— Cảm ơn… Thưa quý bà, cảm ơn, cảm ơn sự chú ý của quý vị. Bà Shannon, xin cảm ơn bà. Và, cũng xin cảm ơn quý ông. Bây giờ chúng ta còn chút thời gian cho các câu hỏi. Chính các bạn… Ai đặt câu hỏi đầu tiên?
Lúc đó là 11 giờ 15. Emma vừa mới chấm dứt bài diễn văn khai mạc phiên họp toàn thể lần cuối cùng của WAC. Người dẫn dắt chương trình buổi sáng, một nhà báo nữ người Anh thành thạo trong việc này, bước xuống bệ để thu gom các câu hỏi. Người quay phim và người cầm cần mi-crô cùng với đèn chiếu đi theo bà một cách ngoan ngoãn trong phòng họp, giữa các bàn. Emma tự nhủ là Pierre và các kỹ thuật viên của anh chắc phải cảm thấy ít nhiều cô lập trong cái vương quốc phụ nữ này, dù người dẫn chương trình đã thêm mấy tiếng “thưa quý ông, xin cảm ơn”. Họ gồm hai mươi lăm người tất cả, trong nhóm của Pierre, đó là con số anh nói với nàng. Nếu tính cả mấy tên bồi và phụ trách phòng ăn thì cũng chẳng đông lắm để đại diện phái đàn ông. Vào cuối tuần này, ở Overlord, người ta thấy như đang ở Galeries Lafayette[1] ngày đầu tiên bán đại hạ giá. Giữa đám đàn bà con gái với nhau. Vậy thì, Emma nghĩ, thỉnh thoảng có thế cũng hay đấy.
Nàng thấy ra lúc nãy người bạn đồng nghiệp cũ ở ca-bin thông dịch và đưa tay ra dấu chào. Anh đã cười chào lại. Sáng nay, khi nàng thú nhận là Dan không bao giờ nói với nàng về cái backdoor, giá trị của nàng đã bị giảm xuống trong sự quý mến của anh. Nhưng Pierre có bao giờ quý mến nàng chút nào không? Chắc chắn là nàng không phải người đàn bà đầu tiên mà anh tằng tịu. Đối với anh, chuyện này thì chẳng có gì quan trọng và chẳng để lại hậu quả gì. Trong đầu óc anh, nàng quả là một người đàn bà “dễ dãi”. Ý nghĩ này làm nàng đau. Có phải chính vì nàng không phải thế, nàng không hề “dễ dãi”? Hay có phải vì nàng nhận ra là nàng tự đánh giá theo thước đo bằng những thành kiến đàn ông, bằng cách sử dụng những lời lẽ của chính mấy “gã”?
Nàng xua đuổi ý tưởng này bằng cách nhắm mắt lại. Nàng không có khả năng trả lời câu hỏi của Pierre về cái backdoor, và điều này có những hậu quả, theo một cách khác, bi thảm hơn các trạng thái tâm hồn của nàng. CNN sáng nay loan tin về cuộc hỏa hoạn xảy ra trên phần lớn Central Park[2]. Lá phổi của New York đã cháy, nhất là ở phía Bắc, trong phần có cây cối, đất mấp mô, rừng nhỏ rậm rạp và trở nên dễ cháy vào mùa hè nóng và khô. Phần trung tâm của công viên mang tên Ramble, cũng bị cháy theo.
Lính chữa lửa ở New York, không đủ quân số, đuối sức sau những trận chữa lửa mấy hôm nay, đã không can thiệp kịp thời. Tổng đài điện thoại của họ, theo như tin đồn, cũng bị rối loạn chức năng. Việc liên lạc giữa các xe chữa lửa khó được kết nối. Những hình ảnh đầu tiên làm người ta lo ngại là có những thiệt hại quan trọng.
Nhưng Emma khó mà động lòng thương xót cho số phận những cây phong trong công viên. Nàng nghĩ tới Dan. Nàng được tin Dan chết vào hôm trước và trải qua một đêm để chấp nhận tin này. Nàng không chắc là mình có thể chấp nhận được. Suốt cả ngày nàng canh chừng các tin tức, hy vọng người ta cải chính. Cuối cùng thì cái thảm họa tin học, than ôi, là bằng chứng vững chắc nhất về cái chết của người bạn cũ. Dan sẽ không bao giờ để thế giới tiến đến chỗ phá sản như thế này.
