Ngày trước…
Khi trở về từ Aixen-Provence anh tỏ ra quyết tâm hơn bao giờ hết. Anh chắc chắn là, bằng cách xem xét những ghi chú của Costello và đi từ từ từng bước một dựa theo tiến độ của ông ấy, anh sẽ đạt tới những kết luận giống như ông. Và với công nghệ mà anh có trong tay – những hình chụp bằng vệ tinh, chính xác đến từng centimét – thì trước sau gì anh cũng có thể chứng minh được những phép tính toán của ông ấy. Anh sẽ tìm ra cái công thức thần linh được ghi khắc trong những ngôi vườn và anh sẽ minh chứng nó. Anh cảm thấy mình đang ở một trong những giai đoạn – em biết chúng rõ hơn bất cứ ai – mà không có gì có thể cưỡng lại anh.
Than ôi, sai lầm quá rồi. Tất cả những gì mà anh đã chứng minh được, bằng cách đặt chồng lên nhau những tấm ảnh Versailles nhìn từ trên trời với những bình đồ của nhà tạo cảnh này, đó là những góc đúng y như những góc do ông ấy tính toán ra, vậy thì Le Nôtre đã thực sự sử dụng con số vàng. Thế nhưng, chẳng có dấu vết gì nhỏ nhặt nhất liên quan đến cái định lý thần linh đó cả.
Anh cảm thấy mình thiếu một đường dây hướng dẫn. Tất cả những công trình của Costello, tất cả những bình luận về các pho tượng hay những khóm cây, đối với anh đều có vẻ tạp nham, vô nghĩa. Anh không nhận thấy lô-gích tổng quát của chúng, và thay vì gọi điện cho em để đối chất quan điểm của anh qua một trong những cuộc đấu bóng bàn trí thức mà chúng mình yêu thích biết bao, anh lại một mình tự làm đau đầu với những chất vấn vô bổ. Ví dụ như, nghĩ gì trước sự phân tích của Costello về những thể hiện điêu khắc Jupiter khác nhau trong các khu vườn? Hay nghĩ gì trước nhận xét về sự bố trí các pho tượng thần linh dọc theo Tapis vert? Và nên giữ lại cái gì từ câu chuyện bức tượng của Bernin[1] mà Costello đã kể lại trên một tờ giấy học trò trong khi nó chẳng dính líu gì với cái phần công viên mà bọn mình quan tâm?
Tuy thế, giai thoại này có tính cách soi sáng: vào năm 1669, đức vua yêu cầu Bernini, nhà điêu khắc lớn người Ý, tạc tượng mình ngồi trên ngựa. Lúc đó vua ba mươi mốt tuổi, đẹp trai, dáng người thon thả, đầu óc sáng suốt, thân thể khỏe mạnh. Bernin vẽ vài bản phác thảo rồi về nước. Và bức tượng bằng đồng chỉ được giao đến Versailles vào năm 1683, tức là mười bốn năm sau. Gây sửng sốt là ở chỗ đó! Khi khám phá bức tượng cưỡi ngựa của vị thần trẻ, nhà vua giờ đây sắp sửa ngũ tuần không nhận ra mình trên đó. Tất nhiên, các chi tiết đều phù hợp với chàng kỵ mã: tóc dài và quăn đứng yên ở vị trí thẳng đứng với hai má, trong khi chàng rẽ gió trên con ngựa chiến của mình… Thế nhưng, nhìn chàng thì không thể chịu nổi: nhân vật thì đẹp và nhất là rạng rỡ tuổi trẻ, trong khi nhà vua, trở nên “nền nếp” từ khi kết hôn với Phu nhân de Maintenon, đã bị thời gian lăng nhục thậm tệ! Hình dung thử coi: ngài đã bị rụng nhiều răng, bị bệnh thối mồm, lại đau bao tử…
Vậy thì pho tượng phải “biến”. Louis XIV tuyên bố là nó “xấu”. Ra lệnh phá hủy nó. Các quân sư tìm cách thuyết phục nhà vua là nếu giữ nó lại thì khôn khéo hơn, dù phải sửa đổi nó để làm mất đi mọi liên quan với nhà vua. Vì thế, nhà điêu khắc Pháp Girardon đặt một mũ cát kỳ cục lên đầu chàng kỵ mã và viền bằng những ngọn lửa xung quanh các chân con ngựa nổi loạn. Kết quả: người ta đạt được một hình nổi của “người anh hùng La Mã Marcus Curtius đang lao xuống vực thẳm”. Thế nhưng, hình ảnh tuổi trẻ này, tuy đã ngụy trang, vẫn là một vết thương đối với cái tôi to lớn của Louis XIV: nhà vua ra lệnh đày con ngựa và chàng kỵ mã xuống tận khu đất cực Nam của công viên, phía sau cái bể cạn des Suisses; pho tượng vẫn còn ở đấy… (Bọn mình đã dùng bữa ngoài trời ngay dưới chân nó trong chuyến du ngoạn châu Âu đầu tiên, em còn nhớ không?)
