có thể nghe được cuộc nói chuyện của vợ chồng nàng.
— Nghe này Brad, em có ít thì giờ lắm. Em đang bận… Vâng… Một chuyện rất quan trọng. Em sẽ nói với anh về chuyện đó lúc khác… Nhưng em cam đoan với anh là mọi sự sẽ ổn mà…
— Em vẫn còn ở Arromanches chứ?
— Không, em ở Versailles rồi, trong nhà của Dan.
— A! Ý hay làm sao! Ở đó thì an ninh cho em hơn! Rebecca có ở với em không?
— Chưa, nhưng em hy vọng là nó sẽ đến đây với em sớm.
Emma không muốn nói với Brad về đứa con trong bụng con gái mình. Anh ta sẽ biết nhanh thôi nếu đứa trẻ này thực sự có thật. Đêm qua nàng cứ suy đi nghĩ lại cái tin này, và nàng vẫn cảm thấy không tin được.
— Khi nào thì em trở về San Francisco, darling?
— Em không biết. Ngay khi em xong việc!
— Anh không thích khi biết em đang ở một nước như thế này, anh ta lặp lại.
Anh ta sắp sửa nói thêm gì đây? Anh ta thường xổ ra cả tràng dài về nước Pháp “cổ lỗ sĩ”, “kiêu căng”, “tự cho mình là có đầu óc sáng tạo trong khi các con số thì chứng minh ngược lại: số lượng các bằng sáng chế, sách, phim ảnh, sự vắng mặt các nghệ sĩ đương thời…”. Emma cảm thấy là việc mà Brad cứ nhấn mạnh, cứ nhai đi nhai lại đề tài này, đã trở nên nặng nề khó chịu. Đối với anh ta, người Pháp chỉ được cái kiểu mẫu trong lãnh vực tình ái thôi. “Chuyện này, ít ra là anh đã thử rồi”, anh ta vừa nói, vừa liếc xéo nàng.
— Và đối với tổng giá trị cổ phiếu của anh ở Controlware, Emma này, em tư vấn cho anh làm gì đây? Cổ phiếu đó đang tuột dốc ở Wall Street, em có nghĩ là…
Emma suýt trả lời chồng mình: anh hãy chờ một hay hai ngày; nếu chúng ta thành công, cổ phiếu sẽ leo lên lại như tên bắn; nếu không, nó sẽ sụp đổ thực sự và kéo dài rất lâu. Vào lúc này, đối với nàng thì giả thuyết thứ hai có vẻ có khả năng xảy ra hơn cả. Thế nhưng, nếu nàng chia sẻ thông tin nội bộ với Brad, nàng tự đặt mình ra ngoài vòng pháp luật. Tội của người hiểu biết các bí mật mà cố ý lộ ra để trục lợi. Nàng không đùa với những chuyện này. Ở công ty Berkings & Shannon, nàng đã đuổi thẳng tay một trong những cộng sự đắc lực nhất của nàng bởi vì ông ta buôn bán những món chứng khoán nhỏ cho cá nhân mình bằng cách sử dụng những thông tin có được trong khuôn khổ công việc của ông ta. Phải “biến” khỏi văn phòng ngay trong giờ đó. Cho mười phút để thu dọn đồ đạc riêng. Nhưng không được mang theo máy vi tính, tất nhiên rồi. Emma chưa bao giờ tỏ ra cứng rắn như ngày hôm đó. Vì vậy, bây giờ nàng dứt khoát sẽ không cung cấp cho Brad các thông tin về Controlware. Và không chỉ do sự tôn trọng luật pháp: tận đáy lòng, nàng biết có điều nghiêm trọng hơn. Nếu nàng hối thúc Brad bán ra các cổ phiếu Controlware của anh ta, nàng hẳn sẽ có cảm tưởng là mình phản bội ký ức của Dan. Làm Dan chết lần thứ hai.
— Anh cứ làm theo ý mình đi, - nàng lẩm bẩm, - anh chắc chắn là có những thông tin tốt hơn em vào lúc này.
— Emma, có chuyện gì vậy? Em yêu, anh nhớ em lắm, anh…
Chuông reo báo hiệu có một cuộc gọi khác đang chờ đã cắt ngang những lời âu yếm của Brad.
