“Sữa tươi: ba lít. Trứng: bốn quả. Nước cam ép: nửa lít, đang đặt mua. Nước cà chua tươi ép: một lít rưỡi. Gà nướng tandoori[1], hai phần ăn. Gà nấu cà ri: một phần ăn, đang đặt mua…”
Pierre cứ bám riết mấy cái nút lập trình nhưng vô ích, anh không thể nào tắt cho được tiếng nói tổng hợp này. Tủ lạnh-máy tính[2] của Barett cứ mỗi ba tiếng đồng hồ thì kiểm kê thức ăn, đồ uống dự trữ và đặt mua trực tiếp những gì vơi đi, thông qua Internet, trên mạng ooshopcom. Chí ít là vào thời buổi bình thường. Từ hôm trước, siêu thị trực tuyến đã ngưng giao hàng.
— Bỏ qua đi, - Emma nói. - Khi xong phần kiểm kê thì nó sẽ im thôi.
— Xong rồi! Anh tìm ra…
Pierre và Emma đã đi xuống gian bếp phụ nằm dưới tầng hầm biệt thự Trianon. Dù đã khuya lắm rồi nhưng không ai thích đi ngủ cả, và Emma đề nghị làm một, hai món ăn gọn nhẹ. Trong bếp còn một ít bánh mì để làm xăng-uých, vài quả trứng và một cây xà lách được gói theo kỹ thuật chân không. Emma lấy ra một cái chảo lớn bằng gang rồi nấu trứng trên một tấm đốt bằng gốm thủy tinh.
— Anh ăn món trứng khuấy[3] được chứ?
Pierre hiểu ra nhanh là người đàn bà Mỹ này không muốn nói về quá khứ. Hơn nữa, về hiện tại cũng không: nàng đã nói lấy lệ về những biến cố xảy ra mấy hôm nay liên quan đến gia đình nàng. Rebecca đã gặp Granier ở l’Opéra sáu tháng trước đó. Cô đem lòng yêu gã. Rồi có thai. Gã thuyết phục được cô giữ lại đứa con. Hai người sẽ cưới nhau vào tháng mười. Chấm hết.
— Vì việc này mà anh ta đến nói chuyện với em đêm qua, ở trong phòng em đấy.
Pierre lại gần nàng, trong khi nàng khuấy trứng trong chảo.
— Lẽ ra em nên nói với anh sớm hơn. Thấy gã ra khỏi phòng em, anh thật tình nghĩ rằng…
Emma thở dài.
— Anh đánh giá em cao quá há!
Giọng nói đầy cay đắng.
— Anh hối hận lắm, - Pierre nói.
— Jean-Philippe đến nói chuyện với em về cuộc hôn nhân của anh ta với Rebecca, và em và anh ta đã thảo luận suốt hai giờ. Em cũng không biết là anh ta quen biết con gái em. Hãy thử hình dung là em sốc như thế nào! Em tự hỏi tại sao anh ta lại không nói với em chuyện này sớm hơn, ở Arromanches. Anh ta quả quyết là Rebecca chưa chấp thuận…
— Khó tin lắm! - Pierre kêu lên. - Lý do thực sự, nếu gã nói ra thì hẳn là không tiện để tán tỉnh em đó.
— Anh đừng nói bậy! Anh ta cố gắng vừa đúng để thu hút sự ưu ái của bà mẹ vợ tương lai…
— Bằng cách hôn vào miệng em ở quán La Marine à? Một cách kỳ cục để đạt mục đích! Em đừng nói ngược lại, anh thấy em với gã mà!
— Thế à?
Emma thấy hết căng thẳng. Sự ghen tuông của Pierre làm nàng vui thích. Nàng diễn giải nó như là bằng chứng của tình cảm anh dành cho nàng. Bởi vì nàng vẫn không chắc chắn là anh tha thiết với nàng.
Khi hai người làm tình với nhau lần vừa qua, anh chỉ buột miệng nói vài câu. Nàng “đẹp tuyệt vời”. Hai thân thể “hợp nhất như hai nửa quả cam”. Anh chưa từng cảm nhận “một xúc cảm vẹn toàn như thế”. Liệu những lời này chỉ được xui khiến bởi lòng ham muốn, bởi cái xung năng nhất thời? Đàn ông, khi làm tình, nói ra những điều mà họ không thực sự nghĩ.
Tuy vậy, chỉ vài phút sau, khi nàng tắm vòi trong phòng tắm của Dan, Pierre lại đến gần. Anh ngồi xếp bằng trên sàn gạch bông, cùi chỏ đặt trên đầu gối, trước bồn tắm rộng mà nàng ngồi xổm trong đó. Bàn tay mặt nàng cầm vòi cho nước dội khắp người, bàn tay kia nàng dùng che cặp vú trong một động tác máy móc. Anh nhìn nàng, mỉm cười, ánh mắt đi chầm chậm lên vai, lên ngực, lên lưng nàng, rồi chậm lại trên gáy, trên mái tóc búi ngược của nàng, rồi trên đám lông mượt ở chỗ hai đùi giao nhau, và trên nốt ruồi nằm ở đầu gối phải của nàng.
