Cửa Mật

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20
20

❊ ❊ ❊

Ngày trước…

Lâu đài Versailles luôn là một cái thùng không đáy. Hút tiền liên tục từ ngân khố quốc gia. Dưới thời vua Louis XIV, Colbert[1] mất ăn mất ngủ vì nó. Ngày nay, các quản đốc bảo tàng săn tìm một nhà tài trợ nghệ thuật nhằm trùng tu cái trần nhà, tái thiết một khóm cây, mua lại một món đồ gỗ như tủ hay bàn… Nói cho gọn, để người ta thuận tình cho anh sục sạo lâu đài Grand Trianon, anh biết là vô ích nếu đi qua con đường chính thức. Chỉ cần một hành động cao thượng trong việc tài trợ nghệ thuật, một cử chỉ đập vào mắt là đủ.

Vì vậy anh đã liên lạc với Claverie. Anh thấy có cảm tình với anh ta từ khi được anh ta hướng tới Stockholm. Anh biết là đề nghị của anh sẽ làm lợi cho sự thăng tiến nghề nghiệp của anh ta. Anh đi thẳng vào mục tiêu.

— Tôi sẵn sàng bỏ ra một triệu đô-la để trùng tu các khóm cây. Nhưng với một điều kiện: người ta để tôi trải qua bốn mươi tám giờ trong điện Grand Trianon mà không bị quấy rầy.

Ở đầu dây bên kia, ngài viên chức cao cấp nhận cú sốc. Phản ứng thông thường trong giới văn hóa ở Pháp. Ngay khi ta mở miệng nói chuyện tiền bạc thì y như rằng ta trở nên đáng nghi. Hãy thử đi hỏi giá một bức tranh trong phòng triển lãm mà xem. Ta sẽ bị cho là đồ nhà quê. Ở xứ sở này, người ta nói về tác phẩm, chứ không nói về sản phẩm. Về sự sáng tạo, chứ không về tiền nong. Hay trong trường hợp đó thì tính bằng tiền quan Pháp cũ.

Vậy mà anh ta, những kẻ khác, tất cả! lúc nào cũng chạy kiếm đô-la.

Anh nện mạnh cái thông điệp vào đầu.

— Tôi muốn bị nhốt kín trong Trianon trong hai ngày. Một triệu đô-la.

Fair deal, no?[2]

Ở đầu dây bên kia, một khoảng lặng. Anh đóng đinh sâu vào.

— Việc cho tặng này có giá trị trong vòng một tuần. Nếu không nhận thì tôi sẽ tài trợ cho việc bảo vệ Venise.

Claverie cuối cùng thì cam đoan với anh là anh ta sẽ cố gắng hết sức. Hai ngày sau anh nhận được cú điện thoại của Bộ Văn hóa. Chánh văn phòng của Bộ trưởng.

— Ông Barett đấy phải không?

— Chính tôi.

— Về chuyện Versailles… de Claverie có nói với chúng tôi. Thủ tướng đã đồng ý. Thật không dễ chút nào. Nhưng thỏa thuận rồi. Đã ra các chỉ thị. Điện Grand Trianon dành riêng cho ông một đêm. Mười hai giờ, chúng tôi không thể làm hơn được.

— Tôi đã yêu cầu bốn mươi tám giờ.

— Không thể được.

— Vậy thì mười hai giờ, nhưng có thể gia hạn nếu tôi có nhu cầu.

— Số tiền là…?

— Tôi vẫn giữ nguyên.

— Chúng tôi đồng ý.

— Cảm ơn ông.

— Ông Barett, còn một chuyện.

— Tôi nghe đây.

— Ông biết quy định của chúng tôi.

— Vấn đề an ninh à?

— Vâng, tất nhiên rồi. Một quản đốc bảo tàng sẽ đi cùng ông. Nhưng tôi không muốn nói về chuyện này.

— Vậy thì chuyện gì đây?

— Báo chí, ông Barett à. Chắc chắn là báo chí sẽ quan tâm đến các động cơ của nhà tài trợ nghệ thuật cho việc trùng tu các ngôi vườn. Nếu một nhà báo đặt câu hỏi Nhà nước Pháp đã đổi lại cái gì cho nhà tài trợ, ông đồng ý với chúng tôi là sẽ…

— Kín đáo.

— Đúng là điều này đó.

— Tôi là một người “mê say” Versailles, một kẻ mê say “vô vụ lợi”, phải thế không nào? Trong “truyền thống hữu nghị vĩ đại Pháp-Mỹ”, từ các ông Rockefeller…

— Hoàn toàn rồi! Đúng là điều này đó. Tôi thấy là chúng ta hiểu nhau, ông Barett à.

Và ông ta gác máy. Thật là kỳ lạ biết mấy khi bộ máy hành chánh nước Pháp có thể nhanh chóng đối với những người có phương tiện thúc bách nó.

Mười hai tiếng đồng hồ ở điện Trianon! Ngắn ngủi đó, nhưng khả thi. Nói thực tình, để được hữu hiệu anh muốn đi đến đó một mình hơn. Hay với em. Nhưng anh không thể thiếu Granier được: đó là ý tưởng của anh ta. Về phần Kathrin, nàng giúp anh như tấm giấy thông hành. Claverie đã chấp thuận nàng thay thế ông quản thủ bảo tàng có nhiệm vụ giám sát bọn anh. Đã bao lần bọn anh đổi chỗ cây đèn nến vì vô ý…

Bọn anh gặp lại nhau ngày 25 tháng chín, vào lúc 16 giờ 45 chính xác, trước Grand Trianon. Người ta gần đóng cửa điện. Vài du khách hiếm hoi còn tham quan cái phần này của công viên thì sắp sửa rời quảng trường lớn. Một cặp đôi người Tàu chụp hình trước thân cây sồi to lớn trên mặt đường lát đá, đó là cây sồi của Marie-Antoinette, được trồng dưới thời vua Louis XIV, vào năm 1683, và nó vừa chết ở đây, tại Versailles, thọ ba trăm hai mươi mốt tuổi, bị bức tử vì trời quá nóng bức. Mười lăm ngàn người chết trên toàn nước Pháp do cơn nắng hạn, báo chí đưa tin như thế, tức là, anh nhắc lại cho em, gấp năm lần hơn số người chết ngày 11 tháng 9. Các ông bà người Pháp từ rày về sau không nên chế giễu các cơ quan công cộng Mỹ nữa.

Kathrin đến lúc 16 giờ 44 trong chiếc xe thuê Clio màu đen. Granier thì đến bằng taxi, lúc 16 giờ 58, trễ mất 13 phút. Bọn anh vội vã đi vào cánh trái của ngôi nhà, trước cổng ra vào chính, một người gác cửa đang đợi nơi đó.

— Ông Barett phải không?

— Chính tôi.