— Rebecca gọi đó, em phải chấm dứt ở đây! Chúng mình sẽ nói chuyện lại tối nay. Hôn anh.
— Hẹn tối nay. Anh yêu em.
“Anh yêu em”… Trong khi chuyển sang cuộc gọi của Rebecca, nàng tự nhủ là Brad đã nói ra những từ này một cách máy móc, theo kiểu Mỹ. Nàng đã thấy trên bàn đầu giường của Brad cuốn sách nổi tiếng “Les hommes viennent de Mars, les femmes viennent de Vénus”[3]. Một thứ kinh nhật tụng của những cặp đôi hoàn hảo, những người biết đối thoại “xa hơn những sự khác biệt của họ”. Điều răn số 1 (cho chàng): nói với vợ “anh yêu em” hai hay ba lần trong ngày để nàng cảm thấy được an toàn (và để mình yên thân).
— Mẹ! Mẹ ở đâu đấy? - Rebecca kêu lên, giọng nghẹn ngào.
Cô cũng đã tìm cách liên lạc với Emma cả hai chục lần từ ngày hôm trước.
— Con yêu, mẹ đang ở Versailles, trong nhà của Dan Barett. Biệt thự Trianon, mẹ đã nói với con về nó rồi. Mẹ muốn con đến đây gặp mẹ. Mình thảo luận dễ dàng hơn khi đối diện nhau, phải thế không?
Nàng cảm thấy cô con gái tỏ vẻ tránh né.
— Mẹ biết đấy, mom, chẳng có gì để mà thảo luận cả. Con đã quyết định rồi. Con muốn giữ đứa bé.
— Nghe này, mình không nói về chuyện đó ngay bây giờ! Điện thoại có thể bị cắt lúc nào không biết. Nhưng có một đứa con thì trách nhiệm nặng nề lắm đấy…
— Lại chính mẹ nói ra điều này à?
Emma nhắm mắt. Con gái nàng đã chỉ ra chính xác nỗi đau nơi nàng. Nàng đành bỏ qua lời nhận xét của con.
— Con có muốn lấy cây bút chì và ghi lại địa chỉ không? Số 57 đường Faubourg-Saint-Antoine. Con đến ngay khi có thể, đồng ý không nào? Chiều nay được không?
Emma tắt máy mà không nhận được câu trả lời thực sự và tự nhủ là Rebecca sẽ không đến đâu. Rồi nàng trở lại phòng “Moi”, bứt rứt trong người. Pierre liếc nhìn nàng. Nàng thấy và hiểu là anh đã đoán được tình trạng bối rối nơi nàng. Emma không thể che giấu những dấu hiệu lâm sàng của sự phiền lòng. Đôi mắt trông như co lại. Ở dưới, phía bên trái, gân xanh đột ngột trở nên thấy rõ. Khóe môi giãn dài ra về phía dưới. Pierre đã thấy ra tất cả. Anh không có ý hỏi han nàng.
— Anh đang nói gì đó trước khi em trả lời điện thoại?
— Anh nói là ta phải lục lạo những nơi chốn mà mấy con chó của Elsie đã sống.
— Ngoại trừ chuyện là ta không biết ở đâu…
— Có hai cái cũi chó, gần cổng ra vào và dọc theo lối đi, khi chúng ta đến tối qua.
Anh có lý. Nàng cũng đã tự hỏi hai cái đó dùng để làm gì: ở đầu các dây xích thì không có chó. Có lẽ chúng nó ngủ ở chỗ tên gác dan à?
— Ta đi đến đó chứ?
Emma không có thì giờ để trả lời là nàng không chắc chắn đã thấy hai cái cũi đó vào lần đầu tiên nàng đến ngôi biệt thự; Pierre đã ra khỏi phòng rồi.
Họ lao xuống cầu thang và vội vã chạy vào sân. Đã gần 11 giờ và không một áng mây nào ngăn mặt trời rọi nắng xuống đằng kia, sau lưng họ, trên Grand Canal, Orangerie, hai Trianon. Sắc da màu chì của Apollon chắc sáng rực lên, lấp lánh ánh phản chiếu vàng. Có những ngày như thế này, Pierre chợt nghĩ, ngày mà các thiên thần (Thượng đế?) đã quyết định ra tay cọ rửa sạch sẽ Versailles. Một ngày như vậy có thể nào chấm dứt bằng một ngày tận thế không?