Vì nàng hỏi anh qua ánh mắt, anh thì thào:
— Anh ngắm nhìn nhan sắc của em.
Nàng không nói gì, bối rối. Và vào lúc chính xác này, ex post[4], như nàng nói một cách lạm dụng để chỉ “sau khi” yêu, anh không thể bị xung năng dẫn dắt được. Những lời của anh đã làm nàng cảm thấy trào dâng trong lòng một tình cảm thắm thiết rồi một ham muốn không cưỡng được ôm trong vòng tay người đàn ông đang nhìn mình như thế. Ngay lúc đó thì họ nghe Granier gọi.
Bây giờ, đứng trong bếp, nàng thấy hối hận đã xen lẫn những tình cảm cá nhân của mình – sức mạnh thúc đẩy nàng về phía anh – với ý thức mà nàng có về bi kịch được báo trước đó, một bi kịch mà chỉ có họ mới có thể chặn đứng.
— Anh biết rõ kiểu hôn này mà, nó là thói quen của dân Paris đó, - nàng thầm thì khi nhắc lại sự cầu thân của Granier ở quán La Marine. - Một tật sính thông thường trong giới show-biz[5]…
Pierre không phản ứng.
— Và để nói hết với anh, - Emma còn bộc bạch, - khi anh ta hôn em trên miệng, em không thích chút nào nhưng em không tát tai anh ta. Ta có phải ở Mỹ đâu. Em chỉ yêu cầu anh ta đừng lặp lại.
Nàng nghĩ rằng Pierre sắp chế nhạo cái biện pháp nửa vời chất phác này. Nhưng anh không nói gì. Trứng chín. Emma lấy muỗng gỗ xúc ra và đặt chảo trên mặt bàn bếp. Rồi nàng nướng vài lát bánh mì.
— Xăng-uých chút xíu nữa sẵn sàng đó.
— A, xăng-uých kẹp bánh mì, - Pierre châm chọc, bước đến sau lưng nàng, hôn lên gáy rồi nhay những món tóc nhỏ mà nàng không giữ được trong cái kẹp tóc.
Lại một lần nữa, nàng thèm muốn buông thả.
— Đi nào, mình mang thứ này cho họ, - nàng nói, tay chìa ra trước mặt anh những cái xăng-uých mà nàng đã nhanh nhẹn kẹp thêm vào giữa vài lá xà-lách. - Anh lấy hai miếng đi, em mang phần còn lại. Sau đó mình ra ngoài hồ bơi. Nói chuyện ở đó yên tĩnh hơn.
Ý tưởng đầu tiên của Emma là lên lại phòng của Dan, nhưng nó không phải là chỗ lý tưởng để phân tích tình hình một cách thanh thản. Vả lại, Rebecca đang có mặt trong nhà…
Họ trở lại tầng trệt. Hai kẻ yêu nhau đang dán mắt vào màn hình TV. Đài TF1 đang chiếu Cái ngày hôm kia[6]. Rebecca và Jean-Philippe, bị cuốn phim thôi miên, cầm lấy bánh xăng-uých và nói cảm ơn Emma một cách lơ đãng.
— Làm sao mà người ta lại có thể đưa vào chương trình phát sóng một cuốn phim thảm họa trong hoàn cảnh như thế này chứ? Người đàn bà Mỹ, bực tức, lầm bầm khi ra khỏi phòng khách.
— Và nhất là còn ngồi xem nó nữa chứ! - Pierre bổ sung, trở nên ít bao dung vì đói.
Anh đánh giá thái độ của Granier là không thể hiểu nổi. Tên nhà văn đã có hai đứa con ở tuổi lao động rồi. Và ba cuộc hôn nhân, theo máy đếm. Ba lời hứa hẹn, ba tiệc cưới, ba thất bại. Và bây giờ, lần toan tính thứ tư, với một cô gái nhỏ.
Pierre cũng không thể tin rằng Rebecca đã có thể làm cho Granier yêu mình say đắm đến thế. Cô xinh xắn, vui vẻ và tự nhiên nhưng thoạt tiên, đó không phải loại đàn bà có thể gây sóng gió trong tim một gã ngũ tuần đã chán chường sự đời.
Anh tự hỏi không biết Emma có ý thức về sự lệch pha hay không. Như mọi bậc cha mẹ, nàng chắc chắn sùng bái con gái mình: tiểu thư chín chắn biết mấy so với tuổi mình thì tất nhiên tiểu thư chọn lựa đúng. Nhưng Granier gây ra nỗi ngờ vực nơi Emma, Pierre cam đoan như thế. Thế thì bà mẹ vợ tương lai có đặt nghi vấn về ý đồ thực sự của tên nhà văn không? Anh suýt đề cập đến chuyện này nhưng rồi từ bỏ: có ích gì kia chứ? Anh không có giải pháp nào để đề nghị. Vả lại, như Emma đã nhấn mạnh trước đó, hai người có mặt ở đây không phải vì chuyện này. Những công việc cốt tử đang chờ họ.