— Ông Gauthier thuộc Sở Công viên và Vườn hoa. Ông Claverie yêu cầu tôi đón tiếp các ông bà. Nhưng, xin hãy nhanh chân! Các đồng nghiệp của tôi đang đóng cửa.

Bọn anh đi như chạy xuyên qua hành lang Cotelle, nơi mà khoảng một chục công chức, người thì còn mặc áo blu xám, người thì đã mặc quần jean và áo thun, dàn thành hàng trước các cửa sổ. Mỗi người lo một lá chớp! Đứng vào vị trí đi! Sẵn sàng! Đóng lại! Chỉ trong một phút, năm mươi mét của hành lang chìm vào bóng tối. Tiếng lách cách nhẹ, chắc là từ các chìa khóa mà người ta đút vào trong túi, đi trước sự im lặng. Những người gác điện biến mất trong một màn vũ quen thuộc hàng ngày, trơn tru không chê vào đâu được.

— Thấy cái này khiến tôi nghĩ đến câu chuyện phi công với công chức, - Granier nói, nghiêng người về phía Kathrin. - Cô biết không?

— Không.

— Một cậu bé nói với bạn: “Mày biết đấy, ba tao là người nhanh nhất thế giới. Ông là phi công máy bay tiêm kích. Ông bay hai ngàn dặm một giờ.” Tên bạn trả lời: “Ba tao còn nhanh hơn nữa!” – Thật à? Ba mày làm nghề gì? – Ba tao là công chức. Ông làm việc xong lúc 5 giờ chiều và ông có mặt ở nhà lúc 4 giờ 30.”

Kathrin bật cười vào lúc Gauthier đưa bọn anh vào phần cung điện cấm cửa đối với dân chúng hay du khách và từ nay về sau chỉ dành riêng cho tổng thống Pháp và thượng khách của ông. Ông Bộ trưởng đã cho sửa soạn ba phòng dành cho bọn anh. Phòng của anh thì quay ra sân hiên và nhìn ra công viên của Grand Trianon.

— Đây rồi! Các ông bà xem như đang ở nhà mình cho tới ngày mai, - Gauthier nói, tay đưa cho anh ba cái chìa khóa. Rồi quay sang Kathrin, - bà Strandberg này, tôi tin ở bà. Bà biết rành nghề này. Các thứ, ở đây, đều rất mỏng manh và…

— Người Thụy Điển rất kính trọng các vị vua, thưa ông Gauthier, - Kathrin vừa buột miệng, vừa bắt tay ông gác điện. - Ông đừng lo gì cả!

Granier đã đặt cái xách tay bằng da to tướng trước cửa phòng anh ta. Anh ta lúc nào cũng ra bộ chán chường, nhưng đôi mắt cứ sáng lên như mắt trẻ con khi vào tiệm Toys’R’Us[3].

— Tôi hy vọng họ cho tôi dãy phòng của Hillary Clinton.

Anh không biết là vợ chồng Clinon đã ở trong này. Nhưng thực tình, cái quá khứ đó không làm anh để ý đến.

Anh hỏi Granier, nếu anh ta tin chắc là căn phòng bí mật nằm ở đây thì tại sao anh ta không tự bỏ tiền ra để chính mình tìm ra nó.

— Tất nhiên là thế rồi, - anh ta nói với giọng chán nản, - tôi đã đi dọc, đi ngang các căn phòng này hàng mấy tháng trời… Vô ích! Ngành khảo cổ, ôi chán lắm! Những người này trải qua nhiều năm lục lạo một miếng đất sa mạc để tìm ra ba bức tượng cỏn con, nói thẳng ra, họ nghe lời Chúa gọi hay sao đó.

Về phần mình, anh ta có bao giờ có thiên hướng làm cái gì không? Trong trường hợp tốt nhất, anh ta chắc là thay đổi nó giống như thay đổi đàn bà.

— Vả lại, tôi không có phương tiện tài chánh như ông!

— Đúng vậy, ngày nay mọi sự thì dễ dàng hơn, - anh thừa nhận. - Ta có vũ khí chí tử mà!

Anh lấy từ trong hành lý ra cái ra-đa mà anh mang theo, kiểu ra-đa mới nhất dùng thăm dò địa chất từ trên mặt đất. Một dụng cụ trông chẳng ra vẻ gì: người ta tưởng là một máy quét rác dùng để làm sạch đáy hồ bơi. Nhưng hiệu quả biết bao! Để phát hiện những lỗ hổng dưới mặt đất hay trong các bức tường của một ngôi nhà, thì hiện tại không có gì tốt hơn nó. Hơn nữa, vài tháng sau, em sẽ thấy nó thật ấn tượng đến nỗi em muốn đầu tư vào cái xí nghiệp Đức sản xuất nó, OGK. Và em không hối tiếc tiền hùn của mình, anh có sai không?

Về phần Granier, anh ta nhìn nó với vẻ mặt chế nhạo, không hoàn toàn tin nó là một vũ khí chí tử.

Anh tải bản đồ lâu đài xuống máy tính kết nối với cái ra-đa và đưa nó cho Kathrin.

— Vinh danh phụ nữ này! Cô làm thử nghe?

Nàng lùi lại.

— Nó chạy làm sao? - Nàng lắp bắp.

— Đừng sợ! Nó tự chạy lấy! Nhìn này!

Anh quàng dây buộc xung quanh hai vai nàng.

— Cô giữ cái máy như thế này, như đeo quai. Cô điều khiển bộ phận quét hình hướng xuống mặt đất. Cô bấm nút màu lục này. Rồi cô từ từ tiến về phía trước. Mỗi khi ra-đa phát hiện lỗ hổng, nó sẽ vẽ ra địa hình chỗ đó. Và cô thấy nó, đó, trong cặp kính này.

Anh đưa cho nàng cặp kính -màn hình cho phép nhìn bằng ba chiều các hình dạng mà máy phát hiện.

— Phần tôi sẽ giữ màn hình kiểm tra. Như thế tôi cũng thấy kết quả bằng 3D.

Granier chế giễu.

— Máy nó cũng phát hiện mấy con chuột chũi trong vườn nữa sao?

Nhưng Kathrin chẳng còn muốn nói đùa nữa.

— Được đó Dan, tôi thấy rồi. Nói đúng hơn, tôi chỉ thấy khoảng trống…

— Cái cô thấy là lối đi thôi. Bên dưới dọc theo suốt chiều dài của Grand Trianon có một loại như tầng hầm rất thấp, liền lạc, dùng làm nhà bếp, chỗ giặt giũ… Nhưng máy ra-đa đi xuống sâu hơn nhiều. Bỏ qua lối đi này đi: điều cần làm là nhìn phía dưới.

— Đồng ý. Nhưng trong trường hợp này thì bắt đầu từ đâu?

