Pierre đặt chiếc rương xuống living bed của Dan, Emma đã kéo anh đến đây. Trong biệt thự Trianon, căn phòng của Dan là phòng được trang bị tốt nhất về tin học, được điều hòa tốt nhất, và cũng là niềm nở nhất. Ngoài ra, Emma thích chiếc giường này. Bất kể mấy cái tấm đỡ lồng vào nhau và cái màn hình plasma có thể rụt vào trong, nó mời gọi ta làm chuyện khác ngoài làm việc và ngủ nghỉ.
— Này, giúp anh một tay! - Pierre yêu cầu.
Anh không hình dung được ý nghĩ thô tục nào của người đàn bà Mỹ mà anh vừa bóp nghẹt từ trong trứng. Chăm chú với việc đang làm, chàng chuyên viên tin học tháo dỡ các trang thiết bị tìm được trong căn phòng bí mật. Chắc chắn là anh không nhận thấy cái chức năng thích thú nhất của chiếc giường hiện đại nhất thế giới này… Thật tội nghiệp đàn ông! Emma nghĩ. Họ không biết làm hai chuyện cùng lúc.
Pierre bày ra trên giường bằng mút đỏ cái note-book – một máy tính xách tay rất nhẹ – dĩa CD-Rom, vẫn còn nằm trong hộp nhựa trong suốt, và bộ tai nghe lạ lùng: một băng cột quanh đầu rộng và cứng, trên đó gắn thêm khoảng chục điện cực kiểu ống giác, giống như hàng đèn chiếu ở mép sân khấu.
Trên nắp đậy của note-book, một màn hình kích cỡ hộp diêm bật sáng khi tiếp xúc với ánh sáng ban ngày. Pierre thấy lần lượt hiện ra hàng chữ: Cho Emma.
— Đầu óc chi tiết làm sao! Tôi biết có người tự bằng lòng chỉ với cái nhãn tên và một miếng băng dán thôi.
Về phần CD-Rom thì nó mang một từ viết tháu bằng bút phớt: backdoor.
— Không cần tốn sức tìm xa hơn nữa! Anh kêu lên. Những hàng mật mã mà ta cần chắc chắn là được ghi trong cái CD-Rom này. Phần còn lại, anh nói thêm với một chút ghen tương trong giọng nói, chắc là một phát minh mà Dan muốn di tặng cho em…
Anh ngồi lên giường và đẩy đĩa CD vào trong máy tính đầu giường. Ngay tức khắc, một cửa sổ mở ra trên màn hình, yêu cầu nhập mật khẩu.
— Anh thử Apollon nghe?
— Thử đi.
Pierre gõ tên đứa con trai của Latone.
Invalid data. Try again[1].
Mật khẩu đó không đúng. Anh thử Le Nôtre.
Invalid data. Try again.
Cũng không xong. Anh đột ngột đứng dậy và bực tức ném mạnh cái hộp đựng CD xuống sàn gỗ.
— Không thể thế được! Coi thường bọn mình quá, ông bạn Barett quý hóa của em! Thế giới bùng cháy, thiên hạ chết như rạ, mà trong thời gian này thì ông ta bắt bọn mình chơi trò “Fort Boyard”[2] đây! Và nếu thử mật khẩu đến lần thứ ba mà không chạy thì ta bị tống cổ ra khỏi hệ thống, bao giờ cũng thế đó! Lần này, cái mật khẩu đúng là gì hả em? Em, chuyện gì cũng biết, phải không nào?
— Pierre, im đi! Đừng có nổi nóng! Dan đã chết, làm sao anh dám nói về anh ấy như thế chứ? Anh nghĩ thực sự là anh ấy muốn những hàng mật mã của mình rơi vào tay bất cứ ai à? Em chắc chắn là ta sẽ tìm ra. Thôi, ta hãy xem xét phần còn lại đi!
Lạ thật, Pierre nghĩ, cái cách mà Emma trở nên bao dung khi đụng đến Barett. Anh nhìn nàng cầm note-book lên và khởi động nó. Đồng hồ cát hiện ra. Đang nhập chương trình. Hãy kiên nhẫn… Máy tính cũng mất hết hai phút mới sáng lên. Đứng trước cửa sổ, anh chuyên viên tin học chế ngự cơn bực dọc của mình bằng cách xoay trong bàn tay hai hòn bi Tàu màu xanh trang trí với những con rồng nhỏ thếp vàng mà anh tìm thấy trên lò sưởi.