Khi biết tin bạn mình qua đời, hai mươi bốn giờ trước, Emma đã tìm cách nói chuyện với Amelia, với bố mẹ của Dan, với những người bà con của chàng mà nàng quen biết: vô ích. Ngoài Brad ra, nàng không liên lạc được với ai cả từ ba ngày nay. Sự việc, theo đó nàng không thể hỏi chuyện về Dan với những người đã tháp tùng chàng trong chuyến đi hay đã thấy chàng lúc chết, cản trở nàng thực tình tin là chàng đã từ trần. Cái chết của chàng vẫn còn trừu tượng, lý thuyết giống như hồi hai người cùng đề cập đến nó, xưa kia. Nàng có lẽ cũng sẽ không có mặt ở lễ mai táng. Chẳng thể tìm được một chỗ trên máy bay; ngay cả chuyến bay khứ hồi của nàng vào ngày thứ ba tới thì cũng chưa chắc cất cánh được. Nàng bị kẹt cứng ở đây, biển cả trước mặt, rừng nhỏ sau lưng, in the middle of nowhere[3], như thể ngay giữa đồng không mông quạnh vậy, trong ngôi làng này, nơi mà hàng ngàn đồng bào của nàng đã bỏ mạng, sáu mươi năm trước. Đi gặp Rebecca ở Paris? Để làm gì cơ chứ? Tốt hơn là để con gái đến gặp nàng như đã hẹn, nếu con bé làm được thế, và hai mẹ con cùng chịu đựng nỗi đau một cách bình tĩnh.
Cho nên nàng sẽ không dự đám tang của Dan ngày hôm sau, và nàng không đuổi được ý nghĩ làm tim nàng thắt lại này ra khỏi đầu. Dĩ nhiên, hai người không còn gặp nhau thường xuyên nữa, và mối liên hệ của họ đã giãn ra nhiều từ khi Dan lấy vợ. Nhưng nàng nhớ rõ lời hứa với nhau, lặp đi lặp lại nhiều lần, từ những năm tháng điên rồ của họ: ai chết sau thì mỗi năm sẽ đặt lên mộ người kia một bông lúa mì (và một đồ dùng nhỏ gọn, lạ mắt mới nhất của Apple, nàng bao giờ cũng nói giỡn). Nhưng tất cả mấy chuyện đó chỉ là một trò chơi. Dan không thể biến mất như vậy được. Làm sao để tang khi mà ta không nói được lời từ biệt?
— Tôi thấy là có nhiều câu hỏi đặt ra cho keynote speaker[4] của chúng ta, bà nhà báo nói tiếp bằng tiếng Pháp.
Nhiệt tình trong giọng nói của bà thì giả tạo. Người ta cảm thấy bà tỏ ra nhẹ nhõm khi thấy các cánh tay đưa lên.
Chủ đề bài nói chuyện của Emma là một ý tưởng cực kỳ cổ điển: People in power: male or female, does it make a difference[5]? Nàng soạn thêm cái phụ đề khiêu khích hơn: “Có phải phụ nữ lãnh đạo giỏi hơn đàn ông?” Cho tới nay, cái mánh này luôn tạo ra hiệu ứng mong đợi. Nhưng sáng nay nàng thấy nó có vẻ phù phiếm, ngay cả trước một cử tọa thuận tình.
Người đàn bà Mỹ này luôn luôn bàn luận đề tài của mình một cách trung hòa nhất có thể được: bằng cách đưa ra các con số thống kê. Vài con số được lấy từ các nghiên cứu chưa phổ biến, những con số khác thì từ các báo cáo cũ hơn nhưng tới lúc đó còn quá đơn lẻ để trở thành có thể tin được. Từ nay về sau, như bà nhà báo nhấn mạnh trong lời giới thiệu, “mấy thứ đó đã thành cả khối”.
— Các con số thì không thể chối cãi, nàng mạnh miệng tuyên bố. Trước hết, hỗn hợp đàn ông, đàn bà thì có lợi cho công ty: những công ty nào có ít nhất một phụ nữ trong hội đồng quản trị thì đạt được kết quả tốt hơn những công ty không có. Tiếp đó, những xí nghiệp do các pédégères[6] lãnh đạo, ở Mỹ cũng như ở Pháp – hai nước quan tâm đến chủ đề này – thì có lời hơn và lớn lên nhanh hơn những xí nghiệp do các pédégés điều khiển.
Emma cảm thấy bó buộc phải nén bớt việc trình bày có mùi “thành công rực rỡ” này. Vì sự lương thiện trí thức, tất nhiên rồi, nhưng cũng vì Pierre, dù nàng thực sự không thừa nhận như thế. Sự hiện diện của anh, đằng kia, gần các cô thông dịch, làm nàng xáo động tâm trí lúc nàng bắt đầu phát biểu. Nàng nhớ lại các cuộc thảo luận giữa hai người, ở Supra Data, về “thói thiên vị” mà cánh đàn bà được hưởng. Vào thời đó, người ta chưa nói đến khái niệm “phân biệt tích cực”. Giờ thì Pierre chắc phải buông lời nguyền rủa khi nghe nàng nói.