Costello đã tận tụy chép lại câu chuyện pho tượng này trên giấy kẻ ô của mình và gạch dưới câu viết liên quan đến chiếc mũ đội đầu của nhà vua dửng dưng trước gió. Tại sao?
Sự hiểu biết của anh về tính biểu tượng ở Versailles và thần thoại chắc chắn là không đủ để hiểu. Anh đã theo khuynh hướng tự nhiên của mình bằng cách tìm kiếm trước tiên ở phía các con số đo đạc và toán học; nhưng chiều kích tranh tượng và triết lý của các ngôi vườn thì có lẽ quan trọng hơn. Cho nên anh đã cho số hóa tất cả các tác phẩm và các luận án về quá trình hình thành công viên Versailles. Có hơn cả trăm cuốn, bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, nếu ta chỉ lấy những cuốn đứng đắn nhất thôi. Người Pháp gây khó cho anh thật. Không có một ấn bản số hóa nào có sẵn trên Google. Anh phải gửi một sinh viên sang Paris, đến Thư viện quốc gia Pháp tìm cho anh những tác phẩm đó rồi chụp lại bằng cách quét hình. Nhưng cuối cùng rồi anh cũng xong. Trong suốt hai tuần lễ anh thức đêm để đọc những bài viết khó hiểu hay ngông nghênh. Mỗi tác giả nhấn mạnh quá lâu trên đề tài sở trường của mình, giải thích ý định của mình bằng cách chọn và phân tích những pho tượng nào phù hợp nhất với luận điểm của mình. Và ở Versailles thì có biết bao nhiêu là tượng! Hơn ba trăm bức, nếu tính cả tượng bán thân và bình, vạc. Mỗi người tha hồ tìm thấy ở đấy những gì tiện lợi cho mình để chú giải. Tất cả thứ “versaillologie”[2] này thì bị ô nhiễm bởi những câu văn khó hiểu, đầy những từ chuyên môn khiến phần mềm dịch thuật của anh nóng phát nổ. Đọc mà đừng xỉu nghe: “Sự hiện diện khắp chốn và tính đặc thù nhiếp ảnh của sự khoa trương thị giác ngày nay đã tạo nên một sự ứ đọng hình ảnh, sự ứ đọng này là một thế phẩm hoàn toàn phải có cho ngôi vườn như một kinh nghiệm không gian và thời gian.”[3]
Amelia, dù đã quen với chuyện anh nhiều khi làm việc hết sức mình ở Controlware, cuối cùng cũng phát bực.
— Dan, nghỉ đi chứ! Anh không ngủ nữa này! Anh không sống nữa này! Và anh không đọc truyện cho con từ một tuần nay này!
Lý lẽ cuối này, đối với nàng, thể hiện cú đánh lừa anh nặng nề nhất trong hôn nhân. Trung bình cứ cách một ngày anh mới có mặt ở trụ sở công ty ở Boston, và nếu ở đó thì theo thỏa thuận, anh về nhà để đọc truyện cho các con, dù phải quay lại văn phòng sau đó. Cha anh đã mua cho chúng một cuốn sách điện tử trong đó Amelia đã lưu giữ những truyện cổ điển thân thiết của Walt Disney như Bạch Tuyết, Người đẹp ngủ trong rừng, Quyển sách của rừng thẳm… Đó là cách riêng của Amelia để chống lại sự chế ngự độc đoán của các trò chơi video. Về phần mình, anh cũng tự tải xuống Harry Potter và Chiến tranh giữa các vì sao, trước khi kết nối cuốn sách điện tử đó với Internet. Như vậy thì anh mới “lướt web” một cách kín đáo với tụi nhỏ.
Nhưng vợ anh có lý. Anh đã hứa mà. Cho nên khi buổi tối đến, anh về nhà kể truyện cho con nghe. Một chương rút ra từ cuốn Métamorphoses của Ovide[4]. Hay huyền thoại của… Latone. Em biết câu chuyện này chứ, em đã học môn “truyện xưa, tích cũ” ở Pháp mà? Anh không ngừng tự hỏi tại sao đài nước Latone lại hùng vĩ như thế, tại sao nó chiếm một vị trí quan trọng trong công viên? Vài tác giả, trước anh, cũng đã tỏ ra tức tối về việc này: “Đáng lẽ đây chính là chỗ dành cho Jupiter chứ, trên bệ đá cẩm thạch này. Vậy mà chỉ có Latone, một trong những bà vợ của ông ta.” Hơn nữa, lại là một con người trần gian. Để cố gắng hiểu, anh đã đọc tất cả về nàng.
— Ngày xửa ngày xưa… Latone, - anh bắt đầu. - Người Hy Lạp gọi là Léto. Một trong các người vợ không hợp pháp của Jupiter. Được ông yêu quý nhất.