— Pierre, tới xem này!
Cùng lúc đó, một tiếng nói khác bật ra từ loa của cái note-book.
Xin chào mừng, Emma. Anh thấy sung sướng là em đã đến tận đây…
Pierre giật mình. Đó là giọng nói của Barett, được truyền thanh trực tiếp, người ta hẳn có thể tin như vậy. Một giọng nói đến từ cõi chết.
Hãy đeo bộ tai nghe và các ống điện cực lên đầu, kiểm tra xem em có ngồi hoàn toàn bất động bằng cách tựa gáy vào một cái vách cố định, và nhìn chăm chú vào những hình ảnh sẽ theo sau. Chút nữa gặp lại.
Emma bất chợt lùi người lại. Nàng nhìn bộ tai nghe có gắn thêm các điện cực, lộ vẻ lo âu.
— Anh có nghe chứ?
— Chính là Barett, phải không?
— Vâng, đúng là giọng nói của Dan.
— Ngạc nhiên lắm.
— Quả là Dan! Anh ấy đã…
—… ghi âm tin nhắn này trước khi chết. Rõ ràng là để cho em.
Emma rùng mình. Pierre trở lại ngồi bên cạnh nàng, ở mép giường.
— Chính là Barett, không nghi ngờ gì nữa. Hay là giọng nói tổng hợp của ông ấy. Thôi được. Ta hãy bình tĩnh lại. Ta sẽ làm theo lời ông ấy. Thoạt tiên, em nên biết là bộ tai nghe thì nối điện với cái PC. Không có nguy cơ gì. Nó sẽ không truyền 220 vôn vào trong hộp sọ em đâu! Và anh nghĩ là ta phải dùng nó để có thể đọc cái CD-Rom… - Anh nói thêm, sau khi nghĩ ngợi vài giây, - Em còn nhớ BrainMap không?
— BrainMap à?
— Phải.
— Lờ mờ thôi… Gợi lên cái gì đó. Một xí nghiệp nghiên cứu y học đã phá sản cách đây ba hay bốn năm, phải vậy không? Công ty em có xem xét hồ sơ đó.
— Đúng vậy. Và anh trước đó đã không do dự mua các cổ phiếu khi nó lên sàn NASDAQ! Xí nghiệp đã đóng cửa, nhưng nó bán lại giấy phép sử dụng bằng sáng chế cho General Digital mà các nhà nghiên cứu sau đó tiếp tục phát triển thêm. Brain- scan[3], tên cái máy đó, em nhớ không? Một cái máy sử dụng cùng một công nghệ như máy nội soi cắt lớp dùng trong y khoa.
— Em không nhớ rõ lắm.
— Ồ, đơn giản thôi mà. Khi một phần bộ não bận rộn làm việc, nó cần thêm dưỡng khí, do đó máu chảy dồn về chỗ đó. Và việc này thấy được trên màn hình: vùng não đó “sáng lên”!
Pierre đứng dậy, đi vài bước về phía cửa sổ rồi quay về phía Emma.
— Anh còn nhớ là ngay trước ngày bầu cử tổng thống Mỹ, hãng General Digital đã làm một cuộc chứng minh lạ lùng để giới thiệu rộng rãi sản phẩm của mình. Tất cả các phương tiện truyền thông đều nói tới chuyện này. Các nhà nghiên cứu đã làm thí nghiệm với các cử tri hai đảng Dân chủ và Cộng hòa. Họ đưa cho các người này xem ảnh của mỗi ứng cử viên được ưa thích. Mỗi lần như thế, vùng não điều khiển sự đồng cảm thì hoạt động gấp đôi. Ngược lại, khi họ đưa cho các cử tri này xem ảnh của ứng cử viên đối thủ, máy nội soi cắt lớp ghi nhận là máu dồn về vùng não mà ở đó con người tìm cách kiềm chế các cảm xúc của mình. Ở chỗ mà… mà con người hầu như là cố gắng để… không yêu.