Về cơ bản, dĩ nhiên, luận điểm của Emma thì đúng đắn. Trước tiên nàng chỉ ra là có mối liên hệ giữa giới tính của nhà lãnh đạo và các kết quả của công ty ông (bà) ấy, nhưng ta không nên lẫn lộn sự tương giao với tính nhân quả: các xí nghiệp ăn nên làm ra nhất thì rõ ràng được điều khiển bởi các phụ nữ, nhưng không nhất thiết bởi vì chúng được điều khiển bởi nữ giới mà chúng ăn nên làm ra nhất. Ví dụ như, phụ nữ thì có thể thích hoạt động trong khu vực dịch vụ hơn, nó thường là có lời hơn khu vực công nghiệp; cho nên, một cách tự nhiên họ đứng đầu các công ty có sức cạnh tranh hơn. Emma cũng giải thích là các phụ nữ đạt tới trình độ này thường đã được chọn lựa quá gắt gao: bằng cấp, tuổi tác hay kinh nghiệm, tất cả bằng nhau, nhưng một hội đồng quản trị hay người phụ trách việc săn tìm nhân viên lãnh đạo cho xí nghiệp bao giờ cũng chọn đàn ông hơn là đàn bà. Một sự chọn lựa ít mạo hiểm hơn. Như vậy, các ứng viên nữ được chọn phải thực sự giỏi hơn các ứng viên nam.
— Tóm lại, - nàng kết luận, - ta không thể – hay chưa thể – nói rằng, trong tuyệt đối, phụ nữ là những người lãnh đạo giỏi nhất. Nhưng ta có thể nói rằng những phụ nữ hiện nay đạt tới các vị trí lãnh đạo này là giỏi hơn mức trung bình của nam giới.
Emma đã khởi đầu câu chuyện này bằng cách nói đến trường hợp cá biệt của những xí nghiệp có hơn năm trăm người: được các phụ nữ lãnh đạo, chúng luôn luôn đạt lợi nhuận cao hơn, nhưng tỉ số phát triển của chúng thì yếu hơn các xí nghiệp tương tự sống dưới quyền nam giới. Như thể các phụ nữ lãnh đạo, từ một ngưỡng nào đó, có vẻ rụt rè hơn các đồng nhiệm phái nam. Thay cho sự bay bổng cuối cùng, Emma phác thảo một giải thích tâm lý: bản năng sinh tồn đối chọi với ý chí quyền lực. Trên nguyên tắc, đỉnh điểm này hoàn thiện việc chinh phục cử tọa. Nàng đã nhận thấy như thế vào mùa xuân vừa qua, ở Stanford, trong buổi lễ trao bằng đại học cho sinh viên, nơi mà nàng đã có dịp hiệu chỉnh bài nói chuyện của mình.
Nhưng sáng nay, ngay khi bắt đầu nói, nàng đã thấy rõ là công chúng ngồi nghe, giống như nàng, họ để đầu óc đâu đâu. Đứng sau cái bàn mặt nghiêng, cao, trong suốt, dành cho diễn giả, nàng nhận ra một tỉ lệ bất thường của những ánh mắt nhìn thoáng qua. Một số bà ngồi lật từng trang Ouest France, tờ nhật báo duy nhất có sẵn trong khách sạn, một số khác bấm số trên điện thoại di động một cách căng thẳng để gửi đi các tin nhắn. Họ có vẻ lạc lõng trong phòng họp rộng lớn có sức chứa đến ba trăm người.
Ngày hôm trước, hơn một nửa nữ đại biểu đã rời Arromanches, nhất là các người Pháp đã đến đây từ Paris bằng xe hơi. Vả lại, Julia Epcot và Christelle Loric, hai người tổ chức của WAC, đã rất lưỡng lự có nên hủy bỏ ngày đại hội cuối cùng và buổi tiệc tối chiêu đãi nhân dịp đại hội không, nhưng sau một cuộc thảo luận rất lâu với ủy ban chấp hành, tối hôm trước, hai bà quyết định tiếp tục, theo truyền thống lớn của chủ nghĩa thực chứng Mỹ.
The show must go on, Emma vừa tự nhủ, vừa tự hỏi mình còn làm gì ở đây. Cuộc trình diễn phải tiếp tục, như ngày trước, ở Thế vận hội Atlanta[7]. “Không có chuyện chịu thua nỗi kinh hoàng”; “Câu trả lời hay nhất trước bọn khủng bố là tỏ ra ta không khiếp sợ”; “Nền dân chủ thì mạnh hơn những kẻ thù của nền dân chủ”, vv… Emma đã nghe hàng trăm lần các lời hô hào quần chúng này từ ngày 11 tháng 9. Hơn nữa, nàng đồng tình với triết lý mà chúng chuyển tải. Cho tới ngày này…
Nàng không thể cưỡng được. Hình ảnh Dan cứ trở lại không ngừng trong tâm trí nàng. Một loạt mưu hại ngày hôm trước, tình trạng hỗn loạn ở khách sạn, cái chết của cô quản đốc bảo tàng người Thụy Điển, và nhất là những điều mà Pierre tiết lộ, làm lu mờ hình ảnh đó lúc này, lúc nọ, nhưng nàng không ngừng nghĩ đến nó: Dan, chết rồi. Game over[8], như chàng nói, một cách cay độc.
Sàn NASDAQ[9] than khóc nhà doanh nghiệp phi thường nhất mà nó biết cho tới bây giờ. Ở châu Phi, ở châu Á, khắp nơi, các bài điếu văn nhiều như lá rụng tiếc thương nhà hảo tâm hào phóng nhất mà thế gian mang lại. Thông qua quỹ từ thiện của mình, Dan đã làm hơn tất cả các chính phủ gộp lại để xóa đói giảm nghèo.
