Tracy-sur-Mer, Longues-sur-Mer, Port-en-Bessin, Sainte-Honorine-des-Pertes… Con đường nội tỉnh nối Arromanches với Colleville-sur-Mer ngoằn ngoèo chạy dọc theo cánh đồng. Granier có vẻ biết rõ từng khúc cua và chỉ lái chậm lại chút xíu khi xuyên qua làng mạc. Gã đã mất hai mươi phút mới đến tấm bảng chỉ đường vào mảnh đất Mỹ nằm lọt trong lãnh thổ Pháp. Đi thêm vài trăm thước rồi gã ngừng ở bãi đậu xe:
— Đến rồi! Cô Shannon, tại đây là cô đang ở nước mình đó.
Emma không để ý đến nụ cười thỏa mãn của người lái xe đưa nàng đến đây. Nàng đã quen nghe người Pháp gọi nàng là Mỹ, và người Mỹ gọi nàng là Pháp, thông thường là để bêu xấu các khiếm khuyết của đối phương. Nàng bất chấp mấy chuyện này, không đời nàng nàng chối bỏ gốc gác kép của mình. Nhưng ngay đây, tại mảnh đất tách biệt này, nàng cảm thấy niềm hãnh diện lớn lao về gốc rễ bên phía cha của mình.
— Jean-Philippe, anh chờ tôi ở đây nghe! Tôi quay lại ngay!
Nàng ra khỏi xe và bước nhanh về phía cổng vào nghĩa trang quân đội Mỹ cách đấy vài thước. Nàng chưa hề đặt chân đến đây nhưng đông đảo bạn bè nàng ở Mỹ đã nói với nàng về địa điểm này, nằm phía trên bãi biển Omaha, nơi mà hàng trăm người lính của đất nước nàng đã bị bắn hạ dưới làn mưa đạn vào buổi sáng ngày 6 tháng 6 năm 1944. Những bãi cỏ cắt sát gốc, những hàng cây du đứng cách quãng vừa phải, những lối đi trồng hoa hồng hai bên: ngay tức khắc, nàng cảm thấy dâng lên trong người mùi hương nước Mỹ. Ở đây, ngay từ lối vào, tất cả trông rộng rãi hơn, ít chật chội hơn ở Pháp. Nàng chạy xuống lối đi chính giữa và dừng trước ngôi nhà thờ hình nửa vòng tròn đối diện nàng. Nàng không muốn mất thì giờ đến gần bức tượng đồng to lớn ở tư thế tiến công đặt ở vị trí nổi bật ngay giữa các hàng cột. Nàng muốn nhanh chóng tìm ra Pierre. Nhưng bắt đầu từ đâu đây? Chàng có thể ở chỗ nào?
Chung quanh nàng, khắp nơi, dưới những cây thông quả đỏ và cho tới cái sân hiên nhô cao trên biển, là những cây thánh giá dựng đứng. Gần mười ngàn cái, toàn màu trắng, đứng im trong cỏ lấp lánh sáng. Emma bước tới trên lối đi dẫn về phía cuối nghĩa trang. Nàng không thể không nhìn các cây thánh giá khi đi trước chúng, và quan sát chúng khi đối diện hay nhìn xéo ra sau. Không một khiếm khuyết nào hiện ra làm gãy đổ sự xếp thành hàng thẳng đơn sơ này. Và ngôi vườn, người ta nói với nàng một ngày nọ, khi nhìn từ trên cao, thì cho thấy hình dạng hoàn hảo của một chữ thập la-tinh. Đó là một ngôi vườn tang tóc nhưng vui vẻ cùng lúc, bạo liệt nhưng nguôi ngoai. Một lời cầu xin Lịch sử tha thứ, kỳ cục và xót xa.
Emma dừng bước, cảm thấy choáng váng vì sự im ắng bao quanh, hoang mang với ý nghĩ là mình đã xen ngang vào cuộc đối thoại triền miên giữa những người đã ra khỏi cuộc đời. Ngộ nhỡ tất cả những người lính này cất tiếng nói thì họ sẽ nói gì với nhau? Cái chết, nàng nghĩ, đã biến cuộc đời họ thành số mệnh. Tư tưởng này của Malraux[1], mà ngày xưa nàng đã làm bài luận khi còn học trung học phổ thông, trở lại trong trí nàng. Số mệnh của hàng ngàn người trai trẻ, nhưng cũng là số mệnh của cả một lục địa, đã diễn ra tại đây.
Một cuộc chiến tranh đã chấm dứt nơi này. Nàng không thể không nghĩ đến một cuộc chiến tranh khác đang bắt đầu. Khởi phát bằng một cú nhấp chuột đơn giản, nhưng còn tàn phá hơn nhiều. Nhưng ai là kẻ kích động? Đâu là ý nghĩa cuộc chiến đấu của hắn? Phải chăng đó là sự phá hủy một thế giới kinh tế, thế giới của nàng? Và, nghiêm trọng hơn nữa, phải chăng đó là sự phá hủy một hệ thống giá trị? Một hệ thống được xây dựng trên tự do của con người và – dù người Pháp có muốn hay không – được đất nước nàng, Hoa Kỳ, bảo vệ từ nửa thế kỷ nay.