Họ đi vài bước bên cạnh nhau trong hành lang với các bức tường nhung màu be.
— Anh biết Elsie de Wolfe nói gì không khi đi thăm đền Parthénon[7] ngay sau khi chiến tranh chấm dứt?
— Anh không biết, nói đi!
— Hình như bà kêu lên: “Màu be! Đúng là màu của tôi!”
Pierre mỉm cười. Barett ít nhất có một cái gien chung với bà chủ nhà trước, gien của khuynh hướng tự kỷ trung tâm.
Anh theo Emma quan sát những bức họa treo trên tường. Người đàn bà Mỹ đưa ngón tay chỉ một phiên bản của bức Sự tạo thành con người do Michel-Ange sáng tác và được Rosso Fiorentino vẽ lại, và một chi tiết thuộc bức La Cène[8] của Léonard de Vinci mà Dan thường nói đến. Barett rất gắn bó với những tác phẩm thế kỷ XVI đó. Dạo sau này, chàng càng ngày càng quan tâm đến siêu hình học. Chàng hình như cũng bị ám ảnh bởi cuộc tìm kiếm sự hiện hữu của Thượng đế. Có lẽ vì do tiếp xúc quá nhiều cảnh đói nghèo và chết chóc khi lãnh đạo quỹ từ thiện của mình không? Đối diện với sự khốn cùng mà chàng gặp trong các nước thuộc thế giới thứ ba, và giống như bất cứ người nào, Dan chắc chắn hoài nghi sự hiện hữu của Thượng đế. Hoài nghi sự hiện diện của Ngài, quyền lực của Ngài, và ngay cả sự cần thiết của Ngài nữa. Khi thấy hàng trăm trẻ em chết chỉ vì thiếu thuốc men, thiếu tiêm chủng, thiếu một chút nước hay củi, người ta tự để cho nỗi hoài nghi xâm chiếm đầu óc, một cách không thể tránh được: tin ở một Thượng đế tốt bụng và hào phóng thì có ích gì cơ chứ nếu rốt cuộc để xảy ra tình cảnh bi đát như vậy? Xét cho cùng, một con người đủ giàu có, biết tổ chức, có ảnh hưởng lại không hiệu quả hơn một Thượng đế tự gọi là toàn năng sao? Con người với óc sáng tạo, chung quy, lại không có khả năng vượt qua Thượng đế sáng thế sao?
Con người thì mạnh hơn Thượng đế. Prométhée[9], cuối cùng, là người chiến thắng. Dan và Emma đã tranh luận về đề tài này trong một cuối tuần riêng của hai người ở đảo quốc Islande. Alzacorp, một xí nghiệp trẻ ở Reykjavik từng nhận dạng được gien của bệnh Alzheimer, vừa khám phá một “quả bom” khác. Gien LTA4H, liên quan đến chứng nhồi máu cơ tim. Dan muốn mua lại xí nghiệp này. Sau này nó sẽ trở thành một mỏ thuốc men cực kỳ lớn. Nhưng Emma có ý kiến khác. Quá mạo hiểm. Quá đầu cơ.
Pierre đưa tay đẩy cửa có hai cánh nặng nề dẫn đến gian phòng tiếp tân mà Elsie de Wolfe ngày xưa đã cho xây thêm vào biệt thự Trianon. Gian phòng này, một loại lều bằng vật liệu cứng, với những đường sọc trắng và xanh lá cây, đã được dựng lên vào một dịp lễ hội và không bao giờ được hạ xuống từ dạo đó. Dan biến đổi nó thành hồ bơi. Hai trụ xây bằng cẩm thạch Carrare, ngày xưa đánh dấu lối vào biệt thự, giờ tạo thành hai cột nội gia khiến gian phòng trông có vẻ một nhà tắm công cộng La Mã thời cổ đại. Pierre và Emma bước xuống bậc tam cấp của cái cầu thang xưa dẫn đến mép hồ bơi. Hơi nóng và mùi clo nồng nặc xông lên tắc cổ họng hai người.
— Em có chắc là muốn ngồi lại đây không? - Pierre vừa ho, vừa hỏi.
— Ta được yên tĩnh ở đây, không phải thế à? Vả lại, em cũng muốn là Rebecca và Jean-Philippe không nghe bọn mình.
Nàng cởi giày và nhúng chân xuống nước.
— Mmm… Nước mát ghê!
— Emma! Anh xin em! - Pierre thở dài, tay đưa bánh xăng-uých cho nàng.
Nàng rút chân ra khỏi nước và nhìn anh đăm đăm. Anh có vẻ căng thẳng, vài giọt mồ hôi đọng trên màng tang.
