Ngày trước…
— Dan, nhìn kìa! Cái cầu vồng!
Nghiêng mình trên bể nước trong phòng khiêu vũ, hưng phấn như một cô bé xem biểu diễn xiếc, em đưa ngón tay chỉ thác nước phun ra từ khán đài vòng cung. Một tia nắng mặt trời xuyên vào dưới chân tấm màn nước này, vẽ lên các sắc màu nhạt dần khiến em buột miệng kêu lên đầy thán phục: những dải ruy-băng vàng, cam, đỏ, xanh chàm và tím nhảy múa theo điệu nhạc “menuet”[1] của Lully[2]… Các du khách đến xem nước phun từ dưới đất lên, ngây ngất cảm phục trước những vỏ sò ốc nhập từ Madagascar gắn trên những bậc thang bằng những sợi chỉ bằng đồng thau kín đáo không thấy được. Khóm cây Rocailles, chiều hôm đó được làm sân khấu cho cái vũ điệu nước và ánh sáng mặt trời này, ngày xưa nó là một bản ngợi ca các thuộc địa mới của vua Louis XIV.
Em ganh tị với Thái Dương Vương và cung đình của ông khi nghe điệu “chaconne”[3] trong Amadis[4].
— Thế mà họ khiêu vũ ở đấy, dưới ánh trăng! Hẳn em sẽ mê lắm đấy!
Gabriel, tên thợ cả ống nước, càng làm em thích thú sôi nổi hơn khi kể ra những bí mật của các buổi dạ vũ. Ở giữa phòng khiêu vũ ngoài trời này, có một cái bục bằng đá cẩm thạch bao quanh bởi một con kênh nhỏ dành cho các người khiêu vũ. Dàn nhạc chiếm cứ khoảng không gian bằng nửa vòng tròn phía trên thác nước, chỗ mà người ta còn thấy được ba bể nước trang trí bằng vỏ sò ốc. Trên những bàn chân trụ thếp vàng đặt khắp xung quanh sân khấu là những cây đèn nến nhiều nhánh và những bó đuốc. Đối diện, là các bậc phủ cỏ chiếm hết một nửa khán đài vòng cung, dành cho khán giả.
Bầu trời bớt xám xịt hơn lúc bọn mình đi thăm các đường hầm vài giờ trước đó. Mặt trời cũng xuyên qua được giữa những đám mây, vẽ lên những bức tranh phù du trên màn nước.
Đầu buổi chiều, Gabriel Estaban đã đưa bọn mình đến khóm cây Rocailles trong chiếc xe Kangoo với đèn pha quay có ghi các chữ đầu của “Service des eaux de Versailles”[5]. Em đã leo lên ngồi phía trước với hắn. Phần anh thì ngồi ở thùng xe phía sau. Tên thợ ống nước tỏ ra bối rối, rối rít xin lỗi.
— Ông Barett, mong ông tha lỗi cho tôi đã đối xử với ông như kiểu này… Hơn nữa, không đúng quy định chút nào!
Thật tình mà nói, việc Esteban đối xử với anh như thể một thằng bồi phòng chẳng đụng chạm đến anh nhiều đâu. Anh bực tức vì nguyên nhân khác. Anh vừa có một ý tưởng nhưng anh lại không thể nói với em. Không có đường hầm dưới phòng Phu nhân de Maintenon à? Thậm chí như thế. Tên thợ ống nước quả quyết điều này, chắc chắn là biết rõ đường đi nước bước hơn anh, và các bản vẽ của hắn chứng minh giả thuyết của anh là sai. Nhưng hắn lầm, anh chắc thế như đinh đóng cột. Bọn mình sẽ có thể kiểm tra ngay tối nay sự hiện hữu của một đường hầm dẫn tới căn phòng bí mật!
Gabriel nói, em thúc thêm và anh thì giậm chân nóng ruột. Cho những màn phun nước từ dưới đất lên cuối cùng trong mùa du lịch thì Gabriel phụ trách khu vực Nam, gần khóm cây Bacchus. Đi từ bể nước này sang bể nước kia, hắn tả đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất hệ thống cung cấp nước đã hoạt động từ thế kỷ XVII: một hệ thống lực hút, tức là hoạt động không cần máy bơm, một kỳ công vào thời đó. Những đài nước cao nhất giữ vai trò hồ chứa nước cho những đài nước đặt ở dưới thấp. Từng quãng thời gian đều đặn, Gabriel rút thước đo ra để đo mực nước trong các bể nước mà hắn có trách nhiệm canh chừng.