Về phần mình, Emma thương khóc, không lệ rơi, một người đàn ông giống như bao người khác. Người đàn ông đôi khi làm nàng thất vọng, tất nhiên rồi, nhưng với chàng nàng đã chia sẻ các cuộc nói chuyện sâu sắc nhất và các cuộc tranh luận cách mạng nhất. Hai người đã thảo luận cùng nhau bao nhiêu giờ, bao nhiêu ngày rồi? Về đủ thứ chuyện, từ những điều nhỏ nhặt vớ vẩn cho đến những được mất lớn lao, nhưng cũng nói về, sớm trước giờ, cuộc cách mạng Internet, hiện tượng toàn cầu hóa, việc nhân giống vô tính con người. Khi chỉ có hai người với nhau, họ chỉ làm một việc là nói chuyện. Trong xe hơi, trên máy bay, ngoài bãi biển, trên các đỉnh núi… cũng như ở trên giường nữa, ngày xưa. Khi nàng mang theo một tờ báo, chàng nói với nàng: “Em sợ sẽ buồn chán với anh à?” Chuyện đó làm cả hai bật cười. Không bao giờ họ thấy chán nhau.
Dan chết rồi. Ngay ý nghĩ này cũng không thể tưởng tượng được.
Khi cảm giác sửng sốt lùi xa trong một chốc lát, chủ nghĩa thực dụng tự nhiên của Emma đẩy mạnh các ý tưởng của nàng về phía Dan: có phải chàng đã nghĩ ra, như Pierre nghĩ, một chìa khóa để đóng lại cái backdoor danh tiếng đó của Shadows, và, nếu quả vậy, chàng đã có thể trao nó cho ai? Nàng giận mình đã không bao giờ nói chuyện này với chàng. Ước gì nàng có ích cho chàng lần chót, chứng tỏ với chàng là nàng vẫn ở bên cạnh chàng, xa hơn cái chết. Tặng cho thế gian cái bằng chứng cuối cùng của tình bạn. Nối tiếp Dan.
Bây giờ Emma chỉ muốn rời khỏi bục giảng cho nhanh. Các câu hỏi của cử tọa không lý thú gì lắm. Chúng chỉ buộc nàng lặp lại một cách khác nhau những gì nàng đã nói rồi. Nàng thấy là đàn bà khi nói thường chú ý đến họ quá nhiều. Và nàng phải giữ sự tập trung để hiểu hàng loạt liên tiếp các giọng phát âm đến từ châu Phi, Nam Mỹ, Nga, Tàu.
Một phụ nữ châu Âu tóc hung ở hàng ghế thứ hai đứng lên:
— Cho phép tôi đưa ra một nhận xét.
“Shit”,[10] Emma chửi thề trong bụng. Lại một con mụ muốn kể chuyện đời mình đấy.”
Chưa gì hết mà bà ta đã chụp lấy mi-crô của người dẫn dắt cuộc họp và mở miệng ngay:
— Thưa bà Shannon, tôi đã nghe chăm chú những gì bà nói. Sự phân tích của bà thì đúng đắn, nhưng cho phép tôi kể ra đây một giai thoại riêng tư có liên hệ hoàn toàn với…
Rồi một cuộc độc thoại bắt đầu như thế đó. May thay là bà dẫn dắt đã quá quen với loại “diễn văn” này nên bà cắt ngang bà đại biểu, người mà bà đã trao mi-crô trước đó:
— Thưa bà, tôi có thể yêu cầu bà đi thẳng vào câu hỏi không?
Nhưng bà kia vẫn không tỏ ra bối rối chút nào.
— Vấn đề thực sự, thưa bà Shannon, đàng sau việc khảo sát tình hình của bà là để biết, liệu tâm lý học hành vi thì thích đáng hơn phân tâm học để giải thích…
Emma, mất kiên nhẫn, nhịp chân dưới bàn. Nàng biết nằm lòng loại ý đồ này, tiêu biểu cho kiểu người tìm cách làm mình nổi bật hơn là đón nhận câu trả lời. Nàng thoát ra bằng cách dùng mẹo của các diễn giả lão luyện: trả lời bằng cách lặp lại câu hỏi dưới một hình thức khác.
Kỹ thuật này gây ra hiệu ứng thường thấy và không một câu hỏi nào khác được đưa ra. Bà dẫn dắt cuộc họp nói lời cảm ơn cử tọa và thông báo những sự thay đổi trong chương trình ngày cuối. Nhiều workshops phải bị hủy hay nhập chung lại. Emma không chờ đến khi chấm dứt thông báo mà bước ngay xuống bục giảng để gặp Valérie đã ra dấu mời nàng đi theo mình. Cô nàng trông khỏe khoắn thật, Emma tự nhủ. Và tóc tai coi bộ chải đẹp hơn tối hôm nọ ở tiệm ăn.