— Pierre, nói cho em biết, tên tin tặc đó, cái tên làm ở IICC… Makesh…
— Makresh, - Pierre chỉnh lại.
— Được rồi, Makresh. Anh có chắc chắn là y biết tất cả những gì xảy ra chỗ mấy người đồng nghiệp cũ của y không? Ta có thể nào báo cho họ biết mà y không biết không?
Pierre vừa cắn bánh, vừa giải thích bằng cách nào anh đã phát hiện ra sự thông đồng giữa bọn tin tặc ngay trong lòng cơ quan IICC.
— Em hãy đi xem trên máy tính những gì bọn nó kể với nhau, và em sẽ hiểu! Chúng biết kịp thời hết. Chúng đi bước trước hết. Kể cả những toan tính ứng phó của Controlware! Kể cả những cuộc truy lùng của các đội đặc nhiệm tin học Mỹ, Pháp hay Đức. Em biết đấy, anh bây giờ tin chắc rằng Puttman chẳng dính dáng gì đến vụ này. Controlware là một trong những mục tiêu ưa thích của chúng.
— Vậy mà em cứ như đánh cuộc…
— Và em hẳn sẽ thua đấy. Em phán đoán người ta quá lẹ.
Giọng Pierre có chứa một chút gì tự trách. Bất công. Vài giờ trước, anh cũng đã nghi ngờ Puttman.
— Vậy thì ta có thể báo cho Controlware chứ? - Emma nói tiếp. - Họ đâu có thông đồng với bọn tin tặc.
— Thực vậy. Trừ việc bọn tin tặc biết chính xác chuyện gì xảy ta, từng phút một, trong lãnh địa của Puttman đó.
Emma nghiêng người về phía trước và để bàn tay trượt trên mặt nước. Một con sóng nhỏ do nàng gây ra làm rung động mặt hồ bơi. Những chùm sợi quang học phát ra những tia sáng màu xanh ngọc bích là là mặt nước, một hệ thống chiếu sáng chắc là được dự kiến để đáp ứng với âm nhạc phát ra từ bốn cái loa đặt dưới nước. Pierre đã thấy chúng khi đến đây, trên thành hồ bơi.
Mắt nhìn chăm chăm mặt nước, anh ăn ngấu nghiến miếng bánh, lấy làm ngạc nhiên sao thấy ngon miệng quá. Anh nhận ra là mình đã không bỏ bụng cái gì từ sáng đến giờ.
— Anh phát hiện ra chuyện khác nữa, - anh nói giữa hai miếng ăn. - Tổ chức cũng quan tâm đến các thí nghiệm di truyền học. Chúng đã nắm lấy quyền điều khiển ở Alzacorp và ở ArtaGene.
— ArtaGene, ngân hàng chứa dữ liệu di truyền ở Singapore à?
— Bộ có cái ngân hàng nào khác như thế sao?
— Cả hàng chục cái.
— Anh cảm thấy thế. Anh không biết chúng muốn làm gì với mấy thứ này, nhưng chắc chắn là nguy hiểm lắm, khi đáo hạn.
Emma đặt bàn tay lên cánh tay Pierre.
— Vào giai đoạn này, thật là vô ích nếu cứ khổ sở vắt óc để cố hình dung ra những ý định của bọn tin tặc, không phải thế sao? Vấn đề duy nhất là: làm sao ngăn chặn chúng đây?
Nàng để trôi qua một phút im lặng.
— Một cách cụ thể, anh sẽ làm gì? - Emma tiếp.
Giọng nàng vang vang trong gian phòng trống trải. Pierre nhìn đáy hồ bơi, nơi có những hàng kẻ trắng và xanh lá cây xen kẽ nhau, những sợi khổ giống y chang những cái phủ trên các bức tường gian phòng. Dan không để cho cái gì là tình cờ cả, như thường lệ.
— Anh lúc nào cũng có thể tự mình ngăn cản những cuộc tấn công, - anh vừa nói vừa phủi vụn bánh xăng-uých dính lên quần jean. - Ví dụ như ngăn chặn cuộc tấn công sắp tới, ngày 24 này, bằng cách báo trước cho xí nghiệp liên quan và bằng cách đóng lại cái backdoor của họ.
— Nhưng bọn tin tặc sẽ mở nó lại mà!
— Không chắc đâu. Người ta không thể mở lại một cách dễ dàng như thế một khi nó đã bị đóng lại.
— Cứ cho là vậy đi. Rồi sau đó thì sao? Anh sẽ đóng lại tất cả những backdoor, từng cái một, suốt ngày suốt đêm sao? “Đây là Pierre. Hot Line Controlware[10], sẵn sàng phục vụ quý thân chủ, thưa ông cần tôi giúp gì đây?”
Emma nhại giọng của một anh chuyên viên tin học châu Á, thuộc đám người mà các công ty tin học thuê làm, ở tít đầu kia thế giới, để trả lời cho khách hàng đã làm “chết đứng” máy tính của mình.
Pierre có vẻ tươi tỉnh ra.