Pierre dằn lòng, không nắm tay người đàn bà trẻ đang chạy bên anh trên lối đi.
Họ đến chỗ lưới sắt, thở hổn hển. Phía bên phải, dưới những cây cao bóng cả, hai cũi chó bằng gỗ nằm đối diện căn nhà nhỏ của tên gác dan. Cũi thứ nhất cao chừng một thước, bằng gỗ thông sẫm, trông giống như nhà gỗ ở miền núi. Phía trên cánh cửa, gỗ được thay bằng những miếng ca-rô thủy tinh màu, giống như thỉnh thoảng ta thấy ở cửa sổ các tiệm ăn. Cũi thứ hai, bằng gỗ sáng, trông cổ điển hơn.
— Cái đó thì người ta tìm được trong tất cả các tiệm bán đồ làm vườn, - Emma bắt đầu.
— Cái kia, ngược lại, sẽ làm vui mấy anh bán đồ cổ đó, - Pierre thêm vào.
Ngay khi họ vừa ngồi xổm trên mặt đất để nhìn vào bên trong thì Terry đi ra từ căn nhà mình đi ra. Emma đứng lên, bước về phía hắn.
— Bọn tôi đang tìm một đồ vật nhỏ mà Dan Barett có thể cất giấu trong cái cũi chó đó, - nàng giải thích.
Terry phì cười.
— Ông Barett mà làm thế sao?
— Tại sao không chứ? - Emma đáp trả, tức mình.
— Đó là cái cũi của Galaad. Một con chó béc-giê Đức to lớn, hiền lành với con nít nhưng dữ tợn với người lạ. Ông Barett bao giờ cũng tránh xa nó. Ông thích con chó điện tử hơn.
— Dù sao thì cũng nhìn qua một chút, được chứ?
— Nếu bà không ngại áo quần lấm đất…
Pierre, hai tay chống trên lớp sỏi, xem xét cái cũi lớn dưới tất cả các góc độ. Trống trơn. Emma chỉ đứng nhìn. Khi anh sắp sửa quay sang cái cũi nhỏ nhất thì nàng kêu lên:
— Pierre, em có ý này! Em biết chỗ mà Dan cất giấu tập tin đó!
Pierre nhìn trộm nàng và tiếp tục công việc cho đến khi xong, không nói một lời. Nàng lúc nào cũng tiến quá nhanh. Nàng quay sang Terry.
— Kagébé! Kagébé đang ở đâu ngay lúc này?
— Trong cũi của nó… hay nói cho đúng hơn, không phải đó: nó đang sạc điện trong bếp nhà tôi.
— Nhanh lên! Ta đi đến đó!
Nàng ra dấu cho Pierre đi theo đến căn nhà nhỏ của tên gác dan. Emma chưa từng bước vào trong đó. Căn nhà bé tí, hư nát và trang bị sơ sài, với một mảnh vườn nhỏ chỉ có độc chiều dài. Cửa thì mở ngay vào phòng khách mà ta phải đi ngang qua để vào bếp. Một cái bếp đàn ông, Emma nghĩ thầm. Trên các kệ chất lộn xộn hàng chục thứ dụng cụ dùng trong việc sửa chữa linh tinh: búa, kềm, chìa khóa, máy khoan nhỏ, máy cưa cầm tay… và ngay cả một dụng cụ dùng để mở cuộn ru-băng kim loại cho phép ta cột các gói đồ hay giữ cho chặt các kiện hàng được đặt trên tấm sàn gỗ nhỏ cho dễ di chuyển.
Con chó rô-bốt đang ngồi trên mặt bàn bằng ván nhựa cứng lốm đốm nhiều chỗ bị cháy, hai cẳng sau gập lại, có dây nối vào ổ cắm điện. Emma ghi nhận sự tương phản giữa cái vật dụng xa hoa bằng ti-tan và cảnh bần cùng của nơi chốn này. Chắc chắn là Dan đã không hình dung những chuyện như thế. Terry chắc là say mê con chó điện tử này lắm và nhận “nuôi” nó.
— Tôi chắc chắn là Dan đã giấu một cái USB dưới bụng nó, - Emma nói. - Hay một con chíp chứa đựng những hàng mật mã.