Emma vừa mới nối gót cô bạn thì một người đàn ông tiến lại gần họ. Ông ta nhỏ con, râu mọc lởm chởm, mặc áo veste đen đã cũ ngoài áo thun trắng. Tất cả tạo cho ông ta vẻ thoải mái giả tạo. Chắc chắn là một nhà báo rồi, Emma tự nhủ. Ông ta nói với nàng bằng tiếng Pháp, giọng cao.
— Chào bà Shannon. Tên tôi là François Flavia, tôi là phóng viên của tuần báo Pháp ngữ Le Temps.
“Mình đoán đúng quá”, Emma nghĩ.
Ông nhà báo nói tiếp:
— Tôi sửa soạn viết một bài báo về Controlware. Từ khi tin Barett qua đời được loan ra, cổ phiếu của hãng bị tụt xuống hoàn toàn. Tôi muốn hỏi bà nghĩ sao về tương lai của hãng.
“Dan”… “chết”… “Controlware”… Ba từ này đủ khơi dậy nơi nàng cái cảm xúc rối loạn sâu sắc mà nàng cảm nhận khi nãy. Nàng tự trấn tĩnh.
— I don’t want to comment on that,[11] - nàng trả lời, không cười.
“Miễn bình luận”.
Ngạc nhiên bởi cái giọng lạnh lùng, ông nhà báo tỏ ra chưng hửng. Emma lợi dụng ngay khoảnh khắc này để quay đi, cầm tay Valérie và kéo cô đi nhanh về phía cửa ra. Đó là một đề tài gây khó chịu cho nàng, nhưng độc lập với nỗi khó chịu này, nàng chẳng muốn trả lời các câu hỏi loại này chút nào, và đối với loại nhà báo như thế thì nàng càng ít muốn trả lời hơn. Tình hình ở Controlware không được sáng sủa cho lắm. Và việc này xảy ra rất lâu trước các thảm họa ngày hôm nay. Dĩ nhiên, đối với những nhà quan sát thông thường, xí nghiệp do Barett sáng lập hai mươi năm trước bao giờ cũng là con rắn bảy đầu[12] phát đạt và thích thống trị, kiểm soát 97% số lượng máy vi tính trên thế giới. Nhưng những ai hiểu biết xí nghiệp từ bên trong thì đều biết là bộ áo giáp đã rạn nứt. Trong tất cả các thị trường áp dụng phần mềm – điện thoại di động, trò chơi điện tử, ti-vi – Controlware đã bị các đối thủ qua mặt. Từ hai hay ba năm nay, các cán bộ trình độ cao đã bỏ đi để đầu quân cho Google, viên ngọc mới nhất của Wall Street[13], và như Barett nói, “Vào lúc này, Google có căn-tin ngon nhất và các phòng tập thể dục tốt nhất”. Rồi sau lưng Google là các viên ngọc nhỏ khác của ngành tin học thu hút người trẻ tuổi cực kỳ xuất sắc từ Controlware đến. Trên blog của các nhân viên, người ta bắt đầu đọc thấy những lời phê phán, nặc danh nhưng kịch liệt, nhắm đến Bernie Puttman, chủ tịch kiêm tổng giám đốc của Controlware.
Bernie là một trong những người đồng sáng lập xí nghiệp. Ông đã trợ thủ cho Dan, giữ chức vụ giám đốc thương mại trong rất nhiều năm, cho tới khi Barett rút lui như dự kiến, chỉ giữ lại vai trò chief software engineer[14], một chức danh hầu như chẳng nói lên điều gì, nhưng nó phù hợp với chức năng mà chàng mơ tưởng: dùng thời gian của mình để suy nghĩ về các phần mềm trong tương lai. Lúc đó, tất cả việc quản lý hoạt động của tập đoàn được giao phó cho ông Puttman trung thành, một con người độc đoán nhưng xuất sắc, nổi tiếng với những cơn nổi giận dữ dội. Ví dụ như mới cách đây vài tuần, Puttman đã ném ghế trong phòng khi Eang Vong, một trong những nhà nghiên cứu giỏi nhất của ông, chuyên gia về kỹ thuật nhận ra giọng nói, báo tin từ chức.
Ông Puttman này nóng nảy thật, và không phải lúc nào cũng thực tâm, nhưng từ chuyện đó cho đến việc ông ta tự mình chỉ huy vụ đánh cướp phần mềm Shadows, là cả một vực thẳm ở giữa. Có thể nào ông ta điên rồ tới mức hy vọng bán được các phần mềm mới sau đó? Và như thế trở nên có thế lực hơn cả Barett lúc sinh thời sao? Giống như một tên lính chữa lửa châm đốt ngọn đồi để sau đó được mọi người coi như là cứu tinh của thành phố sao? Không, mánh khóe này thô thiển quá đi, khó mà tin được.