— Xin chào bà, Kim sẵn sàng phục vụ! - Anh nhại cùng một giọng. - Thưa bà, bà có kiểm tra xem máy tính có nối vào ổ điện không?
Anh nhanh chóng nói tiếp, giọng trầm lại lần này:
— Nếu anh muốn đóng lại tất cả những backdoor từng cái một, đó là không phải chuyện anh tiêu tốn hết giờ giấc ngủ nghê của mình cho việc này… Vấn đề nằm ở chỗ, chỉ mới can thiệp lần đầu là bọn tin tặc có thể nhận dạng anh ngay. Và ngăn chặn anh. Hơn nữa, ngay cả trong trường hợp chúng không tìm ra anh thì chúng vẫn biết là anh hiện hữu. Vậy là chúng sẽ thay đổi chiến thuật hay địa chỉ trong bộ nhớ. Trong cuộc chơi mèo vờn chuột, chúng sẽ mạnh hơn anh là cái chắc.
— Chờ đã! Và nếu hàng chục người can thiệp cùng một lúc, từ hàng chục chỗ khác nhau thì sao? Đây không phải là giải pháp à?
— Đó là một ý kiến. Nói đúng hơn, một ý kiến tạm thời.
— Nhưng ta vẫn có thể báo cho nhà chức trách biết chứ? Chính phủ Pháp chẳng hạn? Nếu mình kể cho họ mọi chuyện, kể cả những mối nghi ngờ của mình đối với IICC? Chắc chắn là họ có những giải pháp dự phòng!
— Có lẽ thế.
— Em quen biết cô chánh văn phòng bộ trưởng Tài chánh Pháp[11]… Valérie Perrier. Cô ấy có đến Arromanches. Em ăn tối với cô ấy thứ tư vừa qua. Em sẽ gọi cô ấy ngay và cô ấy có thể…
— Em tin tưởng cô ấy à?
— Tin như tin chính em vậy.
Pierre cười thầm. Anh thấy lại hình ảnh bà chủ tịch-tổng giám đốc, người quyết định, tung ra các câu hỏi mà không chờ trả lời, không thể ngồi yên được ba phút mà không hành động. Emma đã rút ra cái điện thoại di động nằm sâu trong túi nàng. Tuy vậy, nàng tỏ ra lưỡng lự một lát trước khi nhấn phím.
— Em còn chờ gì nữa? - Pierre ngạc nhiên. - Gọi đi, nếu em biết rõ cô ấy lắm!
Nhưng người đàn bà trẻ không cử động. Mắt nhìn chằm chằm cái di động, các ngón tay co quắp, nàng suy nghĩ.
— Em có ý này hay hơn, - bất ngờ nàng buột miệng, tay đặt điện thoại lên trên bờ hồ bơi.
Nàng quay về phía Pierre, anh vẫn nhìn nàng không rời mắt. Ánh nhìn của Pierre, sau cặp kính, làm nàng thấy chóng mặt.
— Anh còn nhớ trên PC nhỏ của Dan có cái gì không? - Nàng vừa nói, vừa quay điện thoại trên đầu các ngón tay.
Anh ước gì được kéo bàn tay đó về phía mình, vuốt ve nó, hôn nó. Dù có làm văng cái di động xuống nước.
— Cái mà ta đã mở với mật mã cảm xúc phải không? - Anh trả lời ngắn gọn.
— Chính xác.
— Bức thư đó?
— Không phải, ở bên cạnh bức thư đó, trên màn hình. Có một tập tin mang tên Sự bảo hộ xã hội phổ cập, thấy được nó ngay trước mắt.
— Ơ… có lẽ thế, anh do dự.
Bản văn của tập tin tóm tắt một ý tưởng mà Dan thường nói với Emma. Nhà sáng lập Controlware và Quỹ Barett muốn kiến tạo một chế độ bảo hiểm y tế cho tất cả cư dân thế giới.
— Nói cho gọn, một loại “Sécu”[12] toàn cầu phải không? - Pierre tóm tắt sau khi nghe Emma nói lại một cách chi tiết nội dung bức thư.
— Đúng thế! Nó hẳn tạo cơ hội cứu vớt hằng triệu mạng sống.
— Và nó sẽ được tài trợ bằng cách nào?
— Dan muốn tạo ra một loại thuế GTGT[13], rất thấp, 1% chẳng hạn, nhưng trích ra từ mọi sự liên lạc. Thật hay ảo, tất cả. Vé máy bay, sự trao đổi dữ liệu, việc mua bán điện thoại hay máy tính… Và việc này được làm trong tất cả các nước phát triển, dựa trên một mức nào đó của tổng sản phẩm nội địa tính theo đầu người. Anh thử hình dung số lượng tiền lớn như trời cho thế này?
Nàng vung tay nhiều lần để nhấn mạnh những lời lẽ của mình, giống như đang ở diễn đàn WAC vậy. Pierre đồng ý.
— Được rồi!