Đó là một câu hỏi hay. Lúc đó là 17 giờ 30. Bọn anh còn chính xác mười một giờ rưỡi trước mặt. Đủ để tìm kiếm, nhưng không đủ để đi ra thoải mái với ra-đa quàng vai. Nhưng, như em đoán rồi, anh đã suy nghĩ về vấn đề này.

Anh xử lý bằng phương pháp loại suy.

Trong công viên Versailles, ngôi làng Trianon xưa là một lãnh địa rộng lớn gồm nhiều dinh thự: lâu đài Grand Trianon, còn được gọi là Trianon cẩm thạch; Trianon Mới tức là Petit Trianon; đền Amour; và cuối cùng là thôn Hoàng hậu với cái trang trại, chỗ chế biến sữa, hang đá… của bà. Vua Louis XVI và Marie-Antoinette đã sống trong tất cả các dinh thự này. Nhưng Louis XIV thì không, ông chỉ biết Grand Trianon thôi. Thế mà, cái mà bọn anh tìm kiếm là chỗ ẩn giấu cùng thời với ông. Tất nhiên, bao giờ cũng có nguy cơ là người nối dõi của ông cho làm một căn phòng mới hay chuyển đi nơi khác các tài liệu bí mật thuộc thế kỷ XVII. Nhưng giả thuyết này có vẻ ít khả năng xảy ra. Vua Louis XVI không phải là con người có sáng kiến.

Cũng như thế, bên trong Grand Trianon, bọn anh phải tập trung các nỗ lực vào các căn phòng mà chính vua Louis XIV đã ở.

Bọn anh bắt đầu cuộc dò tìm từ Midi, căn hộ uy nghi nhất, nơi mà Louis XIV thường ở nhiều nhất và lâu nhất, trong giai đoạn hiển hách nhất của ông. Ở đó, bọn anh đến phòng khách Glaces, một phòng làm việc xưa của nhà vua, nơi ông nhóm họp với các bộ trưởng của Hội đồng Nhà nước. Một căn phòng tuyệt vời, với những ghế bành màu xanh sáng bọc lụa hoa nổi và với cái nhìn đẹp lạ lùng trên Grand Canal.

Nhưng thì giờ đâu mà ngoạn cảnh. Chính mặt đất mới là nơi mà bọn anh quan tâm. Máy quét hình làm việc trên các sàn nhà, từng mét vuông một, kéo dài hết hai giờ. Vì thiếu kinh nghiệm và vì bọn anh ngừng lâu mỗi khi gặp các khu vực trống, các chỗ thụt vào khi xây dựng, các lỗ hổng đây đó và các vật chướng ngại. Như vậy, chẳng có cái lỗ nào mang kích thước của một căn phòng dưới mặt đất.

Tiếp đó bọn anh vào phòng nhà vua, một trong những căn phòng đẹp nhất lâu đài, được trang trí với những cột đá và các lớp gỗ ốp thếp vàng được chạm trổ tinh tế và các biểu tượng Apollon. Trên cái tủ nhỏ có đặt một bình sứ Sèvres sai niên đại cho thấy Napoléon đứng giữa ngôi vườn của lâu đài Sans-Souci ở Potsdam. Kathrin kêu lên một tiếng đầy hứng thú.

— Tôi không biết cô là một người sùng bái Hoàng đế, - anh vừa nói với nàng vừa tiếp tục công việc khai quật ảo và có hệ thống.

Người đàn bà trẻ không trả lời. Mặc dù ngưỡng mộ cái bình sứ nhưng nàng không “cảm” được căn phòng đó, và sau một tiếng đồng hồ, không chờ anh chấm dứt, nàng đi trước anh vào căn phòng kế tiếp, có tên là phòng khách Chapelle và đã được biến đổi thành phòng đợi của nhà vua vào năm 1691. Với các gờ viền quanh được trang trí bằng các chùm nho và bông lúa mì và với những bức họa thể hiện các nhà truyền giảng Phúc âm, nhà nguyện cũ này vẫn giữ vẻ ngoài của một căn phòng dành cho việc cầu nguyện. Cánh cửa ở cuối phòng mở ra một hốc tường đặt bàn thờ. Ngày xưa, người ta đóng cửa này lại một khi làm lễ xong.

— Đây là một chỗ lý tưởng để che giấu lối vào căn phòng dưới mặt đất! - Kathrin reo lên. - Đến nhanh đi!

Bọn anh vẫn còn ở chỗ này tới gần hai tiếng đồng hồ để dò la sàn nhà và các bức tường. Kathrin vẫn mang cặp kính khôi phục, bằng màu và 3 D, các hình ảnh do ra-đa phát hiện. Phần anh vẫn quan sát màn hình kiểm tra của máy tính được kết nối với ra-đa. Và Granier, chắc cảm thấy mình bị loại ra ngoài, thì diễn tả sau vai anh tiến độ của việc tìm kiếm. Anh ta ăn nói như một bình luận viên thể thao trong một trận bóng đá: “Ta sắp xong rồi, kiên nhẫn thêm chút nữa thôi”, “Lần này, ta hầu như đến đích rồi…”, “Nó không thể thoát khỏi tay ta được”, vv… Anh nói thật với em, vẻ mỉa mai của anh ta làm anh mất hứng, và cuối cùng thì anh phải chỉnh anh ta.

Vào khoảng hai giờ sáng, bọn anh chỉ dò được năm căn phòng mà không tìm ra một đầu lỗ hổng nhỏ nhặt nào. Chỉ còn sáu tiếng đồng hồ nữa thôi.

— Ta tạm nghỉ hai mươi phút nghe, - anh đề nghị. - Đi tìm cái gì giải khát và nhấm nháp đôi chút.

Granier thở phào khoan khoái, ngay cả trước khi anh chấm dứt câu nói.

— Tôi đã đặt các phần ăn để giao tận mỗi phòng. Ở tiệm Fauchon.

— Đáng lẽ ông có thể chọn Lenôtre![4] - Tên nhà văn mở miệng nói đùa.

Em thấy là từ đâu anh có ý tưởng để, rất lâu sau này, chơi chữ…

Bọn anh bước đi lặng lẽ đến cánh hông Trianon-sous-Bois của lâu đài. Vào lúc bọn anh tách ra, trước cửa dãy phòng anh, Kathrin tự nhiên đứng sững lại. Anh đã mở cửa và anh nghĩ là nàng muốn trả lại anh máy ra-đa mà nàng đeo vai.

— Hẹn gặp lại lát nữa, Kathrin, - anh nói. - Mười lăm phút là nhiều nhất phải không?

Nhưng nàng vẫn im lặng, mắt nhìn chằm chằm cái bình Sèvres đặt trên cái bàn con ngay lối vào phòng anh.