— Không hợp pháp có nghĩa là sao? - Con gái anh hỏi ngay tức khắc.
— Có phải vì là thần thánh nên ông ta có quyền có nhiều vợ phải không ba? - Kevin thêm thắt.
Không ổn rồi đây. Anh bỏ qua các câu hỏi của hai đứa con.
— Bà Latone tội nghiệp đó lang thang vất vưởng trên trái đất vì bị bà Junon, vợ chính thức của Jupiter, bắt đi đày với hai đứa con là Apollon và Diane.
— Một đứa con trai và một đứa con gái, như tụi con đây!
— Đúng, chính xác giống như hai con đó. Màn đêm buông xuống bất ngờ khi ba mẹ con đang ở gần ngôi làng Lycie.
— Lycie ở đâu vậy?
— Ba không biết, Kevin à. Ngày mai ta sẽ tìm trên Encarta nghe. Dù sao đi nữa, bà Latone xin dân làng cho ăn và cho ngủ nhờ qua đêm. Nhưng đám dân quê giả vờ quá bận bịu để không giúp đỡ bà mẹ đang khốn cùng. Tệ hơn nữa, ngay lúc bà uống nước trong một con sông, họ lại dùng các cành cây khuấy động cả dòng nước để làm cái bình nổi lên và ngăn cản bà cho các con nhỏ giải khát.
— Mấy người dân quê này thật không chơi đẹp chút nào!
— Con muốn nói, họ tàn nhẫn quá phải không?
Anh làm Mary yên lòng.
— Nhưng đừng lo, bé con của ba. Bà Latone nổi giận, bà yêu cầu Jupiter trừng phạt chúng.
— Tại sao bà không tự mình trừng phạt chúng? - Kevin cắt ngang, tỏ vẻ nghi ngờ. - Bà là một nữ thần, không phải thế à? Bà có phép màu mà!
— Không đúng thế đâu! Ta không biết rõ đó là thần thánh hay người trần. Mọi người không đồng ý về chuyện này đó… Điều duy nhất mà người ta chắc chắn: Léto là con gái của hai người khổng lồ.
— Được, rồi sao nữa? - Mary tỏ ra sốt ruột. - Ông ta làm gì, vị thần của những vị thần, khi nghe lời kêu gọi của bà ấy?
— Nói đi ba! - Kevin thêm vào.
— Bình tĩnh mà nghe này: ông biến đám dân quê đó thành cóc, thành ếch!
— Đáng đời chúng! - Kevin kêu lên. - Nhưng tại sao không thành khủng long?
— Hay thành con nhện? - Mary đề nghị.
— Bởi vì cóc là loài vật mù lòa, không biết đến ánh sáng, còn ếch tượng trưng cho sự dốt nát, không có đầu óc! Trong bể nước Latone, những nhà dàn dựng ở Versailles cũng đã thêm một con vật không có trong cuốn Métamorphoses: con rùa, biểu tượng cho sự thu mình, co cụm lại.
Chuyện mà anh không thể kể cho các con, có lẽ các nhà luận bình về tư tưởng nhà vua thì quan tâm đến nó hơn, là sự so sánh giữa nỗi cay đắng của bà Latone và của bà hoàng hậu Anne d’Autriche, mẹ của Louis XIV, bị La Fronde đuổi khỏi điện Louvre vào tháng giêng năm 1649 và đành phải chạy tị nạn đến lâu đài Saint-Germain với con cái. Một giai đoạn “gây chấn thương tâm hồn nặng nề”, như ông bác sĩ tâm lý của Amelia nói, đối với cậu bé Louis XIV khi đó mới mười một tuổi. Tóm lại, em thấy sự song song chứ: bên này là Anne d’Autriche và hai đứa con trai, Louis XIV và “Monsieur”[5] tương lai. Bên kia là Latone với hai đứa con song sinh, Apollon và Diane. Sự tượng trưng thì không được trọn vẹn nhưng ta thấy ý nghĩa của nó.
Ngược lại, một chi tiết làm anh băn khoăn. Latone trong bể nước thì có cái nhìn xéo và cánh tay mặt dang thẳng ngang. Cả hai không chỉ về cùng hướng: đôi mắt chăm chú nhìn cỗ xe Apollon ở đằng xa trong khi bàn tay chỉ một cách mơ hồ về phía bể nước Lézards Bắc. Lại thêm một tư thế lạ lùng nữa, bởi vì bà vợ này của Jupiter được xem như, nếu ta muốn trung thành với kho tàng thần thoại, đang cầu khẩn ông chồng mình, vậy thì bà phải đưa mắt nhìn lên trời cao mới hợp chứ. Về nguyên tắc, mọi thứ ở Versailles đều có ý nghĩa. Huống chi đây lại là trong cái rốn của công viên. Nhà vua không bao giờ để cho người tạo cảnh vườn hay một kỹ sư thực hiện một bức tượng, một khóm cây, một lối đi nếu anh ta không đủ sức trả lời câu hỏi: “tại sao như thế?”. Tất cả sự lựa chọn phải được biện minh. Chuyên gia nào tắc tịt thì bị đuổi việc.
