Ngày trước…
Anh ngồi xuống trên thảm ở hiên nhà và anh trải rộng tấm bình đồ dưới đất, trước mặt mình.
Đó là một kỳ quan nhỏ. Một bản vẽ đẹp bằng than chì, bằng bút lông và mực đen, được các màu xanh và lục rất nhạt làm nổi lên. Sự ẩm mốc không phá hại nó, dù trải qua mấy thế kỷ nằm dưới lòng đất. Những đoạn đường thẳng và những đám cây trồng được thể hiện bằng những hình dáng cây cối và cái bóng song sinh của chúng; những cánh đồng canh tác thì được kẻ bằng màu nước đơn sắc, đồng cỏ thì màu xanh lá xây nhạt và những con sông màu xanh dương, được kéo dài tới bờ bởi các hiệu ứng bóng chồng lên. Nó ít lớn hơn anh tưởng (rộng khoảng một thước), và gồm hai tờ giấy lớn được ghép và dán lại trên một tấm bìa dày.
Tài liệu này không mang chữ ký của Le Nôtre. Vào thời đó, các tác giả hiếm khi ký tên dưới các công trình của mình, thường là do các cộng sự thực hiện một phần trong xưởng vẽ. Nhưng nó có ghi niên đại: 1662. Đối với anh, niên đại này có giá trị bằng tất cả những con dấu và tất cả những chữ ký. Giống như cái bình đồ năm 1664 do một nhà nghiên cứu trẻ người Pháp phát hiện, và anh đã có dịp xem xét tận mắt ở Thư viện quốc gia Pháp, bình đồ của anh cũng có hình trang trí chìm với một croix de Malte[1] được vẽ nội tiếp, và dấu đóng thêm của nhà sản xuất giấy: BC, viết tắt của Benot Colombier.
Anh biết thấu đáo những bình đồ của các ngôi vườn ở Versailles, qua tất cả các thời kỳ. Nhờ vậy, anh nhận thấy, qua cái nhìn đầu tiên, là bản vẽ mà anh đang nắm giữ, trong thực tế chỉ là một “dự định”. Nói cách khác, nó là một đồ án chưa bao giờ được thực hiện (hay chỉ một phần), chứ không phải là bản ghi chép một tình trạng hiện hữu. Bộ khung của công viên hiện ra trong đó, với tất cả những sơ đồ quen thuộc – các lối đi, các khóm cây, các bể nước. Nhưng ở vào vị trí của cái ao nhỏ trong tương lai, mang tên des Suisses, là một bể nước lớn hình bát giác được một hàng cây viền quanh. Và, đây là sự ngạc nhiên thứ hai, trong hình chữ nhật lớn làm bãi cỏ đặt giữa bồn hoa Latone và bể nước Apollon lại có “lối đi hoàng gia của Tapis vert” kéo dài ra. Vâng, cũng là lối đi ngày nay đó! Trong khi nó lại không hiện hữu ở bình đồ năm 1664! Làm sao có thể như vậy được? Tại sao Le Nôtre đã vẽ lối đi đó năm 1662, rút nó ra năm 1664, rồi lại vẫn cho làm ra nó năm 1667? Ông ấy có ân hận không? Nhà vua có đổi ý không, có chấp nhận vào cuối thập niên đó những gì mà mình đã từ chối hồi đầu thập niên?
Anh nhìn cái bình đồ. Anh vuốt ve nó bằng mắt. Anh cảm thấy mồ hôi chảy sau gáy. Đó là vào đầu mùa hè. Trời không nóng lắm, nhưng sau cái mát mẻ dưới lòng đất, hơi ẩm nơi hiên nhà đầy ánh nắng làm anh nổi cơn sốt nhẹ. Trừ phi đó là nỗi xúc động… Thông thường, anh là người giỏi che giấu sự bối rối của mình mà. Em đã trách anh khá nhiều về chuyện này, phải thế không? Dù sao thì em hãy thừa nhận là, nếu anh trở thành người giàu có nhất nước Mỹ, đó chính là cũng nhờ một phần vào cái tài năng này. Để tạo dựng tài sản, ta phải là sư phụ trong nghệ thuật che giấu tình cảm của mình, nếu không phải là sư phụ trong nghệ thuật thải chúng ra khỏi người mình.
Đối diện với bình đồ của Le Nôtre, anh thấy xúc động – anh có thể thổ lộ với em đó – hơn là khi Kevin ra đời. Có lẽ xúc động hơn cả Champollion[2] trước miếng đá Rosette[3]. Hơn cả Archimède[4] trong bồn tắm. Hơn cả John Suter trên con sông của ông ta ở California, vào cái ngày ông phát hiện những vảy vàng đầu tiên đãi được trong cát. Anh có cảm giác đang sống một trong những giờ phút hiếm hoi trong cuộc đời một cá nhân, giờ phút mà Lịch sử được viết lên.