— Và số tiền này sẽ được cung cấp cho bất cứ nơi nào mà dân cư không có bảo hộ xã hội… Dan muốn đặt tên thuế này là TCA:[14] thuế liên lạc gia tăng.
— A, đây thì em làm anh ngạc nhiên! - Pierre chế giễu. - Ông vua của chủ nghĩa tư bản lại đi đấu tranh cho thuế!
— Đâu phải cho bất cứ cái thuế nào, Pierre ơi, - Emma cãi. - Trước hết, về phương diện kỹ thuật, đó là loại thuế lý tưởng: tỉ suất thuế rất thấp, sự phân bổ thuế rất rộng. Nhiều người trả thuế rất ít vào mỗi lần: đó là một hệ thống tốt nhất phải không? Hơn nữa, thuế này thì do người dân, tức người tiêu thụ, gánh chịu, không đè nặng lên doanh nghiệp như thuế GTGT.
— Và em không thấy lạ lùng là Barett lại lấy cảm hứng từ khái niệm – Sécu - dù sao cũng là một khái niệm, từ khởi thủy do người Pháp phát kiến ra, hay sao? Và không thấy nó thực sự không phải là một mô hình hiệu quả hay sao?
— Đúng thế, nhưng với Dan nó hẳn là hiệu quả, tin em đi!
Pierre nhíu mày.
— Tại sao chứ?
— Các nhóm nhân viên của Dan sẽ quản lý những số tiền thu được trong khuôn khổ một Tổ chức Bảo hiểm Xã hội toàn cầu. Giống y chang như họ quản lý quỹ từ thiện của anh ấy ngày hôm nay. Với những mục tiêu có con số cụ thể, một phương pháp chặt chẽ, những báo cáo không khiếm khuyết.
Emma vẫn có câu trả lời cho mọi chuyện. Pierre vẫn mỉa mai:
— Anh hiểu rồi. Phương pháp Barett, có bằng chứng cầu tòa, và áp dụng trong lãnh vực nhân đạo. Ông thần kinh doanh, cứu tinh thế giới.
Emma bỏ qua lời chế giễu chua cay. Vào lúc nàng đọc bức thư Dan trên máy PC của chàng thì lời hứa mà nàng đã nói với chính mình trên bãi biển Arromanches xuất hiện lại trong trí nhớ nàng. Làm Dan sống mãi. Tiếp tục sự nghiệp từ thiện của Dan. Bây giờ, hay không bao giờ cả. Không có cơ may thứ hai đâu.
Đôi mắt nàng lấp lánh trong ánh sáng mờ dịu ở hồ bơi.
— Trên thế giới có biết bao nhiêu người chết vì bệnh tật mà đáng lẽ có thể tránh được, - nàng nói tiếp, - đơn giản chỉ vì họ đã không thể mua thuốc tiêm chủng đúng hay thuốc men đúng!
Giọng nói nàng chậm lại, điềm tĩnh, nhẹ nhàng hơn. Pierre cảm thấy nỗi xúc động, có thật, mà nàng biểu lộ ra. Anh cưỡng lại ý muốn đến gần nàng.
— Anh đoán là Barett đã tính ra số tiền cần có để chuẩn bị một dự án như thế? - Anh hỏi thử.
— Em nghĩ là anh ấy muốn bảo hiểm cho một tỉ người. Ba mươi đô-la cho mỗi người thì anh cần ba mươi tỉ. Chính anh đề nghị tự bỏ ra hai tỉ. Các người bạn tỉ phú của anh, Steve Edermark và William Cot, cũng bỏ ra mỗi người một tỉ.
— Và ông ta định tìm ra số tiền còn lại bằng cách nào?
— Dan đã cầm lên cây gậy người hành hương! Anh ấy đã liên lạc với ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Cũng như với Chủ tịch Ngân hàng thế giới… Anh ấy đã nói về chuyện này ở Davos[15], trong các phiên họp kín, và với tất cả những nhà lãnh đạo các nước phát triển. Anh ấy cũng có nói vài lời với Chủ tịch Trung Quốc và Thủ tướng Ấn Độ. Anh ấy đã được tiếp đón niềm nở. Những nhân vật quan trọng trên thế giới tuyên bố là sẵn sàng theo bước chân anh. Nhưng đó chỉ là những lời hứa suông, Dan nhận ra nhanh chóng…
Emma kết luận, giọng nghẹn ngào:
— Em nghĩ đó là giấc mơ của Dan. Giấc mơ quý báu nhất của anh ấy. Một ngày nọ, anh biết không, em chợt nhớ lại câu nói, một câu nói của Carnegie, em tin thế, đã ảnh hưởng nhiều đến Dan…
Nàng để vài giây trôi qua rồi đọc rõ ràng từng chữ, giọng bình thản:
“Chết giàu là chết vô phước”.
Nàng hạ giọng, thêm.
— Carnegie cũng nói: “Vải liệm thì không có túi”.
