Ngày trước…
Một đường hầm dưới các mộ bia poodle! Em hình dung ra nỗi phấn khích của anh lớn chừng nào! Có gì ở dưới đó? Có gì ở đằng sau? Nếu anh có thể nhảy qua bức tường ngăn cách giữa biệt thự Trianon và công viên của lâu đài, hẳn là anh đã nhảy rồi. Anh chạy vội về phía cổng, tay cầm cái ra-đa của mình, để đến cổng ra vào công viên, gọi là cửa Saint-Antoine. Đằng kia, trước túp lều của mình, tên cho thuê xe đạp chưa từng thấy anh chạy nhanh như thế. Khi đến phía bên kia bức tường, anh bật máy ra-đa và đi dò từng bước trên bãi cỏ về hướng Grand Trianon, mắt nhìn chằm chằm vào màn hình. Con đường hầm mà anh đã nhận dạng lối vào có kéo dài theo hướng này không? Nó có đến gặp đầu vào phía kia, dưới căn phòng của Phu nhân de Maintenon không? Nếu đúng vậy thì tại sao hàng thế hệ những nhà nghiên cứu đã “thính chẩn” Versailles lại không tìm ra nó?
Anh đi được khoảng hai mươi thước. Và dần dần màn hình cho hiện ra những hình ảnh càng lúc càng ít rõ hơn. Đường hầm được đào quá sâu. Nhưng anh đi đúng theo hướng Grand Trianon. Và khổ thay, anh không thể đi khơi khơi thế này mà không ai để ý. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một nhân viên lâu đài bắt gặp anh? Anh vội vàng dừng bước.
Giải pháp tốt nhất vẫn là trở lại nghĩa địa các con chó và đào xuống. Elsie và đức ông chồng chắc đã bịt lại lối vào một cách sơ sài: xét cho cùng, họ đâu tìm cách che giấu cái đường hầm. Tuy vậy, anh vẫn không thể hăm hở bắt tay vào việc ngay tối hôm đó. Anh không có sẵn các dụng cụ cần thiết, và nhất là tên gác dan Terry sắp sửa quay về.
Anh đã chờ đến ngày hôm sau và tìm ra một cái cớ mới để đẩy Terry đi xa. Anh gửi hắn đi xuống Orléans để nhận chở về một món đồ gỗ mà anh đã mua qua điện thoại từ một ông bán đồ cổ ở thành phố đó. Anh không muốn hắn phát hiện ra đường hầm bí mật đó. Không phải vào lúc này.
Anh đã suy nghĩ nát óc trong đêm qua. Và tái dựng trò chơi bí ẩn này. Anh hiểu tại sao lá thư của Elsie, nó đã khiến anh nảy ý mua ngôi biệt thự đó, báo tin cái chết của con chó xù cùng lúc với sự khám phá ra con đường hầm.
[…] Đường hầm bắt đầu từ ngay chỗ hai đứa mình ngày xưa thường ngồi uống trà – bạn còn nhớ chứ?
Tương quan giữa hai biến cố này thì không được đề cập đến, nhưng sự kết nối thì hiển nhiên. Charles Mendl và người làm vườn của ông đã phát hiện ra lối vào đường hầm qua việc đào mộ cho con chó. Chuyện này, như một hệ quả nhỏ, đã buộc họ đặt hầm mộ ra xa một chút.
Và cái bàn tròn bằng sắt rèn thì sao? Chắc là nó được đặt ở đó để mà Elsie có thể ngồi uống trà cùng với các con poodle yêu quý đã chết cũng như với các bạn bè thượng lưu của mình.
Tuy nhiên, để bắt đầu anh phải giải quyết một vấn đề kỹ thuật. Trái với điều anh đã hình dung, hai vợ chồng Mendl đã không chịu bịt lại lối vào đường hầm một cách qua loa: họ đã đóng chặt nó bằng một tấm xi-măng rồi lấp đất lên, và cỏ đã mọc trên đó từ lâu lắm rồi. Anh phải tìm ra một cái búa máy. Khó khăn thứ hai: để đến được nơi sâu kín của Grand Trianon, anh sẽ phải khai thông con đường hầm ngay tại chỗ mà nó sụt lở, cách ngôi biệt thự hai trăm mét, nếu căn cứ vào lá thư của Elsie. Tóm lại, lần này anh cần sự giúp đỡ. Kín đáo, nếu có thể.