Pierre đã nhìn đi chỗ khác khi nói những từ cuối cùng này. Nhưng Emma thì quá tập trung vào sự lập luận của anh và không nhận thấy chi cả.
— Ý anh là chính máy nội soi làm việc phân tích các cảm xúc, phải vậy không? Nó cho biết người ta có thành thật hay không? Một loại siêu máy dò nói láo phải không?
— Chính xác. Hiện nay thì nó đã hoàn chỉnh. Khi người ta nói láo, người ta không sử dụng cùng cái phần não như khi người ta nói thật. Và cái dụng cụ này đo lường các phản ứng này, tốt hơn nhiều mấy cái máy dò nói láo cũ xưa gắn đầy “bug”. Nhớ lại đi! Cái thứ máy gây ra nơi những người có bản tính dễ xúc động cùng sự ra mồ hôi, cùng sự tăng nhịp tim đập như ở những người nói láo…
— Vâng, - Emma gật đầu. - Các tay chơi xì phé có thể qua mặt máy dò tìm nói láo bằng cách giữ bình tĩnh, ngay cả khi họ chơi bịp. Nhưng bọn mình làm gì với thứ đồ lề lỉnh kỉnh này chứ?
Tiếng “bíp” của máy tính vang lên đột ngột. Một cửa sổ mở ra ở một góc màn hình.
CNN Tin buổi chiều. Mười người chết ở Los Angeles. Hội chứng mất trí nhớ bí ẩn vẫn hoành hành.
— Pierre, nhìn này!
Anh nghiêng người bên trên vai Emma và thấy cái lôgô của CNN rồi người đọc tin của hệ thống truyền hình này. Barett chắc là đã lập trình cho máy tính của mình để nó kết nối với CNN bất cứ lúc nào, ngay khi một tin tức quan trọng xuất hiện.
Bản tin ngắn làm anh lạnh người.
Người đọc tin mô tả cái chết ở Los Angeles của mười người trong các tình huống từ nay đã trở nên thông thường. Chết, trong hai hay ba ngày, sau khi mê sảng đột ngột và mất trí nhớ. Các nạn nhân, tất cả đều đi xa về, không còn nhớ nổi tên tuổi của mình cũng như địa điểm mà họ đã lấy máy bay. Theo những lời khai đầu tiên của các nhân chứng, họ đã uống một viên mélatonine trước khi máy bay cất cánh tại phi trường Narita, ở Tokyo.
Tokyo, chứ không phải Boston.
Những tên khủng bố đã tìm ra một hệ thống phân phối dược phẩm khác. Và có lẽ nhiều hệ thống khác.
Người đọc tin chuyển tiếp trên những hình ảnh ở Hong Kong và Manchester cho thấy những hàng người đứng chờ trước những kệ nước khoáng trong các siêu thị. Các nhà thương đều quá tải. Một phóng sự về Paris cũng đưa ra bức ảnh gây ấn tượng mạnh của quảng trường Étoile, nhìn từ trên cao, hoàn toàn bị tắc nghẽn. Các trục đường chính dẫn đến quảng trường thì trông giống như những bãi đậu xe dài mất trật tự. Xe cộ bị kẹt cứng.
— Emma, ta không còn một phút nào để mất nữa! Nào, cầm bộ tai nghe lên! - Pierre ra lệnh.
Anh bảo nàng ngồi ở tận đầu living bed rồi bấm thiết bị điều khiển từ xa để dựng lên cái tựa lưng, nó có thể gập lại và dùng để làm đầu giường.
— Được rồi đó. Gáy giữ thẳng, đầu hơi nghiêng ra sau, theo lời Barett khuyên.
Anh giúp nàng đội dụng cụ lạ lùng này lên đầu. Vào lúc nàng túm tóc đưa cao lên để lộ phần gáy, bàn tay nàng chạm qua bàn tay Pierre. Đến phiên nàng thấy run rẩy. Nếu anh có thể thấy được, vào khoảnh khắc này, hình ảnh được nội soi của bộ não nàng, anh hẳn là chẳng còn chút hồ nghi nào về tình cảm của nàng.
— Em trông lố lăng quá, với cái thứ này trên đầu, - nàng nói để xua đi bối rối.