— Tin tôi đi, ta không thể nào tránh được sự cố này nọ xảy ra ở đây! Cá bị nước ở Grand Canal hút vào đến đây làm nghẽn ống dẫn… Ông bà biết đấy, chúng tôi sử dụng hơn mười ngàn mét khối nước trong một ngày. Thử hình dung là biết bao thứ đồ dơ bẩn bị cuốn theo!
Anh vừa tìm cơ hội bỏ hắn mà đi với em, vừa nhìn các bể nước đang chảy rào rào. Những tia nước lấp lánh màu xanh, trắng, có ánh cầu vồng phụt thẳng lên trời, để rơi xuống những chuỗi hơi nước mỏng manh trên các lối đi, mà về phần anh, anh luôn luôn thấy chúng và cũng biết chúng quá rõ. Đây là đài nước Flore, kia là khóm cây Colonade… Anh muốn bỏ rơi tên thợ ống nước, và anh đã làm thế một cách không khéo léo chút nào. Em còn nhớ chứ?
— Emma! Lại đây, anh chỉ cho em cái này, - anh kêu lên đột ngột. Và, quay sang Esteban. - Xin lỗi ông, tôi muốn đưa cô bạn đến khóm cây Girandole chỉ một lát thôi.
Anh kể em nghe lúc bọn mình rời xa Gabriel là vào một tối nọ anh đã đánh mất cặp kính ở đây khi anh vận động duỗi tay, duỗi chân. Anh tưởng mình bỏ nó trong túi. Sáng ngày hôm sau, tuyết bắt đầu rơi ngay lúc anh quay lại chỗ này để tìm lại cặp kính. Anh cố gắng diễn tả cho em thấy cảnh tượng tuyệt vời, Versailles nằm ngủ dưới tuyết trắng, mê man bởi những bông tuyết phủ trùm lên ngôi vườn trong sự dồn dập dịu dàng! Khoảnh khắc đó được giữ mãi trong tâm trí anh.
Em quan sát anh, lộ vẻ ngạc nhiên. Em biết anh quá rõ để hiểu ra là câu chuyện cặp kính – tuy có thật – chỉ là cái cớ.
— Dan, có chuyện gì vậy? - Em hỏi anh ngay khi bọn mình đã đi đủ xa tên thợ ống nước.
— Anh muốn nói chuyện với em. Anh biết cách bọn mình sẽ làm để tìm ra một lối vào đường hầm khác!
Bọn mình đến trước cụm hoa bằng kim loại trang trí cho khóm cây. Em mở to mắt. Anh đã ghi được một điểm.
— Cách nào đây?
— Tối nay ta sẽ quay lại Grand Trianon.
— Nhưng mình đâu có chìa khóa, cũng đâu có phép vào…
— Ta sẽ trốn trong vườn ngay trước giờ đóng cửa. Và ta để họ nhốt mình trong này!
— Nhưng tại sao chứ?
— Em sẽ hiểu thôi. Ta đem theo ra-đa. Cái ra-đa mà anh đã dùng với Granier. Anh đã mang nó theo trong cốp xe của anh.
Em nhíu mày, làm hiện ra một nếp nhăn dài thẳng đứng trên vầng trán. Anh nhấn mạnh.
— Và ta sẽ rình mò dưới các cửa sổ của phòng Phu nhân de Maintenon.
Rõ ràng là em vẫn không hiểu. Em gần như làm anh thất vọng.
— Cái đường hầm đi từ các căn hộ, - anh giải thích. - Nó nhất thiết phải đi dưới các ngôi vườn, phải không nào?
Cuối cùng nét mặt em giãn ra. Và em đã phản ứng.
— Anh muốn nói có phải chỉ cần cái ra-đa phát hiện nó từ trên mặt đất và đi dọc theo nó thì tìm ra lối vào khác đó?
— Chính xác như thế. Và ta không mất nhiều giờ đâu, theo ý anh. Vài chục mét vuông bãi cỏ hay bồn hoa để dò tìm, tất cả thế thôi. Anh biết chính xác căn phòng này nằm ở đâu mà từ đó đường hầm xuất phát.