Anh đã dùng cái mánh mà một trong những bạn cũ người Pháp của em, người chuyên mua lại các xí nghiệp bị khó khăn, đã khuyên chúng ta, em nhớ không? Xem xét những khai trình mới đây ở tòa án thương mại về việc ngừng chi trả tiền bạc và tìm ra một xí nghiệp BTP[1] đang thiếu tiền. Kết quả tức khắc. Alvès, một người thợ nề người Bồ Đào Nha mà xí nghiệp của mình đã bị thanh lý ba tuần lễ trước đó, đến gặp anh. Mười lăm ngàn euro của anh và lời hứa sẽ có các việc khác – nếu gã biết giữ mồm, giữ miệng – là đủ.
Gã mất non nửa giờ để phá mở đường hầm nhưng mất đến gần bốn giờ để khai thông đất đá sụt lở và để gia cố đường hầm ở những chỗ suy yếu. Trong thời gian này, anh quan sát gã, giúp gã chuyện này, chuyện nọ, và che giấu sự nóng ruột của mình. Một khi đã mở được lối đi mà Elsie bịt kín, anh giành đi trước, vào sâu trong đường hầm, tay cầm một trong những cái đèn halôgien của Alvès rọi về phía trước. Gã thợ nề theo sau anh vài thước. Đường hầm hẹp, chạy theo hướng Tây-Nam về phía Grand Trianon, như anh đã nhận thấy bằng ra-đa. Nhưng tiến từng bước một dưới cái vòm hang này thật là mất sức: ta hầu như không thể đứng thẳng được. Mặt đất thì trơn trượt, giống như mặt đất ở các đường hầm nằm dưới lâu đài mà bọn mình, em và anh, đã tham quan với tên thợ ống nước. Đá trên đầu thì ẩm ướt, để rỉ ra những viên ngọc nước xói mòn đất bên dưới khi rơi xuống. Một số giọt nước nhỏ bị đá giữ lại thì làm lớn dần những thạch nhũ trên mà nhiều thế kỷ đã tạc thành. Ở đây không có những hang sâu và ngoằn ngoèo để có thể đặt vào những cây đèn nến có tay cầm; đường hầm này thì thô sơ hơn những cái khác ở dưới công viên nhỏ. Anh và gã thợ nề đi được khoảng một cây số thì không tiến thêm được, đường hầm một lần nữa đụng phải một vật chắn xây bằng đá. Đó có phải là thứ bịt đường hầm mà anh đã biết, hay chính xác hơn, cái tương đương ở phía ngược lại? Ở đầu bên kia của đống đá này, và nằm trên đầu bọn anh một chút, có đúng là căn phòng ngày xưa của Phu nhân de Maintenon, ở ngay chỗ mà vào mùa thu vừa qua, Granier, Kathrin và anh đã ngừng cuộc tìm kiếm không?
Hướng đi - Tây Nam, khoảng cách - 1,1 cây số từ biệt thự Trianon, độ sâu - ba hay bốn thước dưới mặt đất – tất cả có vẻ chỉ ra là bọn anh chỉ ở vài mét cách căn phòng mà bọn anh đã “thính chẩn”. Tất cả, trừ cái rađa. Nó như mù. Không một liên hệ nào với Grand Trianon hiện ra. Lớp đá tảng thì quá dày. Bọn anh đã nhận thấy như thế ngày hôm trước.
Nhưng lần này, máy tính rung lên đúng ngay lúc anh sắp sửa đóng màn hình lại và quay sang Alvès để bảo gã đi lấy các thỏi thuốc nổ. Hình ảnh hiện dần ra, cho thấy một lỗ hổng, ở phía bên phải, cách bọn anh ba thước. Cao một thước ba. Rộng năm thước vuông ở mặt đất. Cái phần mềm này thật chính xác.