Pierre dằn miệng, không trả lời. Giờ phút này thực sự không phải để phân tích số lượng sự lố lăng mà nàng cảm thấy rơi vào. Tôi có lố lăng không? Có? Không? Một chút? Nhiều lắm? Một cái thói kỳ quặc nơi đàn bà, nỗi ám ảnh về hình ảnh mà họ phóng chiếu dưới mắt người khác.
Một cảnh tượng kỳ cục đi qua đầu anh. Một bà chủ tịch-tổng giám đốc đứng trên nóc nhà Trung tâm Thương mại Thế giới, ngay trước khi Tháp 1 sụp đổ, cầm tấm gương soi giơ lên trước mặt để kiểm tra, một lần cuối cùng, là mình trông không lố lăng.
— Em trông như tên hề, phải thế không? - Emma nói tiếp.
— Một tên hề dễ thương, - Pierre thêm vào, tay điều chỉnh bộ tai nghe trên mắt nàng.
Nàng thấy ngạc nhiên vì anh phát âm các từ “một tên hề dễ thương” một cách dịu dàng. Sự hung hăng của anh trong mấy giờ vừa qua có vẻ dịu đi nhiều.
Pierre mở tấm ván kệ ra, đưa nó lên cao rồi đặt note-book lên để cho màn hình của máy tính nằm vừa tầm mắt của Emma.
— Bây giờ, em không động đậy nữa, em không nói nữa, em tập trung vào những gì em thấy. OK.?
Nàng chớp mắt ra dấu đồng tình.
— Sẵn sàng chưa? - Anh còn nhắc.
Nàng thở vào rất sâu. Nhịp tim nàng chậm lại.
— Vậy thì bắt đầu nghe!
Pierre nhấn phím Enter trên máy tính. Trang chủ biến mất, nhường chỗ cho một bức ảnh.
Một cái nồi bằng kim loại mà đáy bị cháy đen.
Emma nhận thấy là Pierre, ở bên cạnh nàng, đang nghiến răng. Anh bị căng thẳng, bất chấp sự thanh thản mà anh cố gắng phô ra. Bộ mặt anh u ám, các ngón tay thì co quặp lại. Chắc chắn là anh đang nghĩ, lại một lần nữa, đến tất cả những người chết này, đến bạn bè ở Marseille mà anh sẽ không gặp lại, đến đứa em rể ở nhà thương, đến các đứa con, đến Clara, có lẽ thế. Có lẽ thế.
Nàng nhìn bức ảnh và suýt chút nữa ngã vật xuống. Nhưng là vì thấy hạnh phúc. Một cơn sóng tình cảm thắm thiết và ấm áp xâm chiếm nàng.
Ôi Dan yêu quý ơi!
Nàng nhớ lại hoàn toàn cái cảnh đó. Đó là vào năm 1988 hay 1989. Nàng còn là sinh viên, nhưng Dan đã thành lập công ty trước đó cùng với Bernie trong khuôn viên trường Harvard. Một đứa trong đám bạn, tên là Anton, cho họ mượn căn hộ một gian ở ngoài phố trong ba tháng. “Cứ tự nhiên như ở nhà mình, tận dụng hết cỡ căn hộ nhé”, Anton nói. Để tận dụng thì đúng là họ tận dụng hết cỡ thật! Họ đến đó mọi buổi tối và qua đêm ở đó. Họ rủ bạn bè đến. Chương trình: hội hè chè chén về đêm và động não tranh luận trong lúc tạm ngưng. Và quét dọn chùi rửa toàn bộ ngày hôm sau. Không được làm bẩn cái gì. Tên bạn Anton có thói sạch sẽ kỳ quặc.
Thế mà, vào một buổi sáng, khi nàng đổ sữa để hâm nóng vào cái nồi đặt trên bếp ga thì Dan, ở trần, quần jean, đi vào bếp và ôm hôn nàng ở cổ. Rồi, từng tí một… Một giờ sau, trong khi Dan, nằm dài bên cạnh nàng, vùi đầu vào cuốn Métaphysique des origines[4] thì bất thình lình nàng ngửi thấy mùi cháy. Nồi sữa! Trễ quá rồi: chẳng còn lại gì trong nồi… và cái nồi chính nó cũng bị cháy đen. Họ không thể tìm ra một cái nồi khác cùng kiểu mẫu, nhưng Dan quả quyết là mình hẳn là sẵn sàng mua cả một bộ nồi mới nếu anh có thể sống lại một tiếng đồng hồ tuyệt diệu đó trong lúc cái nồi kia bị cháy.