Trong một tích tắc, anh nghĩ là nàng tìm cớ để vào phòng anh. Đàn ông thì tự phụ quá đi, em thường lưu ý anh chuyện này mà.

— Kathrin này, tôi đã nói “hẹn gặp lại lát nữa”, - anh lặp lại.

Không phản ứng gì cả. Đến phiên anh nhìn món đồ làm nàng mê mẩn. Vẫn là cái bình bằng sứ thể hiện Napoléon. Anh tự hỏi nàng thấy gì hay ho ở đó, bởi vì nó chẳng có gì độc đáo: các đồ nội thất của dòng họ Bourbon đều bị tàn phá dưới thời Cách mạng, và các đồ nội thất chính yếu trong các Trianon thì có niên đại từ thời Empire[5].

— Một cách chắc chắn, Kathrin, cái ông này mê hoặc cô đấy!

Nàng quay đầu về phía anh một cách máy móc. Rồi ánh mắt nàng lại hướng đến chiếc bình một lần nữa.

— Hoàng đế cũng vậy, - nàng thầm thì.

— Cô muốn nói gì thế?

— Không gì cả, Dan. Tôi phải suy nghĩ.

Nàng bước đi trong hành lang lót thảm êm. Anh chụp nàng lại.

— Nghe này, cô nói về cái này hoặc quá nhiều hoặc không đủ.

— Dan, hãy để cho tôi mười phút. Cái ra-đa đây, ông cầm lấy này. Nó cần sạc lại.

Vào trong phòng thì anh cởi giày, gắn điện sạc ra-đa và bật TV, theo quán tính. Nhưng anh nhanh chóng tắt âm thanh. Anh thấy thất vọng. Mặc dù có các phương tiện kỹ thuật nhưng bọn anh chắc là chỉ đạt được kết quả như Granier với các phương pháp thủ công của anh ta là cùng. Tức là không có kết quả gì. Với nhịp độ thế này, bọn anh sẽ không sàng lọc kịp cả mười lăm căn phòng, là mục tiêu của anh.

Làm sao tăng tốc? Làm sao tránh chuyện dò tìm tất cả ngóc ngách của lâu đài từng cái một? Anh vừa mới đặt đầu dưới vòi nước trong phòng tắm để cho tỉnh táo trí óc thì nghe tiếng gõ cửa.

— Vui lòng chờ một chút!

— Kathrin đây, Dan!

— A… mời vào, cửa mở đó.

Khi anh trở lại phòng khách nhỏ của mình, tay chà tóc với chiếc khăn, thì Kathrin đang đi đi, lại lại trước một cái bàn nhỏ thời Empire mà đường viền được trang trí bằng hình ảnh các nữ thần nghệ thuật đang cầm tay múa. Nàng đã để lên đó máy laptop của mình. Bên cạnh là cái đèn pin.

— Dan, xin lỗi làm phiền anh, nhưng…

— Có chuyện gì?

— Đến xem!

Kathrin dùng ngón tay chỉ vào màn hình, không thèm nhìn anh chút nào. Anh cảm thấy nàng quyết tâm. Tính khí vui vẻ hồn nhiên của nàng đã biến đi. Nàng đang nắm giữ thông tin nào mà anh hụt mất?

— Dan, nhìn này!

Dù mệt mỏi, nàng vẫn có ánh mắt sáng rỡ. Vì đứng gần, anh ngửi thấy mùi hương dịu ngọt từ mái tóc nàng. Anh thú thật với em, lúc đó, chính anh tỏ ra lưỡng lự. Bọn anh chỉ còn vài giờ để ở trong điện Trianon. Giữa viễn cảnh trở lại dò tìm các căn phòng và viễn cảnh ngủ qua đêm trong hoàng cung với cô pin-up xinh đẹp này… Nhưng em biết tính anh mà. Công việc là ưu tiên. Marilyn có thể đi mặc quần áo lại.

Và hơn nữa, để tỏ ra trung thực, anh phải nói là Kathrin không để cho anh chọn lựa.

Nàng ngồi xổm trước cái bàn nhỏ, đặt bàn tay lên bàn phím. Anh vẫn đứng, khoanh tay trước ngực, nóng ruột, quan sát quầng sáng màu xanh của màn hình phản chiếu trên khuôn mặt nàng. Nàng bắt đầu gõ phím một cách mạnh mẽ. Anh thấy hiện ra một bình đồ Trianon, rồi cái thứ hai, chồng lên cái trước.

Những căn phòng soi sáng dưới màu lục nổi lên trên màn ảnh. Cũng như anh, Kathrin đã nhập vào bộ nhớ máy vi tính của nàng tất cả những tư liệu về lâu đài Trianon, lịch sử, đồ nội thất của nó, các nhân vật đã ở đó, xuyên qua các thế kỷ.

— Điện Grand Trianon… Căn hộ nhỏ của Napoléon… Đây rồi… Căn phòng… Nhìn này! Ở đó rồi!

Anh làm ra vẻ mất bình tĩnh.

— Thôi nào, Kathrin, cô có thể giải thích cho tôi không nào?

Nàng ra dấu xin anh hãy kiên nhẫn.

— Còn một chút, nó đến đấy! Đây rồi…

Nàng chỉ ra một trong những căn phòng soi sáng dưới màu lục trên màn ảnh.

— Chính nơi đây là căn phòng bí mật, tôi chắc chắn đó!

— Tại sao lại là căn phòng đó? Từ đâu mà cô rút ra kết luận này?

Trong những tình huống thế này, em biết anh mà, anh có sự lạnh lùng lâm sàng.

— Dan này! Napoléon cũng vậy, ông đi tìm căn phòng bí mật. Và ta có thể giả dụ là ông đã tìm ra nó.

— Và tại sao? Cái gì khiến cô nói vậy?

Kathrin đột ngột đóng máy tính lại và đứng lên ngay.

— Tôi sẽ chỉ cho ông, như thế nhanh hơn. Đi theo tôi!

— Thôi đi…

— Nhanh lên nào!

— Chờ một chút, tôi…

— Đem ra-đa theo! Không lâu lắm đâu.

Từ lâu lắm rồi anh đã không vâng lời đàn bà một cách mù quáng như thế. Anh ra ngoài hành lang, chạy theo sau nàng, đầu tóc còn ẩm và tấm khăn quanh cổ. Granier nghe tiếng chân vội vã của bọn anh và từ phòng hiện ra. Kinh ngạc.

— Chuyện gì vậy? Mấy người đi đâu vậy?

— Tôi không biết, nhưng Kathrin chắc biết, - anh trả lời.

Nàng bước nhanh hơn, một tay cầm đèn pin, một tay cầm laptop.

