Trên bức tường, hình ảnh gia đình của Barett tự cuộn lại trên chính nó.
Một bản vẽ kiến trúc lớn hiện ra dần dần sau màn hình. Những hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn, hình đa giác. Những nét vẽ bằng bút lông trên một thứ giấy xưa. Nó bị hư ở mấy nếp gấp và được bảo vệ bằng một khung lồng kính và một cái nẹp. Một loạt những chú giải – tên của những bể nước được nhận ra qua dòng chữ – tạo thành một đường gờ dưới ngay bản vẽ. Quá kinh ngạc, Emma và Pierre đứng phắt dậy và đến gần lò sưởi.
— Hệ thống này đã được nghĩ ra riêng cho mục đích của Barett, nó chắc là đắt tiền lắm đấy, - chàng chuyên viên tin học nói.
Emma thì nhìn không rời mắt hình ảnh trên tường.
— Pierre! - Nàng kêu lên, - là cái bình đồ của những ngôi vườn ở Versailles đó! Em nhận ra nó mà: Latone, Apollon, khuôn viên phía Bắc… Chờ chút. - Nàng đến gần thêm một bước.
— Nó có ghi niên đại đây, ở bên dưới. 1662! Trời ơi! Em chắc chắn nó là bình đồ nguyên gốc, cái mà Dan tìm kiếm bấy lâu nay!
— Có phải cái được xem như chứa bên trong nó bằng chứng về sự hiện hữu của Thượng đế không?
Hôm trước, trong xe, sau khi rời Colleville, nàng đã kể cho anh nghe tất cả. Granier thì đã biết một phần câu chuyện.
— Dù gì đi nữa, nếu đó chính là cái bình đồ danh tiếng thì Dan không bao giờ nói với em là đã tìm ra nó… Làm sao biết được đúng là nó?
— Emma? Pierre? Các người ở đâu? - Một giọng nói bất thình lình dội đến từ cầu thang.
Tiếng gọi của Granier làm hai người giật mình. Pierre cảm thấy là Emma trở nên căng thẳng. Rõ ràng là nàng không muốn gặp gã. Anh lục trong túi tìm điện thoại di động để coi giờ. 7 giờ 30. Tên nhà văn chắc đã ngủ nướng xong… Và anh còn phải gọi cho Clara nữa.
Emma nắm lấy cánh tay anh.
— Jean-Philippe đó! Mình đi xuống đi!
Pierre không kịp hỏi nàng tại sao nàng không muốn chia sẻ sự khám phá của hai người với Granier. Dù sao đi nữa, chắc chắn đó vẫn là một câu hỏi mà nàng hẳn là không thể trả lời.
— Các vị tìm ra cái gì chưa? - Granier hỏi, xuất hiện ở khung cửa.
Emma trả lời một cách lạnh lùng:
— Chẳng có gì về những hàng mật mã, vào lúc này.
Nhưng Granier đã chợt thấy cái bình đồ trên tường. Hắn buông ra một tiếng kêu thán phục.
— Không! Tôi không tin đâu… Ông ấy đã tìm ra nó mà!
Hắn đeo kính lên và bắt đầu xem xét bản vẽ như thể quen thuộc lắm.
— Không thể tin được! Nó là bản vẽ đầu tiên danh tiếng đó, đúng là ông ta, tôi chắc mà! Kỳ diệu làm sao! Thấy không, chỗ đó, các chú giải phải không? Latône với dấu mũ, L’Étoille với hai chữ “l”… Và cái bể nước tương lai des Suisses, nó có hình bát giác, trong khi nó không bao giờ được xây như thế… Phải nhanh chóng đi đối chiếu nó với các khu vườn hiện nay!
— Anh nghĩ rằng đó là chuyện khẩn cấp nhất để làm sao? - Emma mỉa mai.
— Đúng thế, nó là bình đồ nguyên gốc mà, có lẽ nó chứa cái định lý thần linh!
— Cho dù thế đi nữa, nó chẳng dính dáng gì đến hàng mật mã của chúng ta.
— Lại cái hàng mật mã này! Bộ các vị không phát chán với cuộc săn tìm tin học này sao?
Pierre và Emma nhìn nhau, không trả lời. Họ nghĩ cùng một điều. Granier chỉ giỏi làm người ta phẫn nộ. Sự dửng dưng trơ trẽn của gã phản ánh tính ích kỷ sâu sắc. Tính ích kỷ của một kẻ sẵn sàng để chết một nửa nhân loại hơn là từ bỏ những thói tật của mình.
Emma quay về phía Granier để giải thích tình hình. Sự cố mới ở Hong Kong. Rất có khả năng một cuộc mưu hại trên các hệ thống nước sạch. Hội nghị thượng đỉnh bất thường của G8. Tên nhà văn không hé miệng bình luận gì, như thể những biến cố này không tác động đến hắn.
— Các vị thấy rõ là tấm giấy này có tầm quan trọng của nó, ngay cả đối với tên khùng Barett! Xin lỗi nghe, tôi quên mất… Dù sao đi nữa, ông ta đã bảo vệ nó như một báu vật!
— Tất nhiên rồi, - Emma cắt ngang, nghiêm túc. - Anh ấy không có sự lựa chọn nào. Thực sự đâu có các hình ảnh số vào năm 1660. Hơn nữa, anh ấy đã mua các lá thư viết tay khác, của Napoléon, của Churchill, của Jefferson.
— Những thứ mà người ta tâm đắc thì không bao giờ qua một máy tính nào cả.