Emma đưa mắt nhìn Pierre để anh yên lòng: nếu anh không hiểu thì nàng, ngược lại, thấy quen thuộc với hình ảnh này.
Máy tính đòi nàng nhấn phím Enter. Nàng làm theo và một bức ảnh mới hiện ra trên màn hình. Một chiếc “gondole”[5] trên Grand Canal ở Venise. Nhưng không phải thứ gondole được tô vẽ trang trí, lót nhiều gối ngồi thoải mái dành cho du khách. Đây là chiếc gondole lo việc traghetto, tức việc qua lại con kênh cho cư dân Venise. Nàng và Dan đã cãi nhau dữ dội trước một chiếc thuyền tương tự, trong chuyến đi tua châu Âu trong vòng ba tuần lễ nhớ đời của hai người. Họ vừa mới đến Venise. Nàng muốn đi gondole chở du khách, chàng muốn một gondole “đích thực”. Họ rời “la Sérénissime”[6] ngày hôm sau, người này giận điên người kia. Họ chỉ hòa giải với nhau ở La Mã, dưới trần nhà nguyện Sixtine[7].
Nàng sắp sửa nhấn, căng thẳng, phím Enter thì Pierre chận lại.
— Từ từ thôi, Emma, từ từ thôi! Anh nghĩ là bọn mình đang đụng phải chuyện mật khẩu cảm xúc.
— Cái gì? Xin nói lại!
— Anh sẽ giải thích sau. Tiếp tục đi, nhưng xin em đừng có những cử chỉ đột ngột.
Nàng nghe theo, nhấn phím Enter một cách thận trọng quá mức. Lần này, một vidéo khởi động. Một cuốn phim của những năm 1970. Joan Baez, tay ôm đàn ghi-ta, tóc dài xõa ngang vai, hát Diamonds and Rust[8] dưới những hàng cọ, ở liên hoan Santa Barbara. Diamonds and Rust, ca khúc hay nhất mọi thời đại: đó là ý nàng và cũng là ý của Dan, khi cùng với khoảng hai chục người bạn vào cuối năm 2000, họ đã bầu chọn ca khúc của thế kỷ. Emma nghe đoạn một, xúc động. Nhưng Pierre đã ra hiệu cho nàng làm tiếp, và nàng phải tự ép mình để ngừng cuốn vidéo. Máy nội soi chắc chắn đã ghi nhận phản ứng của nàng.
Mới thoạt nhìn tấm hình thứ tư Pierre liền tỏ vẻ ngạc nhiên. Nó, anh nhận ra mà. Bức ảnh xưa cũ này đã được mọi tờ báo trên thế giới in ra, và các nhà báo cứ đều đặn moi nó ra mỗi khi đề cập đến thời khởi nghiệp của Controlware.
Một nhóm sinh viên để tóc dài, bảy chàng và ba nàng, vẻ mặt hớn hở, đứng chụp ảnh trước lối vào Harvard. Những người sáng lập Controlware đó. Dan đứng ở hàng đầu với ánh mắt cú vọ mà ông ta có vào thời đó và mái tóc mượt mà. Bên cạnh ông là Bernie và các bạn đồng hành từ ngày đầu. Ba người trong bọn họ thì để râu xồm. Hai người để râu mép. Tất cả để tóc dài. Áo blu của các cô gái thì giống như mấy cái tạp dề trong bếp.
Trông buồn cười thật. Peace and love[9], trễ mất mười lăm năm đó.
Emma ghét bức ảnh này và Dan biết điều này hơn ai khác. Nhưng không phải vì dáng vẻ như con ếch của bạn trai mình. Nàng ghét nó bởi vì nàng không có mặt trong đó. Thế mà vào thời điểm đó, nàng là một trong số những người thân thiết với Dan, tức là những người ủng hộ chàng, khuyến khích chàng, làm sparring partner trí thức cho chàng. Đáng lẽ nàng phải đứng chụp chung với họ.