Lịch sử, em biết đấy – bọn mình, em và anh, rất thường tranh luận về nó -, không tiến tới một cách liên tục, theo đường thẳng, vững vàng. Nó đi dò dẫm từng bước, giống như một nhà nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, nhà thám hiểm. Nó chở theo hàng ngàn giờ, nhàn rỗi hay hoạt động, nhưng không có gì đáng để ý so với những thế kỷ. Nhà họa sĩ phác thảo, vẽ nháp, đi, đến, trở lại, xé, xóa, vẽ lại trong cái tĩnh lặng của xưởng họa. John Suter băng qua nỗi cô độc các vùng thảo nguyên, rừng núi để ra đến biển.
Rồi, một ngày kia, ánh chớp xuất hiện đột ngột. Sự soi sáng. Sự khám phá làm mọi sự thay đổi. Ở đó, vào những khoảnh khắc hiếm hoi, tuyệt vời hay khủng khiếp, Lịch sử run rẩy và tiến tới. Một tuyệt tác ra đời. Một thiên tài xuất hiện từ đám đông hàng triệu con người mỗi ngày sinh ra, lớn lên, rồi chết, vô danh trong cõi thiên thu. Mozart soạn nhạc cho vở Ống sáo thần diệu. Picasso vẽ Các cô gái ở Avignon, Suter phát hiện những vảy vàng trong dòng nước. Và lịch sử thế giới thay đổi. Một giai điệu được ghi vào lịch sử âm nhạc. Một tuyệt tác soi chiếu ra cả ngoài thời đại của nó. Số mệnh của California chao đảo. Em còn nhớ câu của Paul Valéry mà em đã nện cho anh, vào một ngày mà em muốn giành phần thắng không? “Lịch sử kéo dài bằng phương tiện, tiến tới bằng cực điểm.” Giỏi lắm! Anh gần như thấy tiếc là mình đã không theo học các môn nhân văn ở trường Sciences-Po như em.
Anh có cảm giác là mình đang sống vào một trong những khoảnh khắc cực điểm này.
Anh nhanh chóng nhận ra là có những khác biệt khác nữa giữa cái bình đồ mà anh nắm giữ và các ngôi vườn của lâu đài. Chỉ là những chi tiết thôi mà, dưới mắt một người quan sát thờ ơ. Nhưng từ lâu rồi anh không còn là một người quan sát thờ ơ nữa trước những tuyệt tác của Versailles.
Công việc của anh trở nên dễ dàng hơn nhờ chuyện các bể nước đều có lời ghi chú: chúng mang một chữ viết hoa dẫn đến tên đầy đủ của chúng, viết tay bằng chữ thường, ở bên dưới bình đồ. Sau đó là một phát hiện cũng làm ngạc nhiên không kém, tức là anh thấy ra một vài bức tượng được “cách điệu hóa”: vài nét vẽ của Le Nôtre diễn tả sơ qua hình dạng những bức tượng sẽ trang trí những bể nước chính.
Latone! Tượng bà nổi bật ngay đó, được đặt cùng một chỗ như ngày nay, ở giữa bể nước của bà, nhưng chưa đưa lên cao. Nhưng mặc dù vậy, bà không ở tư thế thường lệ của mình. Bà mẹ của Apollon không quay mặt về phía lâu đài, giống như lúc ban đầu, cũng không về phía bể nước Apollon, giống như hiện nay, nhưng… giữa hai phía đó.
Laton nhìn về phía bể nước nằm bên trái bà, trong vườn hoa, một trong hai cái bể nước Lézard.
Nhưng bể nước này không mang tên bể nước Lézard mà mang tên bể nước Jupiter.
Jupiter, thần của các vị thần, người tình của Latone! Anh đã thấy bản vẽ nháp đài nước này ở Viện bảo tàng quốc gia Stockholm… Bây giờ anh nhớ lại nó đây. Jupiter, vũ trang bằng chùm tia lửa, hiện ra cứu vớt người tình sủng ái nhất của mình và trút cơn thịnh nộ xuống đám dân quê ở Lycie đã phạm tội đối xử tồi tệ với nàng và các đứa con.
Bể nước Lézard kia, cái nằm bên phải Latone đó, vẫn mang cùng tên như ngày nay.