Giọng nàng run run. Lần này, anh đưa tay quàng vai nàng.
Anh hình dung Barett trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, giới thiệu kế hoạch của mình, một dự án nhân đạo lớn nhất trong Lịch sử. Nói ra những chữ đầu tiên, hay cuối cùng, những chữ giản dị, dễ hiểu, nhưng khi hợp lại với nhau chúng tạo thành một điệp khúc, một câu nói biểu tượng, một trong những câu mà cứ được lặp đi lặp lại mãi và sau đó được các sách vở, các DVD, các chương trình tưởng niệm trên TV, loan truyền, và khắc ghi vào trí nhớ con người. “I have a dream.”[16], “Ich bin ein Berliner.”[17], “Paris outragé, Paris martyrisé.”[18], “Un petit pas pour l’homme, un grand pas pour l’humanité.”[19] Barett chắc là sẽ sáng tạo ra một thành ngữ riêng cho mình, một câu nói sẽ tượng trưng mãi mãi cho chiến thắng trước đói nghèo của ông.
Emma gục đầu lên vai Pierre.
— Rồi sao nữa? - Anh hỏi, nhẹ nhàng ẩy nàng ra. - Liên hệ gì với vấn đề chúng ta đây?
Nàng đứng dậy lại.
— Anh không thấy ra à? Những chính phủ thuộc G8 đó! Ta sẽ giao cho họ chìa khóa của backdoor, nhưng để đổi lấy sự bố trí sơ bộ cho “Sécu” toàn cầu.
— Cái gì?
Emma nhấn mạnh.
— Chìa khóa của hệ thống đổi lại lời hứa thực hiện đầy đủ dự án của Dan.
— Em điên quá đi! Khi họ biết là…
Pierre ngưng ngang. Anh đã hiểu ý định của Emma. Chìa khóa backdoor đổi thuế Barett. Sự sửa chữa các máy tính đổi lấy sự tạo lập Bảo hiểm xã hội phổ cập. Mạng sống của những mạng web đổi lấy mạng sống của những con người. Nhưng này, có thể nghĩ ra không? Các chính phủ có thể chấp thuận một sự dọa dẫm để đổi chác như thế không?
Trong khoảnh khắc ngắn ngủi, một ý tưởng điên rồ khác vụt qua đầu anh. Hồi nãy, trong khi làm kiểm kê những hoạt động của Tổ chức, anh để ý là bọn tin tặc đã thực hiện những vụ chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng nhằm cung cấp tài chánh cho các hoạt động thực địa… Nếu chúng có thể làm được việc này thì Pierre ta cũng có thể…
Anh đã mơ màng về chuyện đó trong vài phút. Biển thủ tiền bạc. Cho anh. Cho Emma. Để bỏ đi xa với nàng. Hai người sẽ định cư ở Úc hay ở Patagonie. Sẽ mua một nông trại. Đổi đời. Hai người sẽ bắt đầu lại từ con số không, như thể họ gặp nhau khi hai mươi tuổi.
Vớ vẩn quá! Những ý tưởng kiểu này đôi khi khiến anh nghi ngờ tính chính trực tinh thần của mình. Anh kéo hai đầu gối lên sát ngực và cúi đầu xuống. Người đàn bà đó không phải dành cho anh, anh biết rõ điều này, từ lâu lắm rồi.
Emma lại cầm điện thoại lên và lần này thì bấm số.
— Em gọi cho Valérie Perrier bây giờ đây. Cô ấy sẽ hiểu nhanh thôi. Chính cô đã sắp xếp bước đầu chương trình châu Âu về vi tín dụng trong các nước đang phát triển. Cô biết rõ đề tài đó. Và cô không có nguy cơ thông đồng với bọn tin tặc.
— Cô ấy chịu trả lời vào giờ này sao? - Pierre nói, liếc nhìn đồng hồ đeo tay một cách máy móc, nó chỉ 2 giờ 10.
— Ông bạn ơi, ở mức độ trách nhiệm như thế này, người ta lúc nào cũng để điện thoại ở chế độ mở.
Emma đứng dậy và bắt đầu đi dọc theo hồ bơi, máy di động áp sát tai, chờ phía bên kia bắt máy. Chuông reo nhiều lần rồi cuối cùng chuyển sang bộ phận tin nhắn.
“Đây là Valérie Perrier. Tôi vắng mặt ở Paris ba ngày, nhưng nếu cuộc gọi của ông bà liên quan đến công việc, ông bà có thể để lại tin nhắn và tôi sẽ làm hết sức để gọi lại ông bà ngay khi có thể […]. Hello, this is Valérie Perrier. I’m not in Paris now…”
Emma thấy nóng ruột. Pierre nghe ra tiếng kêu lèo xèo của tin nhắn dành cho người gọi, tính ra là nó kéo dài ít nhất bốn mươi giây.
— Người ta thấy là những người đó không trả tiền điện thoại, anh lẩm bẩm.