Ông chủ Controlware đã đưa bức ảnh này vào trong loạt ảnh để làm nàng bực tức. Cố ý. Và ông đã đạt mục đích! Bức ảnh thường thường thu hút các lời nhận xét gây mủi lòng, các tiếng cười vui vẻ, các suy tư ngưỡng mộ. Thử nghĩ xem: một đám thanh niên đầy đam mê nhưng là những híp-pi muộn màng, khai sinh ra một công ty mạnh nhất thế giới!
Nhìn ảnh mà hiềm thù, chỉ có Emma mới có thể cảm thấy như vậy. Nàng gõ một cú khô khốc lên phím Enter. Bộ tai nghe trượt sang một bên.
— Cái gì xảy ra vậy? Đừng bực tức thế! - Pierre buột miệng, dịu dàng đặt bàn tay lên cánh tay nàng và sửa lại cho đúng chỗ bộ tai nghe.
Anh giải thích cho nàng là, nếu các điện cực đụng đậy, hoạt động của bộ não nàng có thể được ghi nhận sai lạc. Tất cả sẽ phải làm lại từ đầu, với ít cơ hội thành công hơn vì tính tự phát của các cảm xúc đã bị hao hụt.
— Cảm xúc của em à! Nhưng tại sao Dan lại muốn thử nghiệm các cảm xúc của em kia chứ?
Nàng gục đầu xuống như thể để ôm đầu giữa hai bàn tay. Nhưng nàng nhớ lại lời Pierre. Đừng làm đụng đậy bộ tai nghe.
— Anh có nghĩ rằng Dan muốn kiểm tra xem em không quên gì cả về những gì mà bọn em đã sống qua cùng nhau, trước khi để em vào tập tin đó không?
— Tệ hơn thế nữa. Anh nghĩ là ông ta kiểm tra xem hai người có đúng là đã sống cùng một câu chuyện không!
Một nụ cười tinh quái làm sáng khuôn mặt Pierre. Như thể anh thích thú, mặc dù đang bị nỗi lo sợ day rứt, thấy Barett đã tìm được một phương tiện hiệu quả để biết được đàn bà nói dối khi nào, bằng cách nào và với cường độ nào. Vả lại, đối với đàn ông cũng vậy. Anh không thể không hình dung ra một sản phẩm như thế được bày bán trong các gian hàng Darty với giá 99 euros. Người ta sẽ thấy cảnh mấy ông chồng bị cắm sừng ồ ạt tranh nhau mua không? Cảnh các bà có tính thay lòng đổi dạ hô hào tẩy chay phần mềm đó không? Anh yêu, cái bãi biển ở quần đảo Antilles này, nó có làm anh nhớ tới cái gì không? Và cái ghế sau trong xe Austin Mini này?
Emma đưa con trỏ chuột lên bức ảnh tiếp theo. Nàng bắt đầu hiểu sự vận hành.
Cái mật khẩu cho phép mở máy tính này không phải là tập hợp những con chữ hay những con số mà ta phải gõ lên bàn phím, cũng không phải là những dấu vân tay hay con mắt cần đưa ra, nhưng là một chữ ký cảm xúc. Để chữ ký “tâm trí” này xuất hiện, Emma phải phản ứng, một cách chính xác như Dan chờ đợi, trước thử thách về sự thật mà ông ta bắt nàng trải qua. Một loạt ảnh chụp, điều khiển từng ấy phản ứng thích hợp: niềm vui, nỗi đau, sự cảm thông, sự chối bỏ… Có lẽ cuối cùng sẽ có số điểm. Chìa khóa là ở đó.
— Điều này có nghĩa là Dan đã liều lập trình từ trước những phản ứng mà những tấm ảnh này sẽ gây ra trong bộ óc em, phải không? Làm sao anh ấy có thể đoán trước được? Anh ấy có bao giờ là em đâu!
Pierre dằn miệng để không trả lời là có chứ, chính xác đấy. Nhưng khi thấy ánh mắt anh lóe lên, nàng đoán được là anh nghĩ đến cái gì. Nàng cắn môi, và nhấn phím.