Cho nên tư thế của Latone thì không thể giải thích được. Khi pho tượng được dựng lên, và cho tới năm 1686, dĩ nhiên, nó quay mặt về hướng lâu đài, nhưng cái hướng này thì chẳng có ý nghĩa gì hơn. Vì vào thời kỳ đó, công trình điêu khắc này không được đặt trên cao: thị trường của bà mẹ Apollon thì bị giới hạn ở những bậc cấp và ở mái lâu đài. Vậy thì cái nhìn và cánh tay của bà chẳng chỉ ra cái gì hết.
Một lần nữa, anh đi vào ngõ cụt.
Và chính là em, cô bạn lâu năm nhất của anh, chính em đã đưa anh ra khỏi chỗ bí vào lúc anh sắp sửa buông xuôi. Có bao nhiêu lần rồi từ khi bọn mình quen nhau em đã giữ vai trò quyết định như thế? Vai trò của người hướng dẫn tập luyện, của tấm gương, của người gây ra xúc tác? Mỗi lần như thế, em không những hiểu các vấn đề của anh mà còn nhận thức chúng với cái nhìn từ bên ngoài, dưới một góc độ khác. Và em buộc anh phải xét lại những lập luận xác đáng nhất của mình.
Anh còn nghe tiếng em trong điện thoại buổi tối đó, hồn nhiên và quả quyết, bất chấp tất cả. Rất xa những lo nghĩ của anh hồi đó.
— Dan, tụi mình đi Marquises vào dịp lễ Phục sinh như đã dự định nhé?
Trong ngày hôm đó ở văn phòng đã xảy ra nhiều chuyện quá mức. Một tin thất thiệt (giám đốc nghiên cứu của hãng từ chức) đã gây ra ồn ào lộn xộn xung quanh cổ phiếu của ta ở Sàn giao dịch chứng khoán. Khi em gọi điện cho anh, lúc 19 giờ, để nói về chuyến đi cuối tuần cho năm 2004 của bọn mình, anh đã kiệt sức lắm rồi.
— Emma, anh có một ý khác, anh nói liều.
— Thật à?
Anh cảm thấy em bị thất vọng. Nguội lạnh hẳn. Quần đảo Marquises là dự định của em mà. Em đã mơ đến đó từ lâu – một phần là do Gauguin[6], và phần nhiều là do anh chàng ca sĩ người Bỉ đã qua đời trong những năm 1970 mà em tôn sùng. Anh nghĩ là Jacques Brel[7]. Vả lại, cuộc hẹn của bọn mình thường được lên kế hoạch từ nhiều tháng trước. Để đổi hướng thì phải biện minh bằng một lý do hệ trọng.
— Em không thấy đi Versailles thì hấp dẫn hơn sao? Anh có thể giữ trước cho em một dãy phòng đẹp nhất ở Trianon Palace.
Lý lẽ đưa ra quá yếu, anh công nhận đó. Tại sao lại là Versailles mà bọn mình, cả em lẫn anh, đều biết rồi?! Tại sao là nước Pháp, nơi thời tiết có thể còn lạnh vào tháng tư? Và dãy phòng ở Trianon Palace thì “sang” lắm sao, đối với một người như em, kẻ sống cả đời trong những khách sạn xa hoa?! Em nói về viễn cảnh một cuối tuần ở đảo vắng, còn anh thì không hiểu tâm lý gì cả, một con số không.
Để gỡ gạc, anh đành kể hết cho em câu chuyện này. Những ngôi vườn của nhà vua, Stockholm, Aix, cái công thức thần linh. Và ngõ cụt mà anh cuối cùng đâm đầu vào. Lạ lùng thay, anh cảm thấy nhẹ nhõm cả người khi trút hết mấy chuyện này ra với em. Vả lại, anh hy vọng là em thấu hiểu.
— Rồi sao nữa? - em đã đáp trả với cách nói nhanh quen thuộc mà anh chẳng ưa chút nào. - Bọn mình sẽ hưởng một cuối tuần ngồi bên bờ miệng bể nước Apollon thấp thỏm chờ chàng ta quay đầu lại phải không? Thôi mà Dan! Mọi thứ về Versailles đã được viết ra hết rồi. Anh hy vọng còn tìm ra cái gì ở đó?
— Anh muốn chỉ cho em xem tất cả các bể nước. Em sẽ có cái nhìn mới mẻ. Với độ lùi cần thiết. Anh thì chẳng còn thấy gì nữa hết rồi. Có lẽ em sẽ nảy ra ý tưởng nào đó.
— Dan này, đó không phải là một loại vấn đề mà ta giải quyết với độ lùi. Ngược lại là đằng khác.