— Tôi không nghĩ vậy, - Terry đáp trả. - Bà biết đấy, tôi đã quan sát nó kỹ lưỡng… Tôi không nghĩ rằng Kagébé cất giấu bất cứ cái gì, không ở dưới bụng cũng như không ở bất cứ chỗ nào khác.
Pierre rút dây điện khỏi con thú, nhấc nó lên một cách thận trọng. Anh cảm thấy ánh mắt nghi hoặc của tên gác dan hướng về phía anh.
— Anh đã tháo nó ra chưa?
— Tôi không dám liều như vậy!
— Tôi có thể mang nó đi chứ?
Bộ mặt của tên gác dan trở nên cau có.
— Nếu ông mang nó trả lại tôi trong tình trạng hoạt động tốt…
Emma nói với Pierre là nàng sẽ gặp anh sau và nhìn anh rời đi về phía biệt thự, tay ôm con chó. Nàng muốn nói chuyện với Terry, mặt đối mặt thì dễ hiểu nhau hơn.
Nàng chất vấn tên gác dan hơn nửa tiếng đồng hồ. Barett đã gặp ai trong những lần cuối cùng ông đến đây? Ông đã làm gì? Ông đã chỉ đạo các công việc chỉnh trang cuối cùng ra sao? Có lẽ có một chi tiết nào đó mà nàng không biết tới. Nàng không nên bỏ qua bất cứ hướng tìm tòi nào.
— Bà có biết ông bị cái gì ám ảnh khi ông đến đây hồi tháng bảy không? - Terry đột ngột hỏi từ chỗ ngồi cạnh bàn ăn trong bếp.
Emma để ý là màn hình kiểm soát của ngôi biệt thự ngồi chễm chệ trên mặt bàn cạnh bồn rửa chén.
— Không, vậy nói tôi nghe đi.
— Bạch quả. Bà biết đó là cái gì chứ?
— Một loại cây ư?
— Đúng vậy, thưa bà Shannon, nhưng không phải bất cứ loại cây nào! Cây bạch quả của biệt thự Trianon đã bị trốc gốc một phần trong cơn bão lớn vào năm 1999. Ông Barett yêu thích cây này lắm, ông đã làm tất cả để cứu nó.
— Thật vậy à? Ông ấy không bao giờ nói với tôi về nó cả. Nó ở đâu, cây bạch quả đó?
— Ở cuối vườn, gần bức tường bao quanh nhà. Nó tỏa bóng mát xuống các ngôi mộ.
Emma mở to mắt.
— Các ngôi mộ à? Bộ có nghĩa địa ở đây sao?
— Ủa, bà không thấy à? Nghĩa địa các con chó. Phu nhân Mendl yêu thích mấy con chó xù lắm và…
Nhưng Emma không nghe hắn nữa.
Hắn thấy nàng chạy vụt đi, vòng tránh ngôi nhà và hướng về phía bức tường ngăn cách ngôi biệt thự Trianon với công viên của lâu đài. Mộ các con chó! Nàng chắc đã nhìn thấy chúng, vào lần đầu tiên mà Dan đưa nàng đi xem ngôi vườn. Nhưng lúc đó nàng chỉ muốn nhìn cái hồ bơi ngoài trời – bể nước cũ của Phu nhân Mendl - rạp hòa nhạc và những lối đi nhỏ dưới bóng cây, sống động với những bức tượng đặt hai bên.
Nàng nhận ra từ xa dáng cao lớn của cây bạch quả, thân hơi đỏ, lá hình bướm. Nàng từng nghe nói là những cây này – những hóa thạch sống đích thực, hiện diện từ thời kỳ khủng long – có giới tính. Nhưng bây giờ không phải là lúc tự hỏi nó đực hay cái.
Bên tay phải nàng, bốn tấm bia bằng cẩm thạch được đặt ngay hàng sát bức tường. Emma bước lại gần, chậm chân hẳn lại, không gây ra tiếng động, giống như mỗi khi người ta đến gần một ngôi mộ. Bốn nấm mồ đều mang mỗi cái một bức ảnh một con chó xù thu nhỏ trong khung bầu dục. Những dòng chữ tưởng niệm khắc trên cẩm thạch thì không thể đọc được, bị phủ bởi rêu xanh và bụi bặm. Emma tin rằng đã phân biệt được một chữ “J” và một chữ “Y” trên một tấm bia, và một niên đại, “1922”, có lẽ thế, trên một cái khác. Elsie de Wolfe chắc say mê các chú chó của mình đến mức chôn cất chúng như thế, giống như con người. Emma hình dung bà ấy, vào buổi tối, dưới ánh trăng trong vườn, ngồi khóc các con poodle của mình. Phu nhân Mendl, ngày nay, có làm y chang như vậy đối với Kagébé không? Tại sao không chứ… Emma đã từng chứng kiến nhiều người đàn ông ôm hôn máy tính của họ.