Bọn anh đi xuyên qua hành lang Cotelle dài thêm một lần nữa. Trong khi đi dọc theo một hàng hai mươi bốn bức tranh thể hiện các cảnh vườn Versailles, anh thấy Granier vượt qua anh và nghe anh ta nói với Kathrin với cái giọng làm thầy giả tạo:

— Cô có biết là ở chỗ này, ngày 4 tháng sáu năm 1920, Clémenceau[6] ký hiệp ước Trianon, nó đã quyết định vận mệnh của Đế quốc Áo-Hung không?

Nếu tên nhà văn muốn nổi bật thì anh ta mất công toi. Câu đáp trả của cô quản đốc bảo tàng thì nóng bỏng:

— Ông muốn nói đến diktat[7] Trianon phải không? Người Hung, họ gọi như thế đấy. Ngày hôm đó họ mất hai phần ba đất nước họ! Và, tin tôi đi, họ luôn luôn căm ghét người Pháp về chuyện này.

— Đấy, cô thấu cáy tôi rồi! Tôi sẽ cho mời cô tham dự “Questions pour un champion”[8]. Julien Lepers là tên bạn thân.

Khi đến khoảng giữa hành lang thì anh đặt tay lên vai Kathrin, để làm nàng chậm chân lại thì ít hơn là để cho anh cảm giác lấy lại quyền điều khiển các hoạt động.

— Kathrin, bây giờ thì cô có thể nói là mình đi đâu không? Tại sao lại vội vã thế này?

Nàng đứng lại.

— Dan, đáng lẽ mình nên nghĩ đến chuyện này sớm hơn.

— Nghĩ đến chuyện gì?

— Napoléon. Napoléon, Dan! Ông biết là Hoàng đế bị ám ảnh bởi phả hệ của ông ta. Sau khi lấy cô cháu của Marie-Antoinette làm vợ, ông nói về Louis XVI bằng cách gọi nhà vua là “ông cậu quá cố của trẫm”! Vài người còn đi xa đến mức quả quyết là ông xuất xứ từ Masque de Fer[9], người em trai song sinh của Louis XIV…

— Napoléon là hậu duệ của vua Louis XIV, ai mà không biết mấy thứ nhảm nhí này! - Granier cười nhạo.

— Nhảm nhí à? Chưa có ai chứng minh được chuyện này là có thật, nhưng cũng chẳng ai chứng minh được bao giờ là nó sai…

Phản xạ đầu tiên của anh là để hai người đó làm thịt lẫn nhau. Về phần mình, anh cũng biết một phần câu chuyện. Truyền thuyết thì đúng hơn. Hay đúng hơn nữa là luận điểm của vài anh phả hệ học say mê Hoàng đế. Mặt Nạ Sắt khi bị giam giữ ở Pignerol miệt Đông Nam nước Pháp, đã đem lòng yêu cô con gái của viên gác ngục. Ông đã làm sao đó mà cô gái xiêu lòng, chịu ăn nằm với ông. Khi mang thai, cô đã đi xuyên qua biển Địa Trung Hải đến đảo Corse để ẩn cư. Ở đó cô đã lập gia đình với một thân hào địa phương, sinh mười đứa con, nhưng không bao giờ thú nhận với chồng đứa con đầu là không phải của chồng, nó thuộc dòng dõi Bourbon, cháu gọi vua Louis XIV bằng bác.

— Kathrin này, có phải bản thân cô thực tình tin đứa con hoang của Mặt Nạ Sắt là…

— Ông tổ của Bonaparte?[10] Không quan trọng gì đâu Dan, điều cốt yếu là Hoàng đế đã có thể tin chuyện đó!

Anh bắt đầu đoán ra ý tưởng của cô quản đốc bảo tàng. Nếu có một bằng chứng duy nhất về liên hệ huyết thống giữa Hoàng đế và dòng họ Bourbon thì nó chắc chắn nằm ở trong chỗ giấu bí mật bọn anh đang tìm. Nếu Napoléon rất thường đến Trianon, ấy là vì ông ta cũng đi tìm các tài liệu lưu trữ bí mật ở đó. Chắc là ông tin chúng có chứa đựng các tư liệu về Mặt Nạ Sắt. Những văn bản chứng minh ông có quan hệ huyết thống với các vị vua nước Pháp!

— Napoléon đã đến Trianon để lục lọi các tài liệu lưu trữ bí mật của các nhà vua à? Cô tin thế thật sao, Kathrin?

— Ông đến chủ yếu để gặp Joséphine[11].

Granier xen vào câu chuyện một lần nữa để phô bày kiến thức. Tên nhà văn này quả là một gã nghiệp dư giả vờ.

— Hay lắm! Không ai có thể giấu ông chuyện gì, Jean-Philippe!

Kathrin nháy mắt với Granier một cách lẳng lơ, và anh thấy phát bực.

Như mọi người ham thích lịch sử nước Pháp, anh biết là Napoléon không ưa Versailles. Mỗi khi đến đó, ông không ngủ ở lâu đài nhưng đến đây, ngủ lại ở Grand Trianon. Lần đầu tiên thì ông thực sự có lý do tốt. Đó là vào dịp lễ Giáng sinh năm 1809. Ông vừa ly dị với Joséphine de Beauharnais nhưng vẫn còn yêu bà, và Grand Trianon có cái thuận lợi là không quá xa lâu đài de Malmaison, “dinh thự cuối tuần” cũ của họ, mà bây giờ Joséphine lui về cư ngụ. Nhưng sau đó, Hoàng đế thường trở lại Trianon, chính thức là vì Marie-Louise[12] yêu thích chỗ này, một nơi chốn thân thiết với người cô của mình, Marie-Antoinette. Vào tháng ba năm 1813, trước khi quay lại Đức lo việc chiến trận, ông cũng tự dành cho mình và cho vợ với đứa con trai của họ hai tuần lễ nghỉ ngơi tại đây. Đó là một chút lâu đài gia đình của ông.

Anh chấm dứt sự nỉ non của hai người đi cùng anh.

— Nhưng tại sao Napoléon biết được, hơn cả chúng ta, là các tài liệu lưu trữ bí mật nằm ở Trianon? Ông ta đâu có sở hữu các cuốn vở của nữ công tước de Cadaran!

— Thôi đi, Dan, ông có cái hay hơn nhiều! - Kathrin kêu lên.

— Cái gì?

— Gouvernet, Dan! Napoléon chắc chắn đã gặp Gouvernet! Hay là một trong những người đã cùng ông ta bít kín lối vào ngầm… Đừng quên là Bonaparte là người cùng thời với Louis XVI đó!

Granier đưa mắt nhìn lên trời, như thể Kathrin vừa trình bày một điều hiển nhiên.

Anh thấy chịu hết nổi phải nghe các bài học lịch sử.

— OK., Kathrin, OK… Giả dụ rằng Napoléon biết các tài liệu lưu trữ bí mật nằm ở Trianon. Và Gouvernet chỉ cho ông ta vị trí cất giấu. Cô nghĩ liệu nó có còn bí mật nữa không? Và liệu Napoléon có còn để lại tất cả các tư liệu ở đây không?