Chỉ còn một trở ngại trong trí anh: cần chờ đêm xuống. Và vào cuối tháng chín này, trời không tối hẳn trước 21 giờ.
Anh chờ đợi một cách kiên nhẫn – em biết là khó cho anh chừng nào… – bằng cách để mình cuốn theo vẻ đẹp của cảnh tượng hiện ra trong đầu. Anh nghĩ đến vua, đến ông vua này đã chế ngự được nước. Đến ông vua-thần này đã ra tay nhào nặn quả đất. Vua-thần này là một thủy thần, quyền uy hơn cả hỏa thần, bởi vì nước, em biết đấy, bao giờ cũng mạnh hơn lửa. Các ngọn lửa lụi dần rồi tắt ngấm, chỉ còn tro than và tàn tích để lại mà thôi. Còn nước thì chảy lan tràn hay phụt tóe ra, chói rạng để tạo nên sự sống. Nhà vua đã chế ngự được nước thì ngài là một sinh thần. Giá như ngài trị vì hôm nay, ở đầu thế kỷ XXI này thì Louis XIV sẽ tìm cách để trở thành ông thần của cái gì? Cội nguồn sự sống nào mà ngài muốn chinh phục? Có lẽ là nước, còn là nước, bao giờ cũng là nước. Bởi vì các nhà khoa học đã đưa ra từ trước dự đoán là: trong vài thế kỷ tới, trên hành tinh khát nước của chúng ta, người ta sẽ không đánh nhau vì dầu lửa nữa, nhưng mà vì nước. Như Louis Đại vương trong các ngôi vườn của ngài.
Vào lúc 17 giờ 15, tất cả thợ ống nước đứng sắp hàng giữa bể nước Dragon và bể nước Neptune[6], đưa tay giở lên “chìa khóa” của họ, một loại miệng cống thu nhỏ. Ông bạn Gabriel đứng giữa họ: đối với hoạt động cuối cùng trong ngày, anh ta được giao phụ trách “vòi phun lớn”, một sự phân chia dựa theo chức hạng của anh ta. Mỗi người cắm xuống đất cái chìa khóa hình đàn lia, một loại gậy to bằng kim loại của người chuyên tìm nguồn nước, và xoay nó. Đúng 17 giờ 20, các cửa van nước mở ra.
Gabriel đã nói trước với ta: Neptune bừng sáng trong suốt mười phút. Nhưng anh không chờ đợi một sự phun trào dữ dội đến thế. Khi thấy trong bể nước mênh mông này, cái lớn nhất trong công viên, khoảng bốn mươi tia nước lớn phụt thẳng đứng lên trời theo điệu “passacaille”[7], anh đã vỗ tay. Dù không muốn. Em từng trách móc anh về chuyện anh không bao giờ vỗ tay mà. Vẻ hào hứng kiểu con nít của anh làm em phì cười.
Anh còn nghĩ đến Louis XIV và các màn pháo hoa bằng nước của ông khi, vài giờ đồng hồ sau đó, bọn mình dò dẫm tiến bước, em và anh, trong bóng tối những ngôi vườn của Grand Trianon. Xung quanh đều im ắng, bọn mình bước đi không ai nói với ai một lời. Anh nhớ lại là mình đã tự hỏi về những động cơ của nhà vua: thực ra ông muốn gì vào thời đó? Có phải đơn giản là muốn ngắm nhìn các nguồn nước phụt tóe ra hay vui sướng vì khả năng chế ngự thiên nhiên của mình? Có phải vui sướng vì chính cuộc biểu diễn hay vui sướng vì cái nhìn của người khác đối với tác nhân cuộc biểu diễn? Nếu thực sự ông tự cho mình là đấng Sáng thế thì ta phải hiểu biết trận đánh và chiến thắng của ông với nước để tìm ra công thức chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế.
Chúng ta không gặp khó khăn gì khi trốn lại trong vườn trước giờ đóng cửa. Chỉ cần im hơi kín tiếng khi các nhân viên bảo vệ nhắc nhở mọi người ra về. Chuyện này làm em vui thích. Vả lại, anh cũng vậy, có lẽ là lần đầu tiên trong đời mình, dù anh thấy ngạc nhiên lắm. Anh chưa từng cảm nhận, em biết mà, cái rùng mình khoái chí này trước đó mà vài người cảm thấy khi họ vi phạm quy tắc. Tối hôm đó thì khác hẳn. Có lẽ vì sự hiện diện của em và vì việc anh chơi với em trò người quân tử đi ăn trộm. Một cái rùng mình vui thú, ngây ngất hơn biết bao lần điều mà anh quen cảm nhận, nó chỉ là việc ký một tấm ngân phiếu mỗi khi anh muốn được cái gì đó. Với ít hay nhiều con số không trước dấu phẩy.