Cách các nấm mộ vài thước, một cái bàn và bốn cái ghế bằng kim loại, phong cách Art nouveau, nằm kề bên một đài nước có hình dạng chậu nước thánh, trên là tượng Amour bằng thạch cao. Một vài giọt nước lười biếng rơi xuống từ miệng con cá mà thằng bé cầm ở tay. Emma dùng mấy đầu ngón tay phủi bụi một chiếc ghế, ngồi xuống và ngắm các mộ bia. Sự tĩnh mịch nghĩa địa luôn cuốn hút nàng. Ở những nơi chốn đắm mình trong sự lặng im và nỗi buồn man mác như thế này, nàng cảm thấy thoải mái lạ lùng.
“Elsie đã không xây những nấm mồ này bất kể chỗ nào,” nàng nghĩ. “Các thầy tu cũng thế, họ đã chọn những địa điểm tuyệt vời để xây tu viện. Hơn nữa, bà có đất rộng. Bà hẳn có thể chôn cả một vườn thú ở đấy cũng được mà.”
Tinh thần thực dụng của nàng tác động mạnh trở lại. Nàng vẫn ngồi im tại chỗ, trước các tấm bia quá ngay hàng thẳng lối. Một chi tiết làm nàng bận tâm. Vừa rồi, khi các bức ảnh lần lượt hiện ra trên màn hình trong phòng nàng, không phải là có ba nấm mộ mà nàng thấy ở hậu cảnh sao? Nhưng ngay đây, trước mắt nàng, lại có bốn cái.
Nàng chạy về ngôi biệt thự, vội vã đi vào căn phòng mang tên nàng. Nàng cho các bức ảnh hiện lên lần lượt trên màn hình, và lần này thì chăm chú đọc các chú giải được in chồng lên ảnh.
Troop, sinh năm 1908, từ trần năm 1915
Be-bop, sinh năm 1919, từ trần năm 1922
Jelly, sinh năm 1922, từ trần năm 1932
Sau đó hiện ra hình ảnh của Elsie de Wolfe đứng chụp trong vườn với con chó xù: Phu nhân Mendl với Moon, tháng 7-1949. Ở hậu cảnh, người ta nhận ra bức tường bao quanh nhà. Emma bước lại gần màn hình. Sau lưng Elsie, bà được chụp cả người, ta thấy rõ ba nấm mồ. Hai trong ba cái thì nằm kề nhau, và cái thứ ba thì xa ra khoảng hai thước.
— Pierre ơi! Đến xem này! - Nàng kêu lên.
Anh chuyên gia tin học đang xem xét con chó rô-bốt trong phòng bên cạnh, tức phòng của Dan, nghe gọi liền đến ngay, không thấy bực khi công việc bị ngưng ngang. Anh đã không tìm được cái gì, trên hay trong Kagébé. Và vặn lại các con vít cho đúng chỗ khiến anh bực dọc. Phức tạp hơn khi lắp ráp giàn bếp Ikea của Clara trước khi đi nghỉ hè.
— Anh thấy đấy, - Emma vừa nói, vừa chỉ bức ảnh sau khi kể cho anh nghe những gì nàng mới vừa phát hiện trong vườn. - Ảnh này được chụp một năm trước khi Elsie chết vào năm1950, và trên ảnh thì chỉ thấy ba nấm mộ. Nấm mộ thứ tư rất có thể là của Moon, con chó mà bà ôm trong vòng tay. Nhưng nếu đúng như vậy thì tại sao mộ của nó lại nằm ngay giữa ba cái mộ kia mà không phải là nối tiếp? Tại sao Elsie trước hết đã để dành một khoảng đất trống giữa hai mộ đầu và mộ thứ ba?