“[…] you can leave your message after the tone.”[20]
— Valérie, Emma đây, - người đàn bà Mỹ khởi động. - Mình hy vọng cậu vẫn thường. Việc như thế này: mình biết chuyện gì xảy ra trên mạng. Và bọn mình cần cậu để…
Ngay lúc ấy, một giọng nói vang lên sau lưng khiến nàng giật mình.
Một người đàn ông đứng ở lối vào hồ bơi. Ông ta nói với giọng trầm, điềm tĩnh, bằng cách phát âm rõ ràng từng chữ một:
— Bỏ đi, Emma. Ta đã tìm ra tốt hơn rồi. Chúng ta không cần ai nữa đâu.
❀ ❀ ❀
[1] Kiểu thức ăn Ấn Độ nấu trong lò đất (gọi là tandoor) với lửa than.
[2] Nguyên văn: frigordinateur (do tác giả ghép chữ).
[3] Oeufs brouillés: trộn lòng trắng và lòng đỏ của trứng với nhau trong lúc đang nấu với sữa và bơ trong chảo.
[4] Từ La-tinh, dùng trong kinh tế học, có nghĩa là sự phân tích những sự kiện kinh tế được thực hiện sau khi chúng xảy ra.
[5] Hay viết đầy đủ là “show business”, chỉ công việc kinh doanh các trò giải trí, nhất là ca nhạc, sân khấu, điện ảnh, TV…
[6] Phim điện ảnh Mỹ, rất ăn khách trên thế giới khi khởi chiếu năm 2004, có tên là “The day after tomorrow”, nói về những thảm họa xảy ra trên trái đất do sự biến đổi khí hậu gây ra.
[7] Nằm trong thành cổ Acropole, nay thuộc Athènes, thủ đô Hy Lạp. Được xây vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên.
[8] La Cène: Bữa ăn cuối cùng của Chúa Giê- su với các tông đồ trước khi đi chịu nạn vào ngày hôm sau.
[9] Theo thần thoại Hy Lạp, Prométhée, một nhân vật thuộc nòi Titan (người khổng lồ), là người khởi xướng nền văn minh đầu tiên của nhân loại. Ông đã đánh cắp ngọn lửa thiêng của các thần linh và chuyển giao nó cho con người. Zeus (Thần tối cao), để trừng phạt, đã buộc ông vào dãy núi Caucase, nơi đó một con chim đại bàng gặm nhấm lá gan ông, nhưng lá gan này cứ không ngừng tái sinh. Sau ông được bán thần Héraclès (người La Mã gọi là Hercule) giải thoát.
[10] Tiếng Anh, có nghĩa: Đường dây nóng của hãng Controlware.
[11] Ở đầu chương 4, tác giả lại viết “bộ trưởng Bộ Công nghiệp”
[12] Tên gọi quen miệng ở Pháp của “Sécurité sociale” (Bảo hiểm xã hội).
[13] Trong nguyên tác, được viết tắt là TVA (Taxe à la Valeur Ajoutée).
[14] Viết tắt của “Taxe à la Communication Ajoutée”.
[15] Một làng miền núi ở Thụy Sĩ, nổi tiếng nhờ “Diễn đàn kinh tế toàn cầu” (The World Economic Forum) họp ở đó hàng năm, với sự tham dự của nhiều nguyên thủ quốc gia, các tổ chức kinh tế, tài chánh quốc tế lớn và đại diện các công ty thuộc hàng lớn nhất thế giới.
[16] “Tôi có một giấc mơ”. Câu nói nổi tiếng của Martin Luther King (1929-68, Giải Nobel Hòa bình 1964), một mục sư người Mỹ da đen tranh đấu cho bình đẳng chủng tộc ở Mỹ. Bị ám sát năm 1968.
[17] Nguyên văn tiếng Đức, có nghĩa “Tôi là người Berlin” do tổng thống Mỹ John F. Kennedy (191763) phát biểu ở Tây Bá Linh vào tháng 6-1963, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Bị ám sát năm 1963.
[18] Câu đầy đủ hơn là: “Paris outragé! Paris martyrisé! Mais Paris libéré!” (Paris bị lăng nhục! Paris bị ngược đãi! Nhưng Paris giải phóng!) do tướng De Gaulle (1890-1970, tổng thống Pháp,1959-69) phát biểu vào ngày Paris được hoàn toàn giải phóng, 25-8-1944.
[19] Câu nói gốc tiếng Anh là: “One small step for (a) man, one giant leap for mankind” (Một bước nhỏ cho (một) con người, một bước nhảy vọt khổng lồ cho nhân loại) của nhà phi hành vũ trụ Mỹ, Neil Amstrong (sinh năm 1930) khi đặt chân đầu tiên lên mặt trăng ngày 20-7-1969. Người Mỹ vẫn tranh cãi xem Amstrong đã thực sự nói “… for man,” hay “… for a man” khi đó.
[20] Ông bà có thể để lại tin nhắn sau khi nghe tiếng bíp.