Không nhìn hình ảnh mới hiện ra trên màn hình, nàng buộc phải đuổi đi một hình ảnh khác đang xâm chiếm trí óc nàng. Nụ cười của Pierre. Sự dịu dàng của anh ở bãi biển. Cơn sốt của anh ở Colleville. Sự rụt rè của anh, sức mạnh của anh. Sự trộn lẫn giữa tinh tế và rắn rỏi. Và nỗi xúc động không thể hiểu được mà anh khởi phát nơi nàng. Thân thể không nói dối. Nàng yêu anh. Nàng yêu anh như chưa từng yêu người đàn ông nào cả.
Nàng phải cố gắng để tập trung trí óc thêm một lần nữa. Bức ảnh thứ năm thể hiện một bãi biển đầy đá cuội, vào lúc mặt trời lặn, nằm dưới chân vách núi nhô ra biển, ở một góc được tảng đá lớn che chở. Phía trước là biển xanh, lấp lánh ánh phản chiếu màu cam.
— Cồn cát Pilat, - Emma thì thầm.
Kỷ niệm xưa lại trở về: bữa ăn ngoài trời dưới đấy, với Dan, trong chuyến đi châu Âu nhớ đời của hai người. Bãi đó nằm ở bờ biển Arcachon. Khó mà quên được những nụ hôn, những vuốt ve, và vị ngọt cuộc sống mà hai người chia sẻ với nhau trong ngày ấy. Thủy triều đã xuống, bầu trời xanh trong pha lê, một ngày trong những ngày kỳ diệu mà gió thổi mây bay đi không biết mệt. Một ngày tuyệt vời cho sự hòa hợp tình yêu.
Nhưng những gì mà nàng đã sống qua trong đêm thứ tư sang thứ năm là không thể so sánh được. Hài hòa tuyệt diệu. Viên mãn tuyệt đối.
Nàng sợ là lần này, việc thử nghiệm sẽ không thuận lợi cho nàng. Trước tiên, bởi vì nỗi buồn, bất chấp nàng, lại chen vào niềm vui của kỷ niệm. Dan đã chết. Chàng có biết, lúc nàng nhìn những tấm ảnh này, là chàng đã không còn ở trên cõi đời này nữa không? Có phải chàng đã tính toán tất cả dựa trên chuyện này không? Dù gì đi nữa, khi nghĩ ra trong đầu cái mật khẩu cảm xúc đó, Dan không thể biết trước là sẽ có một người đàn ông khác có mặt ở đây, bên cạnh Emma, một người đàn ông đã mang đến cho nàng những giây phút hợp nhất còn mãnh liệt hơn cả với Dan, trên một bãi biển giống như bãi đó. Gold Beach.
Hệ thống sắp đóng lại, chắc thế rồi. Bàn tay Emma run rẩy. Nàng ấn Enter. Giọng nói của Dan nổi lên.
Last item[10].
Emma rùng cả mình.
Nàng đã vượt qua trở ngại. Có lẽ cuối cùng là nhờ Pierre, vì do anh mà sự rối loạn xâm chiếm nàng. Phần mềm của Barett, nói cho cùng, chỉ đo được không gì khác ngoài cường độ của tình cảm, thông qua máy dò. Điều căn bản – nguồn gốc thực sự của cảm xúc – thì nó không biết. Nàng thấy mình có lý: máy móc chẳng bao giờ có thể thay thế bộ óc con người.
Còn một bức ảnh cuối cùng nữa. Vẫn là hình ảnh một bãi biển. Vịnh Sausalito. Nhưng nó không gợi lại niềm hạnh phúc. Chính nơi đây mà Dan và nàng quyết định chia tay, sau một ngày trời tranh cãi khó quên. Emma đã khóc rất nhiều. Tất nhiên, Dan đã tạo cho nàng ảo tưởng là chính nàng đã quyết định như thế. Nhưng nàng có sự chọn lựa nào không? Dan không muốn cưới hỏi, không muốn có con. “Đứa con” của chàng, chính là Controlware. Forever[11]. Mãi mãi.
Thăm Sausalito rồi chết… Cho đến tận hôm nay, nàng vẫn còn thấy buồn nôn về chuyện ấy. Nàng khép mắt lại. Một giọt lệ lăn xuống má. Dan thử nghiệm tình cảm cũng như trí nhớ của nàng. Anh muốn bảo đảm, trước khi cho nàng chìa khóa mở vào máy tính của mình, là nàng đã đau khổ vì cuộc tình dang dở của hai người.