— Yeah![2]
Tiếng kêu chiến thắng của anh làm Alvès ngạc nhiên. Nhưng gã không buột miệng nói gì. Rõ ràng là gã đã hiểu rằng mười lăm ngàn euro mà gã sắp sửa nhận được cũng dùng để mua sự im lặng… Vừa đi, vừa về đến chiếc xe của mình, gã mất hết hai mươi phút. Gã biết phải làm gì sau đó. Cái ngòi dài. Ba thỏi thuốc nổ. Rồi chờ, bên ngoài, một tiếng nổ đục. Và để cho bụi bặm lắng xuống.
Khi bọn anh trở lại chỗ nổ, lớp đá đã bị phá banh. Một cánh cửa bằng kim loại hiện ra dưới các chùm tia sáng của những ngọn đèn soi. Alvès dùng vai húc mạnh: các bản lề cửa đã lung lay vì thuốc nổ, đành chịu bung ra.
Căn phòng bí mật đây rồi.
Nó thực sự nhỏ xíu và bọn anh chỉ có thể vào trong bằng cách ngồi xổm rồi nhấc chân mà đi từng bước một. Một con chuột chạy vụt qua giữa hai đùi làm anh buông tay thả rớt ngọn đèn. Alvès phóng một cú đá vào con vật và trượt chân ngã mạnh vào tường. Anh lượm cây đèn lên và điều khiển chùm sáng về phía cuối căn phòng. Trên mặt đất được soi bởi tia sáng vàng, hai chiếc rương nhỏ màu nâu viền bạc đợi anh đó. Anh tiến tới một bước, phấn khích. Và cũng do dự. Có phải vì xúc động không? Hay nỗi sợ hãi vì khám phá ra cái mà anh tìm kiếm từ ba năm nay? Tóm lại, có phải là nỗi sợ hãi vì thắng cuộc không? Những cái thùng này có cất giữ thực sự những tài liệu viết tay quý giá nhất của lịch sử nước Pháp không?
Các ổ khóa của chúng đều được khóa lại. Anh đưa tay nhắc thử chúng lên. Nhẹ một cách lạ lùng. Nhưng không trống không: anh cảm thấy như thế khi nghiêng nó qua một bên.
— Chúng không có vẻ đầy ắp vàng bạc! - Alvès thốt ra, sau lưng anh.
Gã hình như không ý thức được tầm quan trọng của sự phát hiện này lẫn sự trang trọng của nơi chốn này. Gã chỉ thấy hai cái rương xưa cũ han gỉ, bị bỏ quên ở đáy của một trong vô số đường hầm rạch ngang, xẻ dọc bên dưới mặt đất của thành phố hoàng gia.
— Yên tâm đi, tôi không đi tìm tài sản đâu, - anh trả lời.
— Vậy thì cái gì?
— Các giấy tờ.
Gã vừa liếc anh với ánh mắt tò mò cực độ, vừa soi rọi quanh căn phòng với cây đèn của mình. Cái thằng cha này là ai mà hứa trả cho mình mười lăm ngàn euro chỉ để đi tìm các giấy tờ cũ rích ở tận cùng một con đường hầm tăm tối? Vì anh cứ đứng im, mê tơi với sự phát hiện của mình, gã hỏi anh:
— Ta đưa chúng lên trên chứ?
Em có thể hình dung những ý tưởng đến dồn dập trong đầu anh khi bọn anh, tay ôm rương, đi trở lại con đường cũ về biệt thự Trianon. Niềm tin tự đáy lòng là anh rốt cuộc nắm trong tay một mảng Lịch sử mà anh đã khổ công tìm kiếm quá lâu. Niềm hãnh diện đã tìm thấy báu vật đã từng làm hàng thế hệ sử gia mơ ước. Và cả nỗi hoài nghi: các rương này có chứa đựng những tài liệu lưu trữ của vua Louis XIV, hay chỉ của vua Louis XVI không thôi? Và cái bình đồ của Le Nôtre có thực sự ở trong đó không?
Khi bọn anh đặt hai cái rương lên bàn ở hiên nhà, anh nhận thấy là chúng còn tốt so với tuổi chúng. Alvès mở khóa chỉ trong vài giây rồi đi rửa tay, qua đó muốn nói với anh là phần việc của gã đã xong. Gã không kéo nắp rương lên. Có lẽ gã đoán rằng anh muốn chỉ một mình anh tận hưởng sự phát hiện này.