Lại cái giọng nói đanh thép.
— Em hãy đi vì anh nghe…
Giọng điệu tình cảm này, anh cảm thấy nó đã làm em lưỡng lự. Em thích người ta cư xử với em bằng tình cảm ngay cả khi em cứ mặc giáp sắt quanh người. Em vẫn còn tỏ ra tự vệ, để giữ nguyên tắc.
— Tuy nhiên vẫn có cái gì đó em không hiểu. Tại sao anh không tìm cái bình đồ nguyên gốc của Le Nôtre? Đó là cách duy nhất để khỏi bận tâm nữa!
— Emma, đừng ngốc thế! Chính từ điểm này mà anh đã bắt đầu mà! Nhưng mọi quản đốc bảo tàng đều biết: bản gốc không có.
— Không có, hay không còn nữa?
Anh tỏ ra do dự một chút.
— Không có gì chỉ ra là nó đã thực sự hiện hữu. Tới giờ này người ta vẫn không biết Le Nôtre có một ý niệm tổng quát về những ngôi vườn vào năm 1662 khi vua Louis XIV giao việc thực hiện hay không!
— Nhưng tại sao Le Nôtre lại không có chứ?
— Thôi mà Emma! Em tưởng em giỏi hơn mấy sử gia sao? Tấm bình đồ xưa nhất mà người ta biết là có từ năm 1664. Chính một nhà nghiên cứu trẻ người Pháp, một anh chàng Pierre Bonnaure nào đó, đã tìm ra nó, mới đây thôi, ở Thư viện quốc gia Pháp. Nó được quy là của một người tên là François de la Pointe mặc dù nó là của Le Nôtre. Anh đã nhờ người ta quét hình nó và gửi đến anh một bản sao.
— Rồi sao nữa?
— Sao nữa à? Đó chỉ là một ý định, nghĩa là một đồ án chưa được thực hiện trọn vẹn, chứ không phải đơn thuần là một bản vẽ, nói cách khác, đó là một bản ghi chép tình trạng những ngôi vườn đang hình thành. Cho nên thấy cũng thú vị. Nhưng không may là nó khá sơ sài: những pho tượng không được thể hiện ở đó, và vì những hình vẽ không được ghi chú thích bên dưới, trái ngược với các bản vẽ khác ít xưa hơn, người ta không biết Le Nôtre hay Le Brun có ý định biến bể nước Thiên Nga trở thành bể nước Apollon hay không… Không, chẳng có gì chỉ ra là nhà tạo cảnh vườn vĩ đại đó đã có một tầm nhìn toàn cục vào năm 1662.
Em chỉ giữ lại một điều từ câu nói dài dòng của anh.
— A, anh thấy không? Đó là một khám phá gần đây! Chỉ mới vài tuần thôi mà! Cho tới khi tìm ra bình đồ xưa quý hiếm đó thì ta tạm bằng lòng với những bình đồ ra đời sau nó, phải vậy không nào? Vậy thì cái gì chứng minh với anh là người ta sẽ không mò ra ngày mai một bản vẽ còn xưa hơn nữa?
Ý tưởng này không phi lý chút nào. Hơn nữa, nhà nghiên cứu đã tìm ra cái bình đồ của năm 1664 còn tin là các bình đồ cùng loại phải hiện hữu đâu đó, được lưu giữ nơi khác. Những bản vẽ mà không ai, tới khi đó, quy cho nhà tạo cảnh vĩ đại của vua Louis XIV. Nhưng anh không tự nhận mình dễ dàng thua cuộc đâu.
— Le Nôtre chắc chắn là không “suy nghĩ” Versailles từ năm 1662 đâu, ông ta nghĩ ra nhiều công trình sáng tạo của mình trong lúc hoạt động – đã đến lúc nói ra điều đó…
— Tại sao anh lại quá chắc chắn về chuyện này?
— Bởi vì việc thi công kéo dài – đối với Le Nôtre – từ năm 1662 đến khi ông về hưu, gần ba mươi năm sau. Giống như nhà vua, ông đã lớn lên trong những ngôi vườn có giới hạn nhưng ông mơ những không gian rộng lớn, ông muốn làm thiên nhiên chuyển động… Cho nên ông không ngừng cải biến các khóm cây, chuyển đổi các lối đi, như thể mọi sự chẳng bao giờ là chung cuộc, ngay cả trong đầu óc ông.
— Nhưng tại sao?
— Tại sao à? Bởi vì ông bao giờ cũng muốn làm đẹp hơn, tốt hơn! Và vì những ý tưởng mới mẻ thường nẩy sinh từ các cuộc thảo luận với nhà vua…
— Tại sao lại như thế?
— Bởi vì nhà vua muốn sự việc không đứng yên tại chỗ, phải tiến triển, chắc thế…
— Và tại sao?