— Không có tên trên các nấm mộ sao? - Pierre hỏi.
— Có chứ, nhưng không thể đọc được, anh đến xem đi…
Ánh nắng mặt trời làm hai người chói mắt thêm một lần nữa khi họ bước qua cánh cửa ở hiên nhà. Mặt trời sắp sửa đúng ngọ và nóng bức hầu như không thể chịu được, ngay cả dưới bóng cây bạch quả. Pierre ngồi chồm hổm gần một tấm bia và dùng ngón tay chùi hàng chữ khắc trên đá.
— Không thể đọc được đâu, em nói rồi, - Emma nhấn mạnh.
Pierre mỉm cười bí ẩn.
— Chưa chắc… Đừng đi đâu hết, anh quay lại ngay!
Năm phút sau anh đến với một xô nước và một cái chậu đựng đầy cát mịn. Anh đặt chúng xuống trước các nấm mộ rồi lấy ra từ túi một cây cọ.
— Mấy thứ này có làm em nhớ đến cái gì không? - Anh hỏi, không quay mặt lại.
Như anh đã làm trước đó ở nghĩa trang quân đội Mỹ, Pierre bắt đầu phủ phía trên các tấm bia bằng cát ướt. Trời nóng đến độ lớp bột nhão màu nâu hầu như khô ngay tức khắc. Rồi anh dùng cây cọ quét cẩn thận xung quanh các chữ khắc trên đá. Emma đứng bên cạnh anh, không dằn nổi sự nóng ruột, đánh vần các chữ lần lượt hiện ra. Khi Pierre đứng dậy, các hàng chữ đã có thể đọc được.
Emma đọc to:
Troop, 1908-1915
Be-bop, 1919-1922
Ours, 1950-1964
Jelly, 1922-1932
Rồi cả hai người đều bất động, kinh ngạc, trước tấm bia thứ ba, cái đã không có mặt trong bức ảnh của Phu nhân Mendl.
— Con chó này không thể nào chôn ở đây năm 1964 được! - Emma kêu lên. - Elsie đã chết từ mười bốn năm trước! Vả lại, anh đã thấy rõ trên bức ảnh: con chó xù cuối cùng của bà mang tên Moon, chứ không phải Ours!
Pierre không trả lời ngay.
— Và anh thấy đây chứ? Nó có tên Pháp, con chó đó. Lạ lùng thật! Tại sao lại là “Ours”?[4] Lẽ ra nó phải mang tên Bear[5] chứ? Anh có nghĩ rằng, với thời gian, Elsie càng ngày càng cảm thấy mình Pháp không? Dù sao, cũng lạ lắm…
Pierre đang ngồi dưới đất bỗng đứng bật dậy.
— Emma, hãy lặp lại lời em vừa nói!
— Dù sao, cũng lạ lắm?
— Không phải, không phải câu này, cái câu ngay trước đó!
— Tại sao con chó xù cuối cùng lại có tên Pháp, “Ours”?
Pierre nhìn nàng chằm chằm. Nàng đã không phát âm “ours” cùng một cách giống như lần đầu. Dù là nói tiếng Pháp một cách hoàn hảo, nàng vẫn đưa vào, dĩ nhiên là không để ý, một chút âm “z” trong âm “s”.
Anh siết chặt hai nắm tay.
— Ours, Emma! Anh hiểu ra rồi! Đó không phải là một từ Pháp! Đó không phải là dịch từ bear ra! Đó là ours tiếng Anh, có nghĩa là…
— Ours? Như yours[6] vậy hả? Nói cách khác: “của chúng ta”, đúng không nào?
— Của chúng ta… hay “le nôtre”, Emma ơi! “Le Nôtre”!
❀ ❀ ❀
[1] Có thể dịch là “Bé ơi, khỏe không?”
[2] Ở đây có nghĩa “Em yêu”.
[3] “Đàn ông đến từ sao Hỏa, đàn bà đến từ sao Kim”.
[4] Tiếng Pháp, có nghĩa là con gấu.
[5] Tiếng Anh, có nghĩa là con gấu.
[6] Tiếng Anh, có nghĩa “của, hay thuộc về, ông/bà, anh/chị, các ông/bà, các anh/chị, các bạn… ; và “ours” có nghĩa “của, hay thuộc về, chúng ta, chúng tôi.”