Anh đã nói với cái giọng khô khốc mà anh dùng trong các buổi họp khi anh muốn chúng chấm dứt.

— Tôi không bảo đảm gì hết, - Kathrin trả lời cùng một giọng.

— Nhưng tại sao lại dẫn chúng tôi đến đây?

— Một trực cảm, Dan.

— Các trực cảm của tôi, thì tôi kiểm tra chúng.

— Nhưng làm sao mà ông muốn…

Bị chạm tự ái, Kathrin quay lưng với anh và vừa tiếp tục bước đi về phía cuối hành lang vừa mở máy tính. Bình đồ của Grand Trianon mà bọn anh đã thấy lúc nãy trong phòng anh, lại hiện ra trên màn hình.

— Đến rồi đó, - Kathrin nói sau một khoảnh khắc do dự. - Dan, ông có thể cầm hộ tôi máy tính không?

Kathrin soi sáng, phía bên tay phải, một căn phòng mở ra sau một cánh cửa lớn bằng gỗ. Anh vừa theo sau nàng vừa quan sát cái bình đồ hiện trên màn ảnh. Một bản vẽ đẹp của Trianon, bằng ba chiều, và tên của căn phòng sáng dưới màu lục, phòng khách Malachites, được in chồng lên. Bất thình lình anh thấy phía dưới màn hình một biểu tượng. Là cái điều khiển chức năng “tìm kiếm” của phần mềm. Anh nhấp chuột lên đó. Hai tên người xuất hiện: Napoléon. Louis XIV.

Anh dừng lại ngay tức khắc.

Anh vừa hiểu cái lý luận đã dẫn dắt Kathrin đến tận chỗ này. Cô quản đốc bảo tàng đã nhận dạng trên phần mềm của mình các căn phòng mà hai quốc vương đã lần lượt đến ở! Nỗi ám ảnh của Hoàng đế tìm cách chứng minh tổ tiên trực hệ của mình lớn đến mức ông chắc chắn chọn, mỗi khi đến Trianon, ở trong một chỗ mà trước đây Louis XIV đã từng ở, gần căn phòng bí mật nhất. Nếu các tư liệu mà bọn anh tìm được tập hợp lại một chỗ nào đó thì chắc chắn là tại một trong những căn phòng mà hai vị quốc vương hầu như là có cùng một lịch sử chung.

— Thưa quý ông, đây là phòng khách Malachites! Một căn phòng duy nhất ở Grand Trianon, nơi mà Hoàng đế và Thái Dương Vương – hai người – có các tập quán của họ.

Kathrin cười thỏa mãn như một ngôi sao. Một cái cúp loe miệng lớn màu ngọc bích lấp lánh trước mặt bọn anh. Kathrin hướng ngọn đèn pin về phía mặt bàn ở bên phải rồi về phía hai cái bình nhỏ. Tất cả đều bằng malachite[13], là đá vùng Sibérie do Sa hoàng Alexandre đệ nhất[14] tặng cho Hoàng đế.

— Đi nào! Chính nơi đây ta phải sục sạo.

Granier không nói gì, vậy thì anh ta chấp thuận, thể theo câu châm ngôn xưa. Cô quản đốc bảo tàng đã ghi một điểm nhưng anh vẫn còn một nghi vấn.

— Nếu Napoléon đã tìm ra chỗ giấu thì có thể là ông ta cũng lấy đồ đi hết.

Kathrin lắc đầu.

— Không chắc đâu. Ông ấy có thể lấy đi những tư liệu mà ông quan tâm và để lại những cái khác. Hay chỉ tham khảo chúng thôi. Và chúng ta đâu có tìm cùng thứ như ông ấy… Điều chắc chắn là ông ấy đã không tìm ra gì cả để chứng minh quan hệ huyết thống giữa ông và các vị vua. Nếu có thì người ta hẳn đã biết rồi! Nhưng ông ấy có thể tìm thấy những văn bản liên quan đến Louis XIV… và các văn bản khác mà ông ấy ít quan tâm hơn, như cái bình đồ về các ngôi vườn của chúng ta, phải thế không, Dan? Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu ông ấy bị mê hoặc bởi khả năng đặt tất cả các bí mật của riêng ông cùng với các bí mật của các vua Pháp, đó cũng là chuyện, một lần nữa, tự ghi tên mình trong sự liên tục!

Kathrin hớn hở ra mặt. Nàng rọi đèn pin khắp phòng khách Malachites, cho thấy lần lần các vật quý của nó. Hai bức tranh do Charles de la Frosse vẽ, mang tên Apollon và Thétis,Clytie biến thành hoa hướng dương. Hai tấm gương lớn được chạm trổ, đặt ở đây, theo lời Kathrin, cho bà nữ công tước de Bourgogne, người đã dùng chỗ này làm phòng ngủ. Các đồ đạc xa hoa của Jacob-Desmalter: các ghế ngồi bằng gỗ thếp vàng, được bọc bằng gấm màu đỏ sẫm và có đường viền bằng tơ vàng, hòa hợp với các màn cửa kép.

Em còn nhớ bạn bè mình ở California đã chế giễu thế nào khi anh diễn tả niềm đam mê của người Pháp đối với mấy thứ sơn son thếp vàng, các chân nến nhiều nhánh, các chân bàn và ghế xoắn này không? Đầy bụi. Cũ kỹ. Chán ngắt. Các bạn đó sống trong một ánh khác, cái ánh của màu xám kim loại, của màu đen bóng, của pi-xen và của plasma, thì không thể hiểu. Willy, nhà xã hội học, một ngày nọ đã giải thích cho anh là người Pháp thích được vải nhung và thủy tinh giả ngọc bao bọc xung quanh để thoát khỏi hiện thực hàng ngày đầy lo âu của họ. Họ rút vào thế giới các nữ hoàng để trốn chạy khỏi thế giới nhiều đau khổ.

Anh lại gần lò sưởi để xem xét Apollon và Thétis. Granier đến trước anh.

— Apollon, lại Apollon! Ngay cả trong căn nhà nhỏ ngoại ô này, Louis XIV hầu như không ra khỏi ảo giác.

Anh suýt phản đối. Những lời lẽ bất kính đối với nền quân chủ làm anh khó chịu – ngay cả anh, một người Mỹ chính hiệu con nai vàng… Cứ mải miết lui tới với Louis XIV, người ta nảy sinh tình cảm! Anh tự nhủ là Granier, người viết bình luận cho các báo phái tả cũng như phái hữu, có tâm hồn của một tên vô chính phủ. Anh đã dằn được.

— Được rồi, không nên mất thì giờ nữa. Bắt đầu được chưa?