Anh không tin vào mắt mình trước việc này. Đoạn truyện thần thoại này, được thể hiện như thế trong các ngôi vườn, thì không tương ứng với bản vẽ ban đầu của Le Nôtre. Nó bị cắt xén. Từ khởi thủy, ông đã muốn minh họa ba cảnh: Latone cầu xin vị thần của các vị thần trừng phạt đám dân quê đã hạ nhục bà. Cảnh hai: Jupiter nghe được lời kêu cứu của bà và ra tay. Cảnh ba: những kẻ phạm tội bị biến thành cóc.
Trên bình đồ mà anh đang cầm trong tay, ba giai đoạn này rất tương đồng với ba bể nước. Chúng được đặt theo hình tam giác, và đương nhiên người ta đọc trình tự các diễn biến theo chiều kim đồng hồ.
Thế nhưng, các ngôi vườn Versailles không hề được tạo lập như thế cả. Tất cả các bình đồ tương lai, tất cả các bản vẽ thực hiện sau đó đều gạt bỏ cảnh hai.
Người ta đã “quên” Jupiter.
Người ta đã cho ông ra rìa, ông, vị thần tối cao, chúa tể thế gian. Vườn hoa Latone bao giờ cũng gồm hai bể nước Lézard, giống nhau thấy rõ. Cuối cùng thì anh hiểu tại sao sự đối xứng này trông có vẻ nghèo nàn quá – dưới mắt Costello trước tiên, rồi dưới mắt Kathrin và anh. Đó không phải là kiến trúc mà Le Nôtre từng mơ ước.
Hai con thằn lằn thế chỗ cho Jupiter! Tại sao Le Nôtre lại thỏa mãn với một biểu tượng quá ư nghèo nàn như thế? Và tại sao không một người nào, sau ông ấy, dám bố trí trong công viên Versailles một chỗ trung tâm cho vị thần của các vị thần?
— Ông Barett?
Terry vừa xuất hiện ở cửa ra vào hiên nhà. Hắn gần như làm anh sợ. Vậy mà chính anh đã cho phép hắn đi vào không cần gõ cửa, không cần bấm chuông.
— Nhà thầu mà ông cần gặp về chuyện mái nhà đã hủy cuộc hẹn. Ông ta hỏi có thể đến ngày mai được không.
— Thật là kỳ lạ… Không một ai biết coi trọng cuộc hẹn trong cái xứ này sao?
Anh chưa bắt đầu công việc sửa chữa nhà cửa ở đây – trừ trong vườn – mà chưa gì anh đã bực tức vì giờ giấc cao su và cách làm việc cầm chừng của đám thợ địa phương. Thế mà người Pháp lại không muốn để thợ ống nước Ba Lan vào làm việc ở Pháp!
Anh chờ Terry đi khỏi sau khi bảo hắn dời cuộc hẹn vào lúc sớm nhất sáng ngày hôm sau, rồi anh chúi đầu lần nữa vào bản vẽ của mình.
Jupiter, Latone, Apollon: người cha, người mẹ, đứa con trai. Mọi sự xuất phát từ bộ ba này. Tại sao Louis XIV không bao giờ cho thực hiện bộ ba này? Tại sao Jupiter không bao giờ được thể hiện bên cạnh ái phi của mình? Có phải Le Nôtre qua đó muốn nói đến sự vắng mặt của một Thượng đế tối cao hay sao? Thật là hết mức! Khi mà ngược lại, anh tìm kiếm bằng chứng cho sự hiện hữu của Ngài… Chắc chắn là có mối liên hệ giữa công thức thần linh và đoạn truyện bị cắt xén này, nhưng là mối liên hệ nào đây chứ?
Trong khi anh xem xét kỹ lưỡng cái bình đồ thì một ý tưởng đến trong đầu: Louis XIV, còn gọi là Apollon, có lẽ muốn giết người cha, trong vô thức. Bằng cách gạt Jupiter qua một bên, ông thấy yên tâm mà cai trị như một chúa tể tuyệt đối. Nhưng giả thuyết này thì quá ư đơn giản, và sai lầm: ngược lại là đàng khác, Thái Dương Vương đã chọn Versailles vì địa điểm này trước đó là nhà nghỉ khi đi săn của vua Louis XIII. Như thể để bày tỏ lòng tôn kính đối với cha mình. Và ông đã ra lệnh không phá hủy cái lâu đài nhỏ có từ đầu mà cho nó hòa nhập vào những kiến trúc mới. Cái ý tưởng giết cha này, chỉ là thứ tâm lý học chợ búa.