Ông nhà báo chắc chắn là không đề cập đến các câu hỏi này, nhưng dù sao đi nữa Emma chẳng muốn để mình bị luộc chút nào. Thêm vào đó, ông này là người Pháp, vậy thì, từ định nghĩa, đã có ác cảm với Controlware. Nàng lại nghĩ tới lá thư điện tử mà nàng tìm thấy trong máy tính của mình, đêm qua, do chính Bernie Puttman ký, và được gửi từ địa chỉ riêng của ông. Tiêu biểu cho phong cách của nhân vật. Ba từ: Call me. Asap[15]. Gọi cho tôi sớm nhất có thể. Nàng đã gọi cho ông, lúc đã khuya. Bernie tỏ ra cứng nhắc. Không một lời về Dan, về nỗi đau của nàng hay ngay cả nỗi đau mà ông được cho là có thể cảm thấy. Ông thừa nhận là Pierre đã đoán trúng đối với backdoor, và nàng thấy hãnh diện một cách mơ hồ. Các kỹ sư của Controlware, cả năm chục người đã dồn sức tìm ra cái bug, cũng không hơn gì Pierre, tức là không có giải pháp nào để giải quyết nó. Lỗ hổng trong Shadows đã được nhận dạng, nhưng chẳng ai có thể bịt kín nó lại! Emma nghiền ngẫm suốt đêm cuộc nói chuyện với Bernie.
— Emma, tôi không thể hình dung được là Dan, lúc nào cũng thận trọng, lại không để đâu đó cái mật mã của backdoor. Bọn tôi đã lục lọi khắp nơi, ở văn phòng, ở nhà lão. Đã rút xương cái ổ cứng của lão. Amelia thì không biết gì cả. Tôi thực tình nghĩ là cô… Shannon, cô phải nói hết cho tôi!
— Bernie, thật là kỳ cục. Anh sắp bày đặt ra cái gì vậy? Tại sao là tôi chứ? Làm sao mà anh muốn là tôi biết chuyện đó hơn anh? Chính anh là người cộng tác thân thiết của anh ấy cơ mà! Chính anh là người mà anh ấy phải để lại chìa khóa backdoor chứ!
— Nghe này, Shannon! Mọi người đều biết là lão đã gọi điện cho cô để hỏi ý cô trước khi lấy Amelia làm vợ! Chỉ có cô lão mới có thể giao chìa khóa.
— Bernie, bộ anh khùng rồi hả?! Anh ấy không bao giờ nói với tôi về mật mã của cái cửa bí mật đó cả! Nếu tôi biết nó thì tôi đã gọi cho anh rồi, thôi nào!
— Tôi hy vọng là cô nói sự thật, nhưng tôi, ngày mai, tôi phải để cho mười lăm gã của CIA đổ bộ xuống đây để lục tung tất cả và cố tìm cho ra cái miếng vá khốn kiếp này. Tất cả những gì tôi biết, là mọi người được lợi nếu chịu khó cất đít đi tìm! Vì, điểm 1, mỗi phút qua đi là bọn khủng bố có thể hành động. Và, điểm 2, mỗi phút qua đi là cổ phiếu Controlware sứt đầu bể trán ở Wall Street. Chấm gạch.
“Điểm 1.” “Điểm 2.” “Chấm gạch.” Đó là ngôn ngữ của Bernie. Với ông, các buổi họp không bao giờ kéo dài vô tận. Các cuộc nói chuyện để cho thôi việc cũng vậy.
— Bernie, bình tĩnh lại nào! Cái mảnh vá đó, chính xác thì nó giống cái gì, anh có thể nói cho tôi nghe không?
— Giống mấy hàng mật mã khốn kiếp đó, tất nhiên rồi!
— Có nghĩa là các hàng này có thể được giấu kín bất cứ…
— Bất cứ chỗ nào, đúng đó Emma, dĩ nhiên là thế rồi. Bất cứ chỗ nào!
— Tại sao không ở trong máy vi tính bỏ túi của anh ấy? Dan ghi chép mọi thứ trên máy tính.
— Chính chỗ đó bọn tôi đi tìm đầu tiên, hẳn thế rồi. Bọn tôi cũng sục sạo máy tính để bàn của lão, và cả laptop ở nhà lão nữa. Bộ cô không tin à? Nhưng nó có thể ở bất cứ đâu… Lão ấy có thể để trên mảnh Post-it[16] hay trong hộp bơ đậu phụng khốn kiếp! Hay đằng sau một trong những bức tranh khốn kiếp của lão! Đồ ngu quá đi, nhưng đồ ngu quá đi!
Những lời lẽ thô lỗ của Bernie còn kêu vang trong đầu Emma. Nếu chính ông ta là tin tặc thì đúng là diễn kịch giỏi. Cùng lúc nàng thấy khó tin là Dan không để lại mật mã cho chính ông ta. Và, nếu đúng thế thì Dan có thể thiếu tin cậy ông ta.
Nàng đi xuyên qua sảnh khách sạn cùng với Valérie bên cạnh, không chậm bước.
— Mình xuống bãi biển trước khi ăn trưa, được không? - Emma đề nghị, nhưng thật sự không để cho cô bạn được lựa chọn.
Valérie thấy rõ Emma đang để đầu óc đâu đâu. Trong buổi hội nghị, nàng đã thấy vẻ mặt mệt mỏi, lớp kem nền dùng quá nhiều để che giấu những giờ Emma thiếu ngủ.