Kathrin lấy ra-đa ra. Bọn anh bắt đầu soi tìm từ lò sưởi.

— Trong các tiểu thuyết, các lò sưởi thường mở ra về phía những căn phòng bí mật phải không?

Granier dứt khoát không thể không mở mồm mỉa mai. Thật chán mớ đời.

Trong bảy mươi phút, đồng hồ nơi tay, bọn anh xem xét kỹ lưỡng mặt đất và các bức tường phòng khách Malachites. Kathrin đưa máy ra-đa đến gần vách và sàn nhà. Bên cạnh nàng, anh chăm chú theo dõi màn hình kiểm soát. Nhưng bất chấp mọi cố gắng của bọn anh và vẻ hăng say của nàng, không một dấu hiệu nào hiện ra.

Kathrin ném cặp kính xuống đất, buông người ngồi phịch xuống sàn nhà, gần như muốn khóc.

— Tôi xin lỗi, nhưng tôi đã tin thực sự là…

Nàng tỏ ra yếu đuối một cách bất ngờ khiến anh trở nên hưng phấn lạ lùng – và một ý tưởng xuất thần vụt hiện trong đầu. Anh vội vã cầm lấy máy tính của nàng.

Menu: Edit Chức năng: Tìm kiếm. Anh rành quá mấy thứ này mà.

Nếu cái phần mềm có khả năng kết giao các căn phòng “riêng tư” của Hoàng đế với các căn phòng của vua Louis XIV thì nó cũng có thể nhận dạng các căn phòng chung cho câu chuyện của Napoléon và của Phu nhân de Maintenon[15]. Quý bà này – người vợ “không môn đăng hộ đối” của đấng quân vương vĩ đại – rất thân thiết với Louis XIV đến nỗi ta có thể dễ dàng hình dung là bà cất giấu nơi bà ở những bí mật của chồng.

Cái phần mềm trả lời rất nhanh chóng và chính xác: chỗ duy nhất mà Phu nhân de Maintenon và Napoléon đã lần lượt ở là căn phòng riêng của Hoàng đế. Xưa kia, nó là phòng ngủ của bà vợ yêu quý này của nhà vua.

Lần này, chính anh hành động trước. Chạy như ma đuổi qua phòng khách tròn, phòng tắm của Napoléon và phòng riêng của vua Louis XV. Kathrin và Granier mệt đến đứt hơi sau anh. Đến căn phòng riêng của Hoàng đế, anh dừng chân trước các bức tường được phủ bằng gấm màu lục. Một lần nữa, ta thấy đầy dẫy các bức tranh dính líu đến huyền thoại mặt trời! Apollon và Sybille, Apollon và Hyacinthe, Apollon đội vòng hoa Chiến thắng, Apollon nghỉ ngơi và vẫn còn Apollon và Thétis…

— Có điềm lành chứ?

Anh tiến đến lò sưởi, lòng đầy khích động. Nó được thếp vàng chỗ này, chỗ nọ, trên nó là một tấm gương và một đầu con hoẵng nhồi rơm. Kathrin điều chỉnh cặp kính trên mũi trong khi anh bật màn hình kiểm soát. Bây giờ thì bọn anh đã quen tay làm việc này rồi.

— Nhìn này! Có một lỗ hổng ở đây! - Nàng kêu lên.

Hình nền màu xanh nhường chỗ cho một bản vẽ ba chiều, một cái ống – màu đỏ –, lúc đầu thì hẹp, sau đó rộng hơn. Nó đi xuống theo dốc đứng khoảng năm hay sáu thước. Rồi hoàn toàn tối đen.

Các kích thước của lỗ hổng hiện lên: ở lối vào thì chỉ có năm mươi centimét, rồi sau đó đến một mét sáu mươi. Một đường hầm hẹp dưới mặt đất. Nhưng nó không dẫn đến một căn phòng nào cả: nó ngừng lại đột ngột, như thể bị một bức tường chặn lại.

Granier buột miệng phun ra câu nói hiểm ác:

— Đó là một lỗ hổng bị bịt kín. Tôi đã nói nhiều chuyện này với các người rồi mà. Vài cái lỗ pho-mát Gruyère như thế thì có khắp nơi. Chỉ là những cái lỗ được thăm dò rồi được bịt lại.

Ước gì anh có thể ném cả cái ra-đa vào bụng anh ta. Hay ném cái đồng hồ quả lắc Bailly đặt trên lò sưởi.

“Tôi đã nói nhiều chuyện này với các người rồi mà”…

Anh ta có thể tha hồ nói lên, nói xuống, anh ta là một kẻ chẳng bao giờ tìm ra cái gì.

Nhưng, xét cho cùng, anh ta bỏ cuộc thì cũng tiện cho anh. Phần mình, anh chắc chắn là đang ở đúng chỗ. Nơi giấu là đây, sau bức tường, anh cảm thấy được nó. Dù sao đi nữa, nó bị bịt kín lại thì cũng tự nhiên thôi, bởi vì Gouvernet đã nhận lệnh ngăn chặn lối vào. Vấn đề khó là bức tường chắc là rất dày hay quá sâu. Cái ra-đa không xuyên qua được. Nhưng căn phòng bí mật là ở đó, anh chắc chắn thế. Nếu Granier không tin thì cũng tốt cho anh ta thôi. Nhưng thây kệ: anh ta có thể ngồi trên đống đô-la tiền thưởng, năm trăm ngàn chứ ít sao.

Kathrin ngồi xuống cái bàn nhỏ, khoanh hai tay trước ngực, ánh mắt chán nản.

— Tôi sắp đi ngủ đây. Đêm sẽ mang lại các lời khuyên hay, - nàng thở dài, đưa máy ra-đa cho anh.

— Tôi đưa cô về.

Tên nhà văn không có khiếu làm ăn, nhưng anh ta có những phản xạ chết tiệt.

— Ngủ ngon nghe! - Anh nói. - Tôi sẽ gặp lại các bạn sau. Tôi còn muốn lợi dụng chỗ này…

Đó không phải hoàn toàn sai: anh không bao giờ thảnh thơi ngắm nhìn mười chín gian phòng hoàng gia của Grand Trianon. Anh bao giờ cũng chỉ thấy chúng với em, qua quýt vì mình chạy như ma đuổi, sau lưng đám người Nhật, ở cái tuổi mà chúng ta không đủ sức thưởng thức vẻ lộng lẫy của chúng. Hơn nữa, ngày hôm nay thì anh chúi mũi xuống sàn nhà.

Nhưng thực tình là trước hết anh muốn điện thoại cho em. Anh đã thấy tin nhắn của em, ngay sáng nay. “Dan, có điều gì đó làm em băn khoăn trong đoạn văn của bà công tước mà anh gửi cho em… Gọi lại em nghe.”