Nàng nguyền rủa sự ác độc của Dan.
Cùng lúc, nàng không thể không ngưỡng mộ sự hoàn hảo của mẫu mã hóa dùng trong máy tính của anh. Các bức ảnh được lựa chọn một cách khéo léo. Bất cứ người nào khác ngồi vào chỗ của Emma để trải qua cuộc thử nghiệm này hẳn là không thể, khi nhìn thấy liên tiếp hai bãi biển đẹp như nhau, cảm nhận những tình cảm trái ngược như thế.
Người đàn bà trẻ mở mắt khi nghe Pierre kêu lên:
— Chạy rồi đó, Emma! Anh nghĩ là mình đến nơi rồi.
Màn hình máy tính bây giờ hiện ra các biểu tượng quen thuộc: Word, Excel, My documents, Workstation, Recycle bin. Và vài biểu tượng khác, ít thông dụng hơn, mà nàng chỉ liếc qua. Một tài liệu Word, ở trong góc trái màn hình, mang tên Sự bảo hộ xã hội toàn cầu. Một cái khác, ở ngay chính giữa, được đặt tên đơn giản: Emma yêu dấu. Nàng nhấp chuột lên đó. Một tập tin hiện ra.
Đó là một bức thư.
— Nếu anh không thấy phiền, - nàng vừa nói vừa gỡ bộ tai nghe, - em đi ra vườn đọc thư.
Nàng cầm note-book lên, lộ vẻ bối rối.
— Em quay lại liền, - nàng xin lỗi.
Pierre gật đầu một cách miễn cưỡng, và nhìn nàng rời đi.
Nàng không thể chờ đến khi ra ngoài. Ngay trong hành lang nàng đã bắt đầu đọc, say mê:
Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.
Ngôi Lời là Thiên Chúa.
Và ta chính là Thiên Chúa.
Khi anh lên mười thì vua Louis XIV mê hoặc anh. Lên mười hai thì Napoléon. Đối với anh thì hai nhà vua này không khác nhau lắm. Chỉ có dân Pháp mới giả bộ tin rằng hoàng đế của họ thì cách mạng hơn Thái Dương Vương của họ… [12]
❀ ❀ ❀
[1] Có nghĩa “Dữ liệu không hiệu lực. Hãy thử lại.”
[2] Một trò chơi truyền hình Pháp theo kiểu “săn tìm kho báu” rất được ưa chuộng ở Pháp cũng như nhiều nước trên thế giới từ hai mươi năm nay. Fort Boyard là một pháo đài (và nhà tù) được xây trên một đảo nhỏ ở Pháp vào đầu thế kỷ XIX, được dùng làm bối cảnh cho trò chơi này.
[3] Máy nội soi cắt lớp não.
[4] “Siêu hình học về các nguồn gốc”.
[5] Thuyền ở Venise (Ý), thân dài và phẳng, mui cong, chỉ có một mái chèo ở đàng sau.
[6] Tên chỉ nước Cộng hòa Venise ở thế kỷ XV và XVI.
[7] Nhà nguyện nổi tiếng ở Vatican, xây dựng từ cuối thế kỷ XV và được các danh họa Ý thời Phục hưng trang trí. Bích họa tuyệt đẹp dưới mái vòm nhà nguyện là do Michel- Ange vẽ.
[8] Tiếng Anh, có nghĩa “Kim cương và màu gỉ sắt”.
[9] “Hòa bình và tình yêu”, một phong trào phản chiến trong giới thanh niên Âu, Mỹ trong những năm cuối thập niên 60 và đầu 70 thế kỷ trước, trong đó có rất nhiều “hippies”, thường để tóc dài, tham gia.
[10] Có nghĩa mục hay khoản cuối cùng.
[11] Có nghĩa là mãi mãi, luôn luôn.
[12] Câu này, ở đầu chương 3, thì nằm trước câu “Đối với anh… không khác nhau lắm”, chứ không phải nằm sau như ở đây. Tác giả có lẽ sơ ý, vì đây là cùng một bức thư.