Anh tải bình đồ vào laptop, để trong kho dữ liệu của mình. Trên màn hình, anh đặt chồng nó lên bình đồ của năm 1664. Thoạt tiên, không có gì gây ấn tượng mạnh cả. Không có gì mà anh đã không thấy ra bằng mắt thường. Anh tô đậm bằng màu vàng các phần quan trọng trong bức vẽ gập làm ba: Jupiter, Latone, Apollon, và anh “zoom” trên phần công viên nhỏ. Cái bình đồ được đặt ở vị thế thường được các sách hướng dẫn du lịch chọn theo: bên trái, phía Đông, là lâu đài; bên phải, phía Tây, là Grand Canal; ở giữa, theo đường ngang, là Tapis vert.
— Thưa ông Barett, thế là hẹn được rồi.
Terry lặng lẽ xuất hiện lại. Anh ngẩng đầu lên.
— Vào 8 giờ sáng phải không?
— Ơ… 10 giờ 30.
— Nhưng tôi bảo anh lấy hẹn vào lúc sớm nhất mà!
Terry đưa hai cánh tay lên rồi buông xuống, tỏ dấu bất lực.
Anh bắt đầu xem xét lại lần nữa từng phần một. Bể nước Apollon vẫn còn mang tên bể nước des Cygnes, nhưng lời ghi chú làm rõ thêm: Apollon trên cỗ xe ngựa của mình.
— Có phải Apollon đó không, cái nét vẽ nhỏ này? - Terry hỏi.
Hắn chỉ cái hình vẽ qua loa thể hiện thần Mặt trời giữa đoàn tùy tùng được vẽ đặc biệt thô kệch đến mức khó mà biết những con ngựa và những thần biển đầu người đuôi cá đang chạy về hướng nào.
Việc tên gác dan mở miệng xen vào làm anh phát bực. Hắn ở lại trong phòng và nhìn bình đồ qua vai anh. Hắn quan tâm đến cái gì đây chứ? Dĩ nhiên là hắn chưa bao giờ thấy bình đồ nguyên gốc của Le Nôtre và chẳng giúp ích được gì cho anh.
— Đúng vậy, Terry, - anh vừa trả lời, vừa đứng dậy, - đúng là Apollon đó, anh cũng biết đọc lời ghi chú như tôi mà. Bây giờ, tôi muốn là…
Nhưng hắn buột miệng nói tiếp, không nghe những gì anh nói.
— Tội nghiệp quá, trông nó cứng đờ như cây cọc!
— Nghe này…
Anh mất kiên nhẫn. Terry hiểu ra, lùi một bước và bỏ đi, miệng còn lẩm bẩm:
— May thay, Apollon thật thì không có vẻ như số 1!
Anh giật mình.
— Cái gì? Terry, anh nói cái gì?
— Tôi nói là Apollon này không giống chút nào pho tượng thật ở ngoài công viên. Đây, với tóc nó ngược ra sau, người ta có thể tưởng rằng số 1. Con số 1.
Terry dùng ngón tay lần theo trên màn hình nét vẽ của Le Nôtre tượng trưng một cách qua loa pho tượng trung tâm. Hai nét đậm, một cái dài, một cái ngắn, cái này thì thẳng đứng, cái kia thì nghiêng bốn mươi lăm độ, lập thành một mũi nhọn. Tên gác dan có lý. Thần Mặt trời hiện ra dưới hình dạng con số 1.
— Thưa ông Barett, ông có vẻ hoang mang.
— Không… không đâu. Tôi đang tìm hiểu mà.
Anh ngồi xuống lại trước màn hình. Terry có vẻ lấn cấn vì anh đung đưa thân hình từ trước ra sau.
Anh nhìn không chớp mắt cái bình đồ. Con số 1 mà Terry đã nhận dạng bây giờ hiện ra rõ rệt dưới mắt anh. Nhưng không chỉ thế. Anh cũng phát hiện là các bể nước Latone và Jupiter, hai khuôn mặt lớn khác được tô vàng, cũng được vẽ bằng những nét đậm. Hai vòng tròn dày.
— Terry…
— Dạ.
— Đó kìa, nhìn này… Anh thấy không?
Anh dùng ngón tay chỉ xung quanh những vị trí của Latone và Jupiter.
— Anh thấy những con số nào ở đó?
Hắn suy nghĩ một giây.
— Ta có thể nghĩ là hai “số không”!
— Đúng là hai con “số không”, nhưng không giống nhau.
— Ông có lý lắm, ông Barett ạ. Một con to, hơi bầu dục, và một con nhỏ, tròn hơn.
— Vậy là thành…
—… một “số một” và hai “số không”, - tên gác dan bổ sung một cách ngoan ngoãn, mắt nhìn anh dò hỏi, như thể tin là sẽ bị khẻ các ngón tay.