— Nhưng Emma, dẹp mấy cái tại sao này của em đi! Anh biết cái gì mà nói đây hả? Bởi vì nhà vua thay đổi ý kiến xoành xoạch!
— Em xin lỗi. Em muốn nói là nếu người ta tìm ra lại vừa đúng một bình đồ của năm 1664 hay 1665 thì em thấy khó mà tin rằng cái bình đồ của năm 1662 lại không hiện hữu, em tin là người ta sẽ tìm thấy nó một ngày kia! Em không muốn tin rằng Le Nôtre đã không vẽ bình đồ nào hết ngay từ lúc ban đầu khi nhà vua giao cho phụ trách công trình xây dựng: hai hay ba năm làm việc một cách dò dẫm, không chủ định, đối với một nhà tạo cảnh, thì thực là khó tin lắm đó!
Em làm anh bực mình nhưng em có lý. Le Nôtre, dĩ nhiên, đã có giữa những năm 1662 và 1664 một đồ án lớn với tầm nhìn bao quát. Ông ấy, dĩ nhiên, đã hình dung ra một bản vẽ tổng thể vào lúc vua Louis XIV chỉ định ông. Một biểu đồ quy hoạch, cải tạo vùng đất đó. Ông ta không phải loại người bạ đâu làm đấy. Ông sai khiến cả một đạo quân thợ làm vườn, thợ nề và lính tráng. Và ông báo cáo tình hình trực tiếp với chính Thái Dương Vương. Trước mặt một người có quyền ra lệnh như thế, người ta không thể làm việc theo kiểu “tùy cơ ứng biến” được. Đâu phải là chuyện tình cờ là tiếp sau đó, Le Nôtre, trong phần còn lại của đời mình – gần bốn mươi năm đấy! – là người duy nhất thân cận với nhà vua mà không bao giờ bị thất sủng. Một ngày nọ, sau khi đã về hưu – đã quá tuổi bát tuần và tự mình xin nghỉ việc – ông được nhà vua cho phép ngồi cao bằng nhà vua trong một chiếc kiệu để dạo chơi trong công viên. Em có lý. Ân sủng này chỉ có thể giải thích được qua chuyện hai người đã cùng nhau hoàn tất một công trình to lớn, một sự thông đồng đặc biệt đã kết nối họ với nhau, xung quanh một đồ án lớn. Một sự cấu kết bí mật và trọng yếu.
Nhưng em đã làm anh kinh ngạc. Anh tin là anh đã nhận ra phương pháp của mình nơi em. Trước mỗi câu trả lời của đối thủ, ta đặt ra một câu hỏi mới, một tại sao mới. Sáu lần, bảy lần liên tiếp nếu thấy cần, để dồn hắn đến tận cùng.
— Dan này, có bao nhiêu kỹ sư ở Controlware mà anh đã đuổi việc vì họ bỏ qua không kiểm chứng một giả thuyết?
Cuối cùng thì em đã làm anh không tin cả anh. Cái bình đồ nguyên gốc của Le Nôtre, không thể tìm ra được sao? Phải chắc chắn về chuyện này chứ, dứt khoát một lần cho xong. Em còn nện thêm:
— Dan này, nếu có một người độc nhất đủ sức làm rung chuyển trái đất để tìm cho ra cái bình đồ này, hay cái gì còn lại của nó, thì chính là anh đó! Chính anh làm chủ thế giới cơ mà.
“Làm chủ thế giới”. Thông thường, trên bậc thang đo khả năng làm động cơ thúc đẩy người khác – hay xu hướng thiên về sự ám ảnh, như Amelia nói -, anh chẳng thấy ai ngang hàng với mình. Nhưng từ đó mà… Em đã làm tốt hơn Puttman trong buổi hội thảo của Controlware. Mặc áo sơ mi trần, mồ hôi thấm ra, đi bước dài trên bục giảng như một con báo trong chuồng: You are the best, the best developers, the best, the best[8]. Một trăm lần. Theo điệu hát thời thượng của Tina Turner[9]. Tất nhiên, vào lúc cuối thì một là em từ chức, một là em tin vào điều đó.
Em đã đạt được cùng một kết quả, một cách nhẹ nhàng… Hay gần như thế. Em đã đạt được chuyến đi đến quần đảo Marquises của em. Ta ngồi ghế hạng nhất của hãng Air France. “Dom-pérignon”[10] khi máy bay cất cánh. Anh còn nhớ vẻ dịu dàng trong đôi mắt em. Và đôi bàn tay thanh tú của em hững hờ đặt trên chăn khi em ngủ, thân hình co lại.
Nhưng anh lạc đề rồi… Ngay khi em vừa gợi ý xong thì anh gọi cho Kathrin Strandberg. Ở Stockholm, nhiệt độ vừa mới xuống lại dưới không độ và cô quản đốc bảo tàng đang nghỉ ngơi tại nhà; nàng dùng cơm tối trước lò sưởi, ngồi trên tấm thảm trắng bằng “mohair”[11], mặc pyjama. Tóm lại, đó là những gì nàng kể. Cái webcam, xui xẻo thay, không được kết nối.