Bọn mình đi bộ rất lâu, hết đi ngang rồi đi dọc, ra-đa cầm tay. Ta trông giống như những người đi tìm đồ ở các bờ biển, từ giữa mùa hè, đã cào đi cào lại hàng cây số bãi biển với hy vọng tìm được mấy chiếc nhẫn, đồng hồ, dây chuyền và các đồ kim loại do khách nghỉ hè đánh rơi trong cát. Em làm anh lưu ý đến tính cách phi lý của hoạt cảnh này: người đàn ông giàu nhất thế giới đang tạo ra cảm tưởng là thăm dò mặt đất một cách cuồng nhiệt để đi tìm vài đồng euro thất lạc.
Chúng ta trải qua một đêm chung quanh Grand Trianon. Một đêm làm việc chán ngắt, vô bổ và bạc bẽo. Vì cái ra-đa không rung lên bao giờ. Thêm một lần nữa anh phải thừa nhận là mình sai. Và nỗi thất vọng làm anh trở nên hung hăng.
— Dan! Em nói để anh bình tâm lại. Em cũng muốn tin là có đường hầm đó, nhưng có lẽ nó được đào quá sâu trong lòng đất.
Chắc chắn là em có lý. Cái ra-đa không thấy sâu quá ba thước. Thế mà có những cái hầm dưới Grand Trianon, trong lòng đất, có những hầm cao tới khoảng hai thước. Đường hầm mà Kathrin, Granier và anh thấy ra trên màn hình chắc đơn giản là khúc đầu của nó thì thấy rõ được, khi nó dẫn xuống hầm. Sau đó, chắc chắn là nó đi xuống rất sâu, quá sâu là đằng khác để mà chúng ta có thể phát hiện nó bằng cách dò tìm trên mặt đất từ các bãi cỏ của lâu đài nhỏ.
— Nếu mà anh kể việc này với những người quản đốc bảo tàng Versailles thì sao? Nếu anh cố gắng thuyết phục họ tiến hành việc đào bới để đến được đường hầm dưới phòng của Phu nhân de Maintenon thì có được không?
— Không bao giờ! Sẽ mất hết mười năm đó. Em biết bọn người ở “Monuments historiques” mà.
Vào lúc 5 giờ sáng, anh báo cho em biết là anh sắp sửa cho chế tạo một cái ra-đa mạnh hơn. Một kiểu có thể dò sâu đến mười thước. Và nếu cần thiết thì anh mua luôn xí nghiệp sản xuất ra-đa. Chỉ cần vài tuần lễ.
Ngay ở chỗ này thì em phát giận điên người. Lòng kiên nhẫn của em, lần này, đã chạm tới giới hạn cuối cùng. Em còn nhớ chứ? Bọn mình đứng trú trong hành lang có hàng cột phía trước và em bắt đầu gào lên.
Em nhắc lại những ván bài “bridge”[8] mà anh đã chơi suốt chín giờ đồng hồ liên tiếp và không muốn ngừng. Và cái cuối tuần đáng nhớ ở Brazil mà anh đã thúc đẩy em tìm hiểu cuốn sách của Watson[9]. Một ngàn trang trong ba ngày, viết bởi một trong những người đã phát hiện ra ADN![10] Anh muốn hiểu tất cả về sinh học phân tử gien. Lúc đó là ở Rio. Anh còn thấy lại em, bực tức, trên bãi biển Ipanema. Bọn mình đọc chung cuốn sách đó đã hai tiếng đồng hồ rồi. Bất ngờ em đứng dậy và bước về phía biển. Đi được vài thước, thấy anh không đi theo, em quay lại.
— Anh không xuống tắm sao?
Anh trả lời nhưng không nhướng mắt lên:
— Chờ chút, anh đang suy nghĩ.