Đứng bất động, nàng đảo mắt tìm hình dáng Pierre. Đi hướng nào bây giờ? Chẳng có người sống nào giữa ô bàn cờ lớn màu lục và trắng này. Nàng tự ép mình bước tới giữa những hàng thánh giá.
Richard K. Wirt, SGT 323 bom SQ 92, Illinois, May 13…
Leroy Kelly, North Carolina…
Dunstan Perkins, New Jersey…
Emma nhận ra là tất cả các nấm mộ đều không giống nhau. Rải rác đây đó có vài ngôi sao David[2] đặt ở trên.
Efraim Lew, New Jersey… Jack Barshak, New York…
Rồi có những ngôi mộ khác không mang tên ai cả.
Here rests in honored glory a comrade in arms known but to God[3]…
Một chiến hữu chỉ có Thượng đế biết.
Sau cùng là những mộ bia khác được người ta đặt hoa mới đây. Emma đi nhanh hơn, cho tới cuối trục trung tâm, về hướng ngôi nhà nguyện khi nàng tin rằng đã phân biệt bên phía tay trái một người đàn ông ngồi co mình dưới chân một nấm mộ. Pierre à? Nàng không chắc nhận ra hình dáng chàng. Anh ta làm gì mà ngồi chồm hổm giữa những cây thánh giá thế này? Ngay lúc nàng tiến lại gần thì người đàn ông quay người lại. Anh ta để bên cạnh một cái xô đựng đầy cát, một miếng giẻ lau và một cái sọt đầy hoa.
— Emma! Em làm gì ở đây thế? - Anh ta kêu lên khi thấy nàng đến gần.
Đúng là Pierre rồi. Emma trấn tĩnh lại.
— Anh đoán xem nào! Em tìm anh cả nửa giờ rồi! Anh phải đi với em.
Rồi nhìn kỹ đồ vật mà Pierre cầm trên tay:
— Nhưng chính xác là anh đang làm gì, với cái cọ này?
Pierre Chavannes đặt bó hoa xuống cỏ và trên tay thực sự cầm một cây cọ. Anh trải cát ướt lên thanh ngang của cây thánh giá, nơi họ tên người lính được khắc lõm vào. Các con chữ được phủ cát như thế thì làm hiện ra cái tên bằng chữ viết có ánh vàng trên đá cẩm thạch trắng.
Edward M. Withers, Wisconsin, July 12th 1944.
— Anh đang…
Emma ngăn Pierre nói hết câu bằng cách kéo tay áo anh.
— Pierre, anh nghe này! Em nghĩ là em biết chỗ mà Dan đã để lại các chỉ dẫn về cái backdoor! Ta phải đi ngay thôi!
Pierre đứng dậy, lộ vẻ ngơ ngác:
— Em muốn nói gì vậy?
— Em sẽ giải thích cho anh sau! Đi nào! Granier đang chờ bọn mình ở bãi đậu xe. Sẽ chở bọn mình bằng xe của gã.
Nàng nắm lấy cánh tay anh và kéo anh đi giữa những cây thánh giá. Pierre bước nhanh hơn một cách khó khăn vì vướng víu với cái sọt và cái xô. Trước mặt anh, Emma đi nhanh, dáng lanh lẹ với chiếc váy màu be và đôi giày mềm đế thấp và không dây. Anh chỉ thấy tóc nàng tung bay trên vai. Nhưng đột ngột anh muốn dừng lại. Tại sao anh lại chạy sau người đàn bà này? Anh phải theo nàng một cách ngu ngốc, như con chó xù, mà không đặt câu hỏi hay sao? Đến lối đi trung tâm, anh dừng bước hẳn.
— Emma, trước hết, em có thể nói mình đi đâu không?
— Đi Versailles!
— Anh không biết có nên…
Pierre đặt xuống đất mấy thứ đồ lỉnh kỉnh và có vẻ càng lúc càng do dự. Nàng cầm tay anh.
— Đi nào, em sẽ chỉ cho anh cái này.
Nàng kéo anh về phía nhà tưởng niệm màu trắng hình bán nguyệt sừng sững trước mặt họ. Nàng leo lên vài bậc cấp rồi đứng lại. Trước mắt nàng là những bản đồ chiến trường được sơn trên bức tường với những mũi tên và lời chú thích chỉ ra vị trí của mỗi sư đoàn và chiến trận của nó. Nàng muốn cho anh thấy cái gì? Và tại sao vào lúc này? Nàng phải giãi bày, và cũng phải nói bằng cách nào nàng đã tìm ra anh. Anh sẽ không tiếp tục như thế này. Anh không phải là tên bồi phòng của nàng.