Anh bước nhanh lên cầu thang, về phòng mình lấy mười lăm ngàn euro, rồi vừa đưa người thợ đang rất hài lòng này ra đến tận cổng, vừa che giấu sự nóng ruột của mình. Đóng xong cánh cổng, anh vội vàng chạy ngược lại trên lối đi có hàng cây tiêu huyền trồng dọc theo. Đột ngột, một nỗi nghi ngại khác trỗi dậy. Napoléon đã sử dụng từ trước, hay lấy ra một vài thứ trong số các tài liệu lưu trữ bí mật này để bỏ vào hồ sơ lưu trữ chính thức, thậm chí giữ riêng cho ông không? Vừa đến gần các cái rương quý giá của mình, anh vừa cảm thấy một nỗi xúc động lạ thường.
Sức mạnh xen lẫn với lo âu. Anh cảm thấy mình bất khả chiến bại, và run rẩy cùng lúc. Không một cuộc gặp gỡ nào với các quốc trưởng, không một phần mềm thiên tài nào, không một sự tăng vọt nào của cổ phiếu Controlware lại mang đến cho anh cảm xúc về sức mạnh và sự chóng mặt cùng lúc như thế này. Anh sắp sửa nắm trong tay những tài liệu mà chỉ có vua Louis XIV, Louis XV, Louis XVI và Napoléon xem xét trước anh. Tên bá chủ của thế giới hiện đại đi vào nơi chốn của những tên bá chủ thời quá khứ. Kẻ nắm giữ những bí mật của tương lai đang đứng ở ngưỡng cửa của những bí mật của Lịch sử. Và có lẽ, bí mật của Thượng đế. Anh là một Moise[3] mới.
— Moise 2.0, - hẳn là em sẽ nói thế, giống như ngày xưa em thường trêu chọc về các tham vọng toàn cầu của anh.
Khi ngồi xuống trước hai cái rương, chính em là người anh nghĩ tới. Chỉ em thôi, và không ai khác, anh thề đó. Ước gì anh chia sẻ được giây phút này với em.
Anh mở cái rương lớn nhất trong hai cái. Nó chứa những bó giấy tờ ố vàng được buộc bằng dây băng hay tập hợp lại trong các bìa cứng được tô vẽ trên mặt. Anh đọc lướt qua các nhan đề và các tiêu đề và thấy ra ngay lập tức là từ “roi”[4] thì đôi khi được viết với chữ “i”, đôi khi với chữ “y”, như thể những tài liệu của thế kỷ XVIII nằm lẫn lộn với thế kỷ XVII. Dấu hiệu khả quan đấy.
Những tờ đầu tiên, ít nhất là ba chục tờ, là những bản danh sách, chia làm nhiều cột rộng, và đầy chữ viết khít nhau: “Họ tên / Tuổi / Mô tả nhân dạng.” Rõ ràng đây là danh sách những người cần theo dõi. Một kiểu “nghe lén điện thoại” của thời “Ancien Régime”[5] đó, phải không? Những danh sách khác thì bắt đầu bằng từ “vụ”: vụ “Calas”, vụ “các thầy tu dòng Tên”… Anh đồ rằng vua Louis XIV đã lưu giữ ở đấy tất cả các báo cáo của công an mật.