Em đến gần, đứng im một lát trước cái khăn tắm của anh, vẻ mặt tức giận. Một cuộc thảo luận sôi nổi xảy ra sau đó về chuyện tìm kiếm sự hoàn hảo.
— Tại sao anh muốn nhất thiết phải đọc xong cái chương về sinh học phân tử gien?
— Bởi vì chúng ta đã quyết định như thế. Khi ta tấn công vào một đề tài, ta phải đi tới cùng.
— Và anh không thể tự bằng lòng, như mọi người, với thú vui giản dị trong việc khám phá sao?
— Không.
— Tại sao chứ?
— Anh không tìm thú vui, anh tìm sự thành công.
— Cả hai thứ này đâu có xung khắc nhau.
— Thú vui là hệ quả của sự thành công chứ không phải ngược lại.
Em nhắc lại chuyến đi của hai ta ở Santa Barbara, nơi mà bọn mình đã nghe, từng cuộn băng một, tất cả bài giảng ghi âm của Richard Feynman[11] ở đại học Cornell. Và cuộc hành trình lớn với những người bạn ở một hòn đảo ngoài khơi Zanzibar. Anh đã mời Donald Johanson[12], và trong phòng khách nhà nghỉ mát của bọn mình, ông ấy đã trình bày, năm giờ liền, về sự tiến hóa của con người. Anh muốn biết tất cả về Orrorin, Lucy, con người Tautavel[13]…
— Sự thành công, Dan, sự thành công! Làm người giỏi nhất! - Em nói tiếp, ngửa mặt lên kêu Trời làm chứng. - Nhưng làm người giỏi nhất thì có ý nghĩa gì cơ chứ? Đạt tới sự tối ưu, sự hoàn hảo à?
— Hơn cả cái đó nữa.
— Anh muốn nói gì thế?
— Trong công chuyện làm ăn, sự tối ưu không bảo đảm chiến thắng. Không một chiến thắng nào, em yêu, là trọn vẹn nếu em không trở thành người chủ của địch thủ của mình, nếu em không tạo ra tình thế trong đó em có thể chế ngự hắn, đè bẹp hắn.
— Đè bẹp hắn à? Tại sao lại đè bẹp hắn?
— Nhưng bởi vì không có lựa chọn nào khác! Trong cạnh tranh, anh không tin là hai đối thủ đều thắng cả. Phải có kẻ bại, người thắng. Không có tình huống thắng-thắng, ai cũng thắng, ai cũng có lợi, ngược hẳn với những gì người ta dạy trong các khóa học.
— Anh theo học thuyết Darwin[14] à?
— Không, nhị phân, đơn giản là nhị phân thôi! Mọi sự trong đời sống rút lại là một tổ hợp của 0 và 1. Chung cục thì người ta đạt tới cùng một kết quả: một cái gì trắng hay đen. Trong hay ngoài. Chết hay sống.
Cuộc đấu khẩu giữa anh và em trở nên gay gắt. Những người nằm gần đó trên bãi biển nhìn chúng ta với ánh mắt tò mò.
— Sai! - Em tiếp tục đáp trả. - Những sự xúc động mà ta cảm thấy, những tình cảm mà ta nhận thấy thì không bao giờ là nhị phân cả. Chúng đều không thể dự kiến trước được. Không thể lập trình được.
— Không đồng ý! Trái lại, anh nghĩ là tất cả các tế bào thần kinh trong bộ óc chúng ta, chúng khởi động các cảm xúc và nhận thức, đều vận hành theo cách nhị phân. Một ngày kia người ta sẽ giải mã chúng. Người ta thậm chí sẽ biết sao lại một tình cảm, giống như người ta sao lại một phần mềm.
— Sao chép một tình cảm… Dan ơi, anh điên rồi! Ngay cả tình cảm yêu đương sao?
— Ngay cả mấy thứ này. Một ngày kia người ta sẽ làm được. Người ta đã biết vài cái gien là nguyên nhân gây ra bệnh này hay bệnh nọ rồi.
Em tỏ vẻ hoài nghi. Em vẫn luôn luôn hoài nghi về những chuyện này. Hơn nữa, em bỏ tiền đầu tư ít dễ dàng hơn anh nhiều trong các xí nghiệp trẻ chuyên về bộ gien đơn bội[15] và công nghệ sinh học. Ví dụ như Alzacorp, cái công ty ở Reykjavik, đã nhận dạng được gien của bệnh Alzheimer. Một cục vàng nhỏ đó em. Nhưng em chẳng tin chắc vào nó.