Nhưng nàng đã quay người lại và anh thấy đôi môi nàng mấp máy. Đường môi cong dịu dàng và thanh tú. Emma vẫn giữ bàn tay anh trong tay nàng. Anh cảm thấy như nàng đang vuốt ve mấy ngón tay anh. Nàng muốn nói gì thế này? Tại sao nàng nhìn anh như thể…
Anh không có thời gian để buột miệng hỏi nàng. Hai khuôn mặt quá gần nhau.
Anh ép nàng vào sát tường và ôm hôn nàng. Anh nghe tiếng thở phào của nàng và anh buông hai tay để đưa lên vuốt ve đôi vú nàng. Nàng cảm thấy cơn ham muốn bùng lên chụp lấy mình.
Một người nào đó thăm viếng nghĩa trang hẳn là trông thấy họ, nhưng họ quên mất mình đang ở đâu.
Pierre bỏ mặc muốn đến đâu thì đến, anh bị kích thích bởi đôi mắt, đôi môi và cổ Emma sát miệng anh. Anh lùi vài centimét, nhìn nàng chằm chằm.
— Em đẹp quá.
Mắt không rời nàng, anh luồn tay xuống dưới váy nàng, vào chỗ nối giữa hai đùi, nơi mà một nỗi ham muốn tương tự như anh, nàng không thể che giấu nó, đã xuất hiện từ trước rồi. Và anh quỳ xuống, lật áo thun nàng lên, rồi với hai bàn tay ghì chặt hông nàng, anh hôn rất lâu bụng nàng, chỗ mép lỗ rún. Những cơn rùng mình chạy khắp cơ thể nàng, từ vùng thắt lưng tới tận chân tóc. Nàng nhắm mắt lại. Pierre vén váy nàng lên, kéo cái quần lót bằng lụa xuống rồi dịu dàng đưa môi mình hôn sâu vào đám lông rậm màu nâu. Hai đầu gối Emma bắt đầu run rẩy. Đầu ngả ra sau, rối loạn, nàng nắm chặt tóc anh. Rồi anh bật dậy và làm tình đứng với nàng, lưng tựa vào tường trong khi nàng cắn môi để khỏi hét lên. Anh nhấc nàng lên, để hai chân nàng quấn quanh hông mình, giữ nàng ép sát vách. Mái tóc Emma vẽ lên một vệt tối trên bức tường quét vôi trắng.
Sự cuồng nhiệt đó, gần như thú vật, sự hưởng thụ khoái lạc không thể kìm hãm được đó sẽ làm anh xấu hổ sau này, anh ý thức về điều này, nhưng lạc thú mà anh chia sẻ với Emma mãnh liệt đến mức đã quét sạch mọi giữ gìn. Thực ra, Pierre cảm thấy sung sướng đã khám phá ra người đàn bà này, đã được nàng lựa chọn, đã là hiện thân của giấc mơ nàng, và đã để cho giấc mơ đó thành hiện thực. Anh biết là hình ảnh mà anh thấy ở bãi biển, bóng dáng mặc đồ lót trắng quì gối bên anh, sẽ mãi mãi in sâu trong tâm trí mình. Mong là nàng sẽ còn hiện ra khi anh quên đi tất cả những gì còn lại, khi anh không còn đủ sức tin rằng cái đêm đó là có thực.
Niềm vui sướng cùng làm hai người ngạc nhiên, và họ thả người ngồi bệt xuống đất, lưng dựa vào tường, thở hổn hển. Emma trấn tĩnh lại đầu tiên. Nàng ép Pierre đứng dậy.
— Anh phải đi với em. Nhưng không phải vì cái này, - nàng nói, tay chỉ chiếc váy mà nàng sửa lại trên người. - Mà vì họ.
Nàng hất cằm về phía hàng ngàn cây thánh giá được sắp đặt ngay ngắn, thẳng hàng trên bãi chiến trường xưa.
— Anh không thể làm gì cho họ nữa, những người an nghỉ nơi đây, anh hiểu không? Họ đã hy sinh mạng sống để cứu vớt tự do của chúng ta, và anh có lý khi đến đây tôn vinh các liệt sĩ này. Nhưng nếu anh không đi với em bây giờ, nếu anh để bọn khủng bố làm gì thì làm, thì anh sẽ có thể xây ra hàng trăm nghĩa trang như cái này. Hàng ngàn người vô tội, có lẽ hàng triệu người, đang có nguy cơ bị giết.
Nàng hét lên:
— Pierre, anh nghe em chứ? Hãy nghĩ đến người sống đi! Một cuộc thế chiến mới đã bắt đầu, và kết cuộc của nó tùy thuộc vào anh đó!
❀ ❀ ❀
[1] André Malraux (1901-1976), nhà văn và chính trị gia Pháp. Tác giả các tiểu thuyết nổi tiếng như “La condition humaine” (Thân phận con người), “L’espoir” (Hy vọng)…
[2] Ngôi sao sáu cánh, biểu tượng của đạo Do Thái.
[3] Có nghĩa: “Nơi đây an nghỉ trong vinh quang và danh dự người chiến hữu chỉ có Thượng đế biết…”