Sau đó anh vùi đầu đọc cuốn sổ kế toán của “Ông de Colbert đệ trình vua nước Pháp”, với tiêu đề “Versailles 1663-1685”: những vị bảo quản viện bảo tàng ngày nay chắc là làm việc với những sổ sách đã được “sàng lọc” hay “làm nhẹ đi”, vì vua Louis XIV khư khư giữ riêng cho mình những chi tiêu thực sự! Dấu vết của chi phí cho cái cầu thang nổi tiếng của Costello chắc chắn còn ở đây, nhưng anh sẽ kiểm tra sau. Anh quá nóng ruột muốn khám phá tiếp nữa. Tuy vậy, một phát hiện khác khiến anh gần như quên bẵng điều mình đang tìm kiếm: “Tóm lược bản hiệp định được xác lập giữa ông Marie Joseph Paul Yes Roch Gilbert Motier, hầu tước de la Fayette, và ông George Washington, tổng tư lệnh quân đội Mỹ ngày 6 tháng 2 năm 1778”. Nó chỉ có một trang, và vì nó được viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, anh khỏi phải đọc hai lần để hiểu được giá trị lịch sử không thể tưởng tượng được của nó. Nó tiết lộ những lý do thực sự của cuộc ủng hộ mà nước Pháp dành cho “những kẻ nổi loạn” Mỹ trong cuộc chiến tranh giành độc lập! Sự hiện hữu của một hiệp định, em hãy nghe cho kỹ này, của một thỏa thuận bí mật giữa người Pháp và người Mỹ, một phụ lục cho cái hiệp ước hữu nghị, liên minh và thương mại nổi tiếng đó! Để đền bù cho sự ủng hộ của người Pháp chống Đế quốc Anh, người Mỹ cam kết, một khi giải phóng khỏi sự cai trị của người Anh, sẽ giúp đỡ nước Pháp (hồi đó đã sở hữu bang Louisiane, em nên nhớ nghe ) trong cuộc tái chinh phục Canada! Nếu như hiệp định này được thực thi thì ngôn ngữ của Molière hẳn đã thống trị trên đại lục Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ XIX rồi… Thế mà cuộc Cách mạng Pháp 1789 đã ngăn cản kế hoạch do vua Louis XIV khởi xướng này trở thành hiện thực đấy! Cuối cùng thì tên đại ngốc đó lại tỏ ra mưu lược hơn người ta tưởng. Và Bonaparte thì ít mưu lược hơn nhiều khi ta nghĩ đến chuyện vì nợ nần tứ phía mà ông ta đã bán đổ bán tháo vùng Louisiane với giá hai mươi triệu đôla-vàng, và như thế đã làm tiêu tan mãi mãi giấc mộng một nước Pháp trên lục địa Mỹ…
Anh mở chiếc rương thứ hai. Ở trong đó anh vẫn còn tìm thấy vài bó thư từ, các hiệp định và các bản tuyên bố. Chắc là lát nữa anh sẽ bỏ ra nhiều tiếng đồng hồ để đọc kỹ chúng cho vui. Và bên cạnh đó, anh cũng sẽ phát hiện ra tại sao con đường hầm này, nối Grand Trianon với ngôi biệt thự cùng tên, lại được đào dưới thời vua Louis XVI: nó cho phép ta rời khỏi lãnh địa hoàng gia một cách hoàn toàn kín đáo. Em trai nhà vua, sau này là vua Charles X, có tính yêu thích đàn bà đẹp và những buổi hẹn hò tình tứ, là người đầu tiên sử dụng nó; lối đi bí mật đó đã giúp ông ở lại suốt đêm trong ngôi nhà nhỏ dùng khi đi săn bắn mà không ai nhận ra sự vắng mặt của ông ở lâu đài…
Nhưng anh không mất một phút, ngày hôm đó, để xem xét các tư liệu lịch sử quý giá này.
Anh đã không phải tìm kiếm lâu la.
Dưới những tờ giấy gấp làm tư, có một bình đồ. Anh cảm thấy hai bàn tay mình run rẩy khi anh cầm lên và mở ra.
Cuối cùng, chính nó đó.
Cái bình đồ nguyên gốc cho các ngôi vườn của Le Nôtre.
❀ ❀ ❀
[1] Viết tắt của “Bâtiment et des Travaux Publics” (chỉ ngành xây dựng nhà cửa và công chánh như đường sá, cầu cống…)
[2] Là cách phát âm không trịnh trọng của từ “yes”. Ở đây có thể dịch là “Thế mới được chứ!”.
[3] (Thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên): Người lập quốc, giải phóng và thống nhất dân tộc Do Thái, và đặt nền móng cho đạo Do Thái.
[4] Có nghĩa là vua.
[5] Nghĩa đen là “Chế độ Cũ”, từ chỉ chế độ chính trị (quân chủ chuyên chế) và xã hội nước Pháp từ thời vua François Đệ nhất (1515-1547) đến khi nổ ra cuộc Cách mạng 1789.