Kathrin, về phần mình, cũng đã phân tích xong những ghi chú và những bình đồ được chụp ảnh lại ở nhà Costello, và nàng tin chắc là ông Costello đã cất chỗ khác, ở một nơi nào đó chắc chắn, tất cả những gì liên quan đến cái định lý thần linh.
— Bà góa phụ Costello đã cảnh báo chúng ta! Ông ta nghĩ là, nếu định lý này bị khám phá thì sẽ xảy ra một sự trừng phạt tàn nhẫn, phải thế không?
Giọng nói của Kathrin gần gũi đến mức nó có vẻ đến từ căn phòng bên cạnh. Nghe nàng nói, anh thấy hiện ra dưới mắt hình ảnh khuôn mặt nàng. Làn da nàng tươi mát như nước hồ buổi sáng. Đôi môi mấp máy nhẹ như thể vẽ ra một sự chuyển dịch khó thấy, như những con sóng bé tí thức dậy từ làn gió thổi qua.
Không, anh chọc em đấy. Em biết anh mà, khi anh làm việc thì ngay cả Norma Jean Baker[12] cũng không được anh để mắt đến.
Khi anh thổ lộ ý tưởng của mình, Kathrin bắt đầu bằng cách phản đối.
— Tìm ra những bình đồ đầu tiên! Thôi mà Dan, ông nằm mơ hay sao? Dĩ nhiên là lý tưởng rồi, thế nhưng, nếu chúng hiện hữu thì tất nhiên tôi đã nghe nói về chúng rồi!
Anh phải thuyết phục nàng. Kế hoạch của anh nằm trên hai vai nàng mà.
Anh hỏi lại ngay, theo kiểu của em:
— Tại sao là tất nhiên cô đã nghe nói về chúng rồi? Những khám phá cuối cùng thì mới vài tuần nay thôi! Một ai đó có lẽ sở hữu các bình đồ cục bộ, ví dụ như một khu vườn trong công viên nhỏ, mà anh ta không biết đến tầm quan trọng của chúng, hay anh ta không nảy ra ý quy lại cho tác giả Le Nôtre! Tiếp theo, nếu một ai đó tìm ra các bình đồ, anh ta có lẽ đã nói chuyện này với các chuyên gia ở Versailles và các ông tướng này có thể đã cho chìm xuồng vụ việc. Hãy hình dung là những tư liệu như thế này có nguy cơ làm suy yếu các lý thuyết của họ. Họ cũng có thể quả quyết đó là đồ giả…
Anh trình bày với nàng ý tưởng của mình. Trong khuôn khổ chuẩn bị cho Bốn trăm năm ngày sinh của Le Nôtre, Viện bảo tàng Stockholm sẽ tung ra lời kêu gọi toàn cầu kèm theo một phần thưởng to lớn với mục đích làm xuất hiện tất cả những thông tin hiện có về các bình đồ nguyên gốc của những ngôi vườn ở Versailles.
Kathrin còn muốn bác bỏ nhưng thấy không tự tin lắm.
— Chính chúng ta sẽ làm xuất hiện mấy thứ đồ giả nếu ta hứa một số tiền thưởng to lớn! - Nàng cảnh báo.
Anh sắp sửa gạt đi sự đắn đo cuối cùng này với một lý lẽ tài chánh thì nghe tiếng nàng thở dài.
— Nhưng, xét cho cùng, ông có lý, ta cần thử… Vả lại chuyện này sẽ khiến chúng ta có dịp gặp lại nhau, phải thế không?
Anh không trả lời gì hết. Đâu cần phải gặp nhau để giúp các việc tìm kiếm tiến triển. Nhưng nếu chuyện này có thể thúc đẩy nàng làm việc cho anh, anh sẽ không làm nàng buồn lòng.
Sau ba ngày suy nghĩ, Kathrin đề nghị một kế hoạch hành động. Vậy là một cuộc thi sẽ được phát động thông qua Internet. Và mục tiêu của nó là tìm ra cái bình đồ của những ngôi vườn Versailles được vẽ từ chính tay Le Nôtre và ra đời trước năm 1664. Hay bất cứ dấu hiệu nào có thể dẫn tới việc nhận dạng một tư liệu như thế. Cuộc thi sẽ kéo dài ba tháng và phần thưởng là năm trăm ngàn đô-la. Một số tiền như thế chắc chắn sẽ cuốn hút sự chú ý của các trường đại học và sự quan tâm của các nhà nghiên cứu độc lập cũng như các sử gia chuyên về thế kỷ mười bảy.