— Các bạn có gì mới về chuyện ám sát cô quản đốc bảo tàng Thụy Điển không? - Emma hỏi khi bước qua cánh cửa quay của khách sạn. - Mình nhớ lại trong dịp nào mà mình nghe nói đến cô ấy: cô đã giúp Dan trong việc nghiên cứu, tìm kiếm về Versailles cách đây hai hay ba năm. Cậu không thể hình dung được anh ấy say mê vua Louis XIV đến chừng nào. Một nỗi ám ảnh đó.
— Dù sao cũng lạ lùng là cả hai đều là nạn nhân của mélatonine. Họ có còn gặp nhau không?
— Trên nguyên tắc thì không, cuộc tìm kiếm đã chấm dứt, - Emma nhíu mày trả lời.
Nàng không bao giờ đặt câu hỏi này ra cả.
— Nhưng về việc điều tra, cậu biết chứ? Có gì mới không?
— Chẳng có gì, theo mình biết. Công an tin chắc là không có liên hệ gì giữa thuốc mélatonine mà Kathrin đã uống với sự hành hạ mà cô ấy…
— Thôi đi, mình xin cậu. Kinh khủng quá! Mình không thể nào tin được là người ta có thể độc ác đến thế.
— Cậu biết đấy, thời buổi này người ta mang những hoang tưởng kỳ dị trong đầu! Tất cả mấy thứ truyện giật gân đẫm máu, phim ảnh bạo lực, đều mang đến cho người ta ý này, ý nọ. Này, cậu cũng biết chuyện gì xảy ra cho một bà ở miền Nam nước Pháp chứ?
— Không, - Emma lơ đãng trả lời và nghe tiếng bước chân đến gần.
— Tàn ác ghê lắm, mình vừa đọc lúc nãy trên Ouest France. Một góa phụ khoảng sáu mươi tuổi, sống bình lặng ở Aixen-Provence, trước đây dạy học, mình nghĩ thế. Một băng du đãng đã tra tấn bà cho đến chết ngay trong vườn bà ấy: chúng đã cột hai cánh tay treo bà lên một cây sồi lớn và nướng bà trên cái lò nướng ngoài trời của bà, rồi quấn xác trong lưới đánh cá và kéo lê xung quanh nhà trước khi…
— Ngừng đi! Thôi mà Valérie, mình xin cậu.
Emma tự hỏi không biết Valérie, một phụ nữ nghiêm túc và biết điều, có thể tìm thấy thú vui gì khi đọc mấy thứ tin vặt đó. Nhưng nàng không có thì giờ để đặt câu hỏi. Vào lúc hai người đến bãi đậu xe nhìn ra biển thì tên nhà báo đã đi theo cách vài thước phía sau, giờ tiến lên ngang hàng.
Emma không quay nhìn, vẫn bước nhanh về phía bãi biển. Valérie quay sang tên khách không mời.
— Ông Flavia, nghe này, ông không thể để chúng tôi yên được sao? Ông thấy rõ là bà Shannon đang mệt mà!
Flavia bỏ cuộc, khiến hai người ngạc nhiên không ít.
— Emma này, dù sao cậu nên lưu ý nghe. Mình biết tên nhà báo này, thỉnh thoảng hắn viết cho tuần báo L’Express. Hay cho nhật báo Libération, mình không nhớ nữa. Dù gì đi nữa, hắn có ảnh hưởng đấy.
— Mình bất cần. Đây là không phải lúc. Dù gì thì mình cũng bất cần hắn ta. Mình nhắc cho cậu nhớ là báo chí Pháp hiện nay chỉ là 1% báo chí thế giới. Đáng buồn cho báo chí Pháp lắm đó.
Valérie hơi bị sốc trong giây lát bởi tính thực tế của Emma cũng như giọng điệu nàng, nó không chấp nhận câu đáp trả. “Trong các ban giám đốc, cánh đàn ông chắc phải luống cuống trước nàng”, Valérie tự nhủ, thấy ngưỡng mộ tài sức cô bạn học cũ ở trường Sciences-Po biết đối đầu với đám mày râu. Ngay từ thời ở Paris, rồi trong những nhóm làm việc chung mà hai người tham gia, Valérie cảm thấy mặc cảm trước khả năng quyến rũ của cô bạn mình, một sự hấp dẫn nghịch lý. Đẹp, xuất sắc, khó tính, Emma cũng biết nhiều phen tỏ ra rắn rỏi như đàn ông. Có phải là bộ mặt bên ngoài không? Là chiến thuật tự bảo vệ đơn giản nhưng cần thiết để vượt qua trở ngại mà leo lên hàng cao nhất không? Hay là phản xạ bẩm sinh?
Hàng loạt xe bóp kèn cắt ngang dòng suy nghĩ của Valérie. Vài chục người lái bị kẹt cứng trong bãi đậu xe nằm đối diện viện bảo tàng Cuộc đổ bộ. Các con đường nhỏ xung quanh cũng bị tắc nghẽn. Emma và Valérie băng ngang bãi đậu xe để ra bãi biển. Bất thình lình một chiếc xe mô tô lớn đang tìm lối chạy giữa đám xe cộ, đâm thẳng vào hai người. Người lái không chạy nhanh, nhưng do tập trung vào việc lạng lách giữa các xe hơi, nên đã không thấy họ. Emma có phản xạ tránh nhanh được. Nhưng Valérie, bước đi trước nàng, bị tay lái đụng phải. Nàng lảo đảo rồi ngã xuống mặt đường, vai phải đập xuống vỉa hè.