Không kể đến chuyện khác múi giờ đã ngăn anh gọi em lúc xế trưa và sau đó là bắt đầu cuộc chạy đua với đồng hồ, anh đã không thể gọi cho em.

Vậy mà chính em đó – và chuyện này, anh chắc chắn là em không quên nó – lần thứ hai, đã gỡ bí cho anh. Đầu tiên em bảo anh kể lại cái đêm mà bọn anh vừa trải qua ở Trianon. Và khi anh kể đến kết cục – lỗ hổng bị bịt kín, dù anh chắc bụng là căn phòng bí mật ở ngay đó – em đã kêu lên, đắc thắng:

— Ra rồi Dan ơi!

— Em muốn nói gì thế?

— Anh nhớ câu chót của đoạn văn không? Khi bà công tước viết: “Bà bá tước cam đoan với tôi rằng ông bá tước chỉ cần chưa đầy một tiếng đồng hồ là đã bịt kín được lối vào dưới mặt đất […].

— Em chờ chút…

Anh tải ngay tức khắc bản văn vào máy tính.

— Xong, rồi sao nữa?

— Nhìn kỹ câu chót đó. Không có gì gây sốc cho anh à?

Anh đọc và đọc lại nó cả năm chục lần. Không có gì có thể gây sốc cho anh nữa.

— Nhìn nữa đi. Anh không thấy có một khoảng trống không viết giữa “lối vào” và “dưới mặt đất” sao?

— Một khoảng trống à? Nhưng khắp chỗ nào cũng có khoảng trống mà! Câu nào cũng thiếu khúc này, khúc nọ ở mỗi hàng, hay gần như thế…

— Chính vậy đó! Ở chỗ này người ta không bao giờ nói là thiếu một từ!

Anh hiểu nhận xét của em, nhưng anh không rõ là em muốn đi đến đâu. Em nhấn mạnh:

— Suy nghĩ đi! Có thể có cái gì giữa “lối vào” và “dưới mặt đất” không?

— Anh không biết… Anh đâu nói tiếng Pháp giỏi như em! Nhưng dù sao đi nữa thì khoảng trống này rất hẹp. Một từ độc nhất thôi, chắc thế rồi. Và còn rất ngắn nữa…

— Anh thấy ra rồi đó, Dan! Khoảng trống chỉ vừa đủ cho một giới từ. Và ở chỗ này, em chỉ thấy có hai khả năng: “trong” hay “của”. Thì cũng như nhau thôi!

Anh đã không để em nói hết. Anh vừa hiểu ra.

— Bà công tước không nói đến lối vào nằm dưới mặt đất, nhưng lối vào trong một đường hầm[16]! Điều này có nghĩa là không phải chỉ có một cách đi vào căn phòng bí mật mà hai: đường hầm này có một lối ra ở đâu đó!

❀ ❀ ❀

[1] Jean-Baptiste Colbert (1619-1683), chính trị gia Pháp, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền, có ảnh hưởng lớn đến nền công nghiệp, thương mại và hành chánh Pháp.

[2] Có nghĩa “(Một) Thỏa thuận công bằng, không phải thế à?”

[3] Một hệ thống cửa hàng bán đồ chơi cho trẻ em nổi tiếng, có mặt hầu như khắp nơi ở Mỹ.

[4] Fauchon và Lenôtre là hai tiệm ăn và tiệm bánh nổi tiếng ở Paris.

[5] Empire là từ chỉ chế độ chính trị Pháp do hoàng đế Napoléon đệ nhất lập ra, từ 1804 đến 1814.

[6] Georges Clémenceau (1841-1929), thủ tướng nước Pháp (1906-1909 và 1917-1920), thương lượng hiệp ước Versailles (1919) giữa các nước đồng minh thắng trận và các nước bại trận trong Thế chiến thứ nhất (1914-18).

[7] Các đòi hỏi nhất quyết, áp đặt bởi kẻ mạnh, nhất là trong quan hệ quốc tế.

[8] Một chương trình truyền hình ở Pháp: “Những câu hỏi cho nhà vô địch” do Julien Lepers dẫn dắt từ 22 năm nay, gần giống như chương trình truyền hình “Đường lên đỉnh Olympia” ở nước ta.

[9] Masque de Fer (Mặt Nạ Sắt), một nhân vật bí ẩn suốt đời phải mang mặt nạ, bị giam ở pháo đài Pignerol rồi ở ngục Bastille (Paris) cho đến chết năm 1703. Đồn là bị anh mình, vua Louis XIV, hạ ngục.

[10] Tức Hoàng đế Napoléon.

[11] (1763-1814) Nữ hoàng Pháp, vợ Hoàng đế Napoléon từ năm 1796 đến năm1809. Bị Hoàng đế phế bỏ vì không sinh được người nối dõi.

[12] (1791-1847), công chúa Áo, con của Hoàng đế François đệ nhị, trở thành Nữ hoàng Pháp sau khi bị ép lấy Hoàng đế Napoléon năm 1810 khi mới 19 tuổi. Gọi hoàng hậu Marie-Antoinette (lên đoạn đầu đài năm 1793 ở Paris) là cô vì bà này là chị gái của cha mình.

[13] Một thứ quặng màu lục có thể đánh bóng, dùng làm đồ kim hoàn hay trang trí cho các đồ vật nhỏ bằng ngà, gỗ mun, sừng, xương, đồi mồi…

[14] (1777-1825) Hoàng đế nước Nga (1801-1825), thuộc triều đại Romanov.

[15] Nữ hầu tước de Maintenon (1635-1719), sau khi thành góa phụ thì phụ trách giáo dục cho các con vua Louis XIV và các con của Phu nhân de Montespan (Bà này là nhân tình sủng ái của vua, có đến 8 đứa con với ông). Sau khi hoàng hậu Marie-Thérèse qua đời, nhà vua cưới bà làm vợ năm 1683. Bà là vợ “không môn đăng hộ đối” (morganatique) vì xuất thân không phải công chúa, nên bà không được mang tước hiệu hoàng hậu, không được hưởng các đặc quyền hoàng gia… Bà có ảnh hưởng lớn đối với nhà vua, nhất là về đạo giáo.

[16] Từ “souterrain” (tính từ) có nghĩa là dưới mặt đất, nhưng nếu là danh từ thì có nghĩa con đường hầm. Nguyên văn: La duchesse ne parle pas d’un accès souterrain, mais d’un accès à un souterrain!…

hà băng, quản lý các cổ phần đầu tư của mình bằng Internet, sưu tầm các phao cứu đắm và những cuộc đi chơi xa ở công viên quốc gia Yosemite, và đôi khi… Tất nhiên họ vẫn xuất hiện như một cặp đôi mỗi khi có thể. Nhưng chỉ mỗi khi có thể thô
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Christine Kerdellant - Éric Meyer

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.