Ba nghìn câu trả lời đến tới tấp trong vòng mười tuần lễ đầu tiên. Kathrin Strandberg kiểm kê chúng dần dần. Các thư điện tử được lưu trữ trong hộp thư mang tên Viện bảo tàng Stockholm. Không ai biết chính anh là người chi tiền cho phần thưởng, nhưng, nếu bọn anh tìm lại được những bình đồ đó, anh đã hứa danh dự là chúng sẽ được bảo quản ở Stockholm.
Bọn anh kiểm điểm tình hình vào mỗi ngày thứ sáu qua điện thoại, và anh sốt ruột chờ đợi cuộc hẹn hàng tuần này. Trong thời gian này, tốt hơn là nên thú nhận với em, anh thấy cực kỳ khó khăn đọc tiếp truyện Harry Potter, và mối quan hệ vợ chồng giữa anh với Amelia càng ngày càng xấu đi.
Tuy nhiên, anh thấy thất vọng lúc đầu. 99% số thư trả lời chẳng mang đến ích lợi gì cả: vẫn là những luận cứ ngông nghênh về Versailles, những bằng chứng lịch sử mà bọn anh đã sở hữu hay những bình đồ cục bộ mà chẳng có gì chứng minh chúng là của Le Nôtre cả. Một tên mang bệnh bịa chuyện ở Saint-Pétersbourg quả quyết là đã xem cái bình đồ đó ở Berlin, trong thời Thế chiến thứ hai, thuộc sở hữu của Hitler. Một nhà sưu tập người Pháp đã gửi đến các bình đồ St-Cloud, hy vọng làm ta tưởng là Versailles… Một tên đùa vô duyên lại gửi cả một bản sao chụp cái sơ đồ được cắt ra từ Guide du routard[13].
Rồi một buổi tối, vào cuối tuần lễ thứ mười, Kathrin gọi anh, giọng phấn khích:
— Dan, tôi vừa nhận điện thoại của một nhà văn Pháp muốn cộng tác với chúng ta. Ông ấy không tìm cùng thứ như ta, nhưng khẳng định là tất cả có thể ở cùng một chỗ.
— Vậy à? Ở đâu vậy?
— Trong căn phòng bí mật chứa tài liệu lưu trữ của các vua nước Pháp.
— Cái gì?
— Ông chưa bao giờ nghe nói đến căn phòng bí mật của các vua sao?
— Tôi không tin…
— Vài người quả quyết là vua Louis XIV đã cho sắp xếp một chỗ giấu, và nhà vua đã giữ những tài liệu tối mật của mình trong đó. Chuyện quốc gia đại sự, nói cho gọn. Nhà vua đã chuyển giao căn phòng bí mật này cho con trai và cháu nội mình – cả hai đều chết trước nhà vua – rồi cho chắt mình, tức là vua Louis XV sau này. Đến lượt mình, Louis XV giao chìa khóa cho cháu nội mình, tức Louis XVI. Sau khi ông vua này bị hành quyết, nhiều người đã bỏ công tìm chỗ giấu đó, nhưng chẳng ai tìm ra được bao giờ.
— Và tên nhà văn của cô khẳng định là đã tìm ra nó à? Hắn tên gì vậy?
— Granier. Jean-Philippe Granier.
— Ta hãy đi gặp hắn!
— Ở Paris?
— Tất nhiên! Tôi sẽ cho gửi vé máy bay đến cô.
❀ ❀ ❀
[1] Bernin tức Bernini (1598-1680), nhà điêu khắc và kiến trúc sư người Ý danh tiếng.
[2] Có nghĩa “ngành nghiên cứu về Versailles, hay Versailles- học”, từ tự chế ra, không thông dụng.
[3] Nguyên văn: “L’ubiquité et la spécificité photographique de la rhétorique visuelle contemporaine ont élaboré une stase pictorielle qui est un substitut totalement impératif du jardin en tant qu’expérience spatiale et temporelle.”
[4] “Những cuộc hóa thân” của Ovide, nhà thơ la-tinh danh tiếng (tên la-tinh là Publius Ovidius Naso, sinh năm 43 trước Công nguyên - mất năm 18).
[5] Từ chỉ em trai vua Pháp (hay hoàng đệ).
[6] Paul Gauguin (1848-1903), danh họa Pháp, chết ở quần đảo Marquises.
[7] Ca sĩ và nhạc sĩ viết ca khúc danh tiếng người Bỉ (1929-1978).
[8] Các bạn là những người giỏi nhất, những nhà phát triển (phần mềm) giỏi nhất, người giỏi nhất, người giỏi nhất.
[9] Nữ ca sĩ da đen Mỹ danh tiếng, thuộc hàng “diva”, sinh năm 1938.
[10] Một loại rượu sâm banh (champagne) Pháp đắt tiền hơn rất nhiều các rượu champagne thông thường khác.
[11] Len dệt bằng một loại lông dê.
[12] Tên thánh của cô đào Mỹ Marylin Monroe.
[13] Sách hướng dẫn du lịch dành cho giới trẻ, xuất bản hàng năm ở Pháp.