1, 0, 0. Apollon, Jupiter, Latone. Anh thấy em bật cười rồi đó.
— Dan, lúc nào anh cũng thấy nhị phân. Anh không bỏ lỡ cái nào!
Bọn mình đã tranh cãi cả trăm lần về chủ đề này. Anh: niềm tin sâu sắc là tất cả mọi thứ trong đời rút lại chỉ là cái tổ hợp 0 và 1. Là mọi thứ đều có thể phân tích được. Sống hay chết. Thắng hay bại. Trắng hay đen. Tóm lại, 0 hay 1. Em: sự xác tín là không có cái gì mà ta có thể mô hình hóa được, vì có “yếu tố con người”, xúc cảm, tình yêu, lòng ghen ghét, nỗi sợ hãi… Là các tình cảm không thể nào được đặt thành phương trình. Và trí tuệ nhân tạo thì không bao giờ thắng được trí tuệ xúc cảm.
Nhưng lần này thì rõ ràng lắm rồi.
1, 0, 0. Nhất là số 1. Tại sao thể hiện Apollon bằng cách này? Dĩ nhiên, chàng là Mặt trời, và Mặt trời thì độc nhất…
— Ta hiểu rồi! - Anh hét lên đột ngột, làm Terry giật mình.
Bộ tóc, mẹ kiếp, bộ tóc! Nếu bức tượng thực sự là của một vị thần đang chuyển động, nổi lên khỏi mặt nước, trên cỗ xe của mình thì cái thanh nghiêng trên con số “một” thể hiện, chắc chắn thế, mái tóc rậm của vị thần trẻ trung bị gió khi cưỡi xe thổi ngược ra sau.
Đúng rồi, chỉ có thể như thế thôi! Khi một nhà vua đặt hàng một bức tượng, không có cái gì được thể hiện một cách tình cờ. Kể cả và nhất là bộ tóc. Em còn nhớ đoạn ghi chép của Costello về chuyện pho tượng của vua Louis XIV cưỡi ngựa không? Những lọn tóc dài của Thái Dương Vương rất thẳng, dựng đứng, bất chấp những chuyển động của con ngựa đang lồng lên… Ngay từ lúc đó nhà vua đã muốn đưa ra dấu hiệu là mình, ông vua-thần, chế ngự được sức mạnh của tự nhiên. Khuất phục đến cả bộ tóc của mình ngay giữa cơn gió lốc.
Như vậy, đối với bức tượng Apollon, tóc tai cũng quan trọng! Nếu tóc bay về phía lâu đài, đó là Apollon quay lưng về phía cung điện. Chàng đang tiến về phía Tây! Chàng theo đường đi của Mặt trời!
Trên bình đồ của Le Nôtre, vậy thì Apollon được đặt đúng hướng.
Anh lấy ngòi viết vẽ lại trên máy tính xách tay các con số như chúng được đặt, theo quy luật chuyển động của Mặt trời, từ Đông sang Tây: 0, 0, 1. Con số không to là bể nước Latone. Con số không nhỏ là bể nước Jupiter. Rồi số 1, bể nước Apollon. Vậy, ta có một cách chính xác: 001.
Thế mà, giữa con số không nhỏ và con số một, giữa bồn hoa Latone và cỗ xe ngựa Apollon, có một khoảng không gian. Đó là Tapis vert. Một bãi cỏ hình chữ nhật dài được viền bằng hai lối đi trải cát dọc theo hai cạnh dài. Trên bình đồ, hai lối đi này được vẽ bằng một nét, đậm hơn nét vẽ của hai cạnh ngắn. Như thể Le Nôtre, bằng cách ấn tay mạnh hơn khi vẽ hai cạnh dài, muốn thể hiện không phải một hình chữ nhật, nhưng hai nét ngang, song song nhau.
Một dấu toán học khác.
Bây giờ, mọi sự trở nên rõ ràng.
Công thức đây rồi, trước mắt anh.
❀ ❀ ❀
[1] Hình chữ thập với bốn nhánh bằng nhau, nhưng đầu mỗi nhánh thì rộng ra.
[2] Nhà Ai Cập học người Pháp (1790-1832), người đầu tiên giải đoán các chữ tượng hình Ai Cập cổ đại.
[3] Là một miếng đá bia được phát hiện năm 1799 ở Rosette (Ai Cập), có khắc văn bản, bằng chữ tượng hình cổ Ai Cập, bằng chữ Hy Lạp…, của một chiếu chỉ của vua Ptolémée thứ 5, và nhờ nó mà Champollion giải mã được vào năm 1822 các chữ tượng hình.
[4] Nhà bác học Hy Lạp (287-212 trước Công nguyên).