— Dan, anh nằm mơ đó! Anh tự huyễn hoặc mình đó. Em nghĩ là bao giờ cũng có một phần chưa biết nằm trong tâm hồn con người, một cái gì không thể xác định được, bất khả tri. Một cái gì thần linh, có lẽ… Thượng đế. Anh không đồng ý sao?
Vào lúc đó, anh nhớ là mình đặt cuốn sách xuống trên cát và ngồi dậy. Nhẹ nhàng như ngồi trên ghế bập bênh, anh đung đưa người một cách máy móc từ trước ra sau.
— Thượng đế à? - Cuối cùng anh trả lời. - Em nghĩ thực sự rằng Ngài là không thể xác định được sao? Nếu Ngài hiện hữu thì một ngày kia anh sẽ mang đến bằng chứng về sự hiện hữu của Ngài.
Và em có tin anh không nếu bây giờ anh nói với em là hai ta, đêm hôm đó, đã ở ngay trên căn phòng bí mật của các vua nước Pháp? Dù sao đi nữa, vào lúc sáng tinh mơ, trong khi bọn mình chờ người ta mở cổng, em vẫn còn không tin anh chút nào.
Đó là lần cuối cùng anh chia sẻ với em về cuộc tìm kiếm cái công thức thần linh của anh.
❀ ❀ ❀
[1] Một điệu nhạc khiêu vũ và sân khấu, ra đời từ cung đình vua Louis XIV, thịnh hành ở Pháp cho tới thời Cách mạng 1789, và cho tới giữa thế kỷ XIX trong tất cả giới quý tộc châu Âu.
[2] Jean-Baptiste Lully (hay Lulli) (1632-1687), nhà soạn nhạc người Ý nhập tịch Pháp, sống phần lớn cuộc đời ở Pháp. Đã sáng tạo ra nhạc kịch Pháp (l’opéra francais).
[3] Một điệu vũ gốc Châu Mỹ la-tinh, du nhập vào Tây Ban Nha (thế kỷ XVI) rồi Pháp (thế kỷ XVII).
[4] Tên một vở nhạc kịch (opéra) của Lully, ra đời năm 1684.
[5] Cơ quan phụ trách về nước ở Versailles.
[6] Theo thần thoại La Mã, Neptune là một thủy thần.
[7] Điệu vũ gốc Tây Ban Nha, thông dụng ở Pháp vào thế kỷ XVII, nhất là trong các vở nhạc kịch của Lully.
[8] Kiểu chơi bài với cỗ bài 52 lá, người chơi chia làm hai phe, mỗi phe hai người.
[9] James D.Watson, sinh năm 1928, nhà sinh học người Mỹ, cùng với hai nhà khoa học Francis Crick và Maurice Wilkins, đã tìm ra được cấu trúc của ADN vào năm 1953. Giải Nobel 1962.
[10] ADN là viết tắt của acide désoxyribonucléique. Tiếng Anh viết tắt là DNA thì thông dụng hơn.
[11] (1918-1988), nhà vật lý người Mỹ. Cha đẻ của cơ học lượng tử. Giải Nobel năm 1965.
[12] Sinh năm 1943. Nhà cổ nhân loại học (paléoanthropologue), đã khám phá ra bộ xương người đàn bà hóa thạch được đặt tên là Lucy ở châu Phi năm 1974.
[13] Tên các bộ xương người hóa thạch được các nhà khoa học khám phá ra trong vòng mấy chục năm gần đây.
[14] Charles Darwin (1809-1882), nhà khoa học tự nhiên người Anh, chủ trương thuyết tiến hóa, thường gọi dưới từ “darwinisme”, được đưa ra trong tác phẩm kinh điển “On the Origin of Species by Means of Natural Selection or the Preservation of Favoured Races in the Struggle for Life” (Về nguồn gốc các loài qua con đường chọn lọc tự nhiên hay sự giữ gìn các loài được thuận lợi trong cuộc đấu tranh sinh tồn”, xuất bản năm 1859, và sau này thường được gọi tắt là “On the Origin of Species”.
[15] Từ sinh học: génomique, thuộc bộ gien chỉ có một nửa nhiễm sắc thể của những tế bào cơ thể bình thường.