— Ê! Làm gì vậy, đứng lại! Dừng lại! - Emma la lên.
Tên lái mô tô thắng gấp rồi dựng xe lên. Hắn quay lại về phía hai người đàn bà, tay gỡ mũ bảo hiểm ra khỏi đầu. Hắn cúi người xuống và giúp Valérie đứng lên.
— Có sao không? Thưa bà, tôi rất tiếc, tôi không thấy bà, - hắn nói, điềm tĩnh và lễ phép.
— Chắc sẽ không sao.
Valérie vừa đi vài bước, vừa xoa bóp một bên hông, Emma và tên lái mô tô đi kèm bên cạnh.
— Được rồi. Cảm ơn.
— Xin bà tha lỗi, tôi bị mệt nhiều. Tôi lái xe cả bốn tiếng đồng hồ. Tôi đến từ Paris. Dưới đó hỗn loạn vô cùng, các cửa ngõ vào thành phố đều bị tắc nghẽn. Người ta kẹt cả ba giờ trong đường hầm Saint-Cloud. Cuối cùng, tôi qua được vì là xe mô tô. Nhưng, đến gần Caen thì con đường cao tốc ngoại vi bị chặn lại. Cái xa lộ bốn làn xe đi Bayeux cũng thế. Cho nên mọi người đành phải dồn vào một con đường nhỏ trong tỉnh.
— Nhưng đã xảy ra chuyện gì vậy? - Emma hỏi.
— Có một đoàn xe tải làm tắc nghẽn xa lộ. Dù sao đi nữa, đó là chuyện họ nói trên đài France-Info. Hai xe tải đại bự chứa đầy plutonium. Đến từ La Hague, tất nhiên rồi. Có vẻ như chúng húc vào nhau trên cái cầu cạn ở Calix. Ngay lập tức cảnh sát chặn lại đường cao tốc ngoại vi và một phần xa lộ bốn làn xe đến từ Bayeux. Cảnh sát cũng quả quyết là không có gì nguy hại. Nhưng ở ngay dưới cầu cạn thì có những thùng chứa cácbua hydrô và bãi đỗ của xe xi-tẹc chở chất đốt! Nếu một công-te-nơ đựng plutonium rớt xuống đó thì cả vùng này sẽ nổ tung!
❀ ❀ ❀
[1] Cửa hàng bách hóa đồ sộ và đắt tiền ở Paris.
[2] Công viên rất lớn, nằm ngay trung tâm thành phố New York.
[3] Tiếng Anh trong nguyên tác, có nghĩa ở một nơi xa xôi, hẻo lánh.
[4] Diễn giả đề dẫn.
[5] Có nghĩa “Những người nắm quyền lực: nam giới hay phụ nữ, có tạo ra sự khác biệt không?”
[6] In nghiêng trong nguyên tác. Pédégère là viết tắt của “Présidente- directrice générale” (Nữ chủ tịch kiêm tổng giám đốc). Đàn ông giữ các chức vụ này thì gọi là pédégé.
[7] Được tổ chức vào năm 1996 ở thành phố Atlanta (bang Georgia, Mỹ). Trong lúc Thế vận hội đang diễn ra thì có một quả bom nổ ở quảng trường chính của thành phố, làm bị thương trên một trăm người.
[8] Có nghĩa “cuộc chơi đã tàn”
[9] Viết tắt của National Association of Securities Dealers Automated Quotations (Bản công bố tự động hóa (giá chứng khoán hiện thời) của Hiệp hội quốc gia các nhà buôn chứng khoán). Thành lập vào năm 1971, NASDAQ là một sàn giao dịch chứng khoán điện tử lớn nhất thế giới hiện nay.
[10] Tiếng Anh trong nguyên tác, nghĩa đen là cứt, phân. Ở đây có thể dịch là “Như cứt!”.
[11] Tôi không muốn bàn về chuyện đó.
[12] Theo thần thoại Hy Lạp, con rắn quái dị này có đặc điểm là mỗi khi một đầu trong bảy của nó bị chặt đứt thì đầu khác mọc lại. Chỉ có lực sĩ Hercule thắng nó vì chém được cả bảy đầu cùng lúc.
[13] Hay Phố Wall, mệnh danh là thủ đô tài chính của Mỹ, nằm ở New York, và cũng là nơi đặt Sàn chứng khoán New York (NY Stock Exchange).
[14] Kỹ sư trưởng phần mềm.
[15] Tiếng Anh trong nguyên tác. Asap là viết tắt của “As soon as possible”.
[16] Mảnh giấy nhỏ, vuông, thường màu vàng, có keo sẵn sau lưng, dùng để ghi lại vài chữ rồi dán lên đâu đó…