Granier giữ im lặng một vài khoảnh khắc để Pierre và Emma có thì giờ suy ngẫm về tư tưởng của gã.
— Đây là điều tôi đề nghị với các vị, - gã nói tiếp. - Các vị tiếp tục lục lọi ở các máy tính trong nhà này; và tôi thì đi vào công viên nhỏ cùng với cái bình đồ mà trước hết tôi sắp sao chép lại đây. Dù sao đi nữa, tôi chẳng giúp được gì ở đây.
Emma cố không mỉm cười trước khả năng Granier sắp đi khuất mắt.
Pierre thấy nhẹ người, quay về cái PC để tìm cách mở vào tập hồ sơ “khó tính”. Vào lúc anh đặt tay lên con chuột, màn hình sáng lên và anh thấy lần này tài liệu “Vườn” có thể vào được. Mật khẩu “Le Nôtre” mà Emma nói to khi nãy cũng đã khởi động sự mở ra.
— Giỏi lắm, Barett! - Pierre chụm môi huýt sáo.
Le Power Point chứa đựng sự trình bày tất cả các bình đồ của Le Nôtre được ghi vào danh mục cho tới ngày nay. Bản cuối cùng, bản xưa nhất, có niên đại 1664 và giống như bản hiện lên trên tường. Granier nhào tới.
— Tôi in nó khổ A3 cho anh, nếu anh muốn, - Pierre đề nghị.
— A, tôi cứ tưởng rằng chúng ta đang ở trong một ngôi nhà không giấy, - Granier mỉa mai.
Pierre nghĩ bỏ qua lời nói đó thì tốt hơn, và khởi động máy in.
— Sau đó tôi phải quét qua ổ cứng. Vì nó có thể có các tập tin khác.
Anh quay về phía Emma.
— Trong khi chờ đợi thì có lẽ em nên bắt đầu xem cái máy tính ở phòng đọc sách, được không?
— OK., - nàng nói. - Em đi xuống đây.
Granier đã ngồi vào chiếc ghế bập bênh và bắt đầu sao chép cái bình đồ năm 1662 vào một cuốn sổ bọc vải giả da bằng một cây bút chì than nhỏ xíu.
Pierre đi ra ngoài hành lang và bấm số điện thoại của vợ ở Alès. Số bị bận. Và tiếp tục bận.
Emma gọi anh.
— Pierre! Em không khởi động máy tính trong phòng đọc sách được!
Chàng chuyên viên tin học buông tiếng thở dài, dù không muốn. Anh nhận ra cái giọng ướt sũng mà nàng sử dụng mỗi khi muốn anh giúp đỡ. Như thường xảy ra trong những trường hợp này, yêu cầu của nàng thực sự không minh bạch cho lắm. Nàng không nói: “Anh có thể vui lòng đến giúp em không?” nhưng: “Trời ơi, em làm không được, khổ quá đi” – mà theo nàng, nó tạo ra cùng một hiệu quả. Trong thực tế, nàng quen với chuyện người ta đi trước các ý muốn của nàng, do đó nàng không cần phải nói ra một cách rõ ràng. Kỷ niệm về những năm hai người làm việc chung nhau, khi cả hai còn là những kỹ sư thương mại trẻ tuổi, trở lại trong trí nhớ Pierre. Sự việc thường xảy ra thế này. Nàng, cứng cỏi, quyết đoán, mang dáng dấp đội trưởng. Rồi bất ngờ thay, dưới vẻ tự tin lại nổi lên mối hoài nghi, nỗi lưỡng lự, vẻ yếu ớt bị kềm nén một cách khó khăn, mà anh đoán ra được. Nhưng anh cứ do dự mãi không biết nên chọn thái độ nào trước nàng. Một mặt, anh muốn bỏ mặc nàng tự xoay sở lấy với vấn đề của mình. Vì, xét cho cùng, nàng được trả lương không ít hơn anh, nàng phải biết làm những thứ việc như anh. Mặt khác, anh cũng có lòng ham muốn giúp nàng. Muốn nhào tới cứu nàng, đôi khi thấy thôi thúc không kiềm hãm được, đến nỗi anh có cảm tưởng mình là con chó xù. “Chó saint-bernard[1] thì đúng hơn!”, nàng đã cười vào mặt anh cái hôm mà anh than phiền là mình bị “chó xù hóa”.
Tức mình thật! Nhưng cuộc đời đã dạy anh là đàn bà, ngay cả khi họ tự phụ chế ngự được dã thú, vẫn thích có được một anh saint-bernard bên cạnh. Một người bạn làm họ yên lòng, đưa họ ra khỏi xó nhà “igloo”[2] mỗi khi họ dấn mình vào trong đó.
Anh đi xuống phòng khách. Chỉ trong ba giây là anh giải quyết xong vấn đề, và anh đi lên lại, thỏa mãn. Anh bất ngờ thấy Granier khom người trên máy tính của Barett.
— Làm sao mà người ta có thể say mê mấy thứ máy móc này chứ? Ở đây, cái làm tôi bị ấn tượng mạnh là cái nhà bếp đó, dưới tầng hầm! Đúng là xa hoa thật!
Gã cười khẩy.
— Hiển nhiên là tại đây, con ở của tôi sẽ không biết pha cà phê…
— Bị câm hay sao, con ở của ông?
— Không, nó không câm, nhưng tại sao?
— Phải nói ra tiếng thì máy móc mới nghe lệnh được.
Granier làm như không nghe.
— Ngược lại, - gã tiếp, - màn hình thì khắp nơi, các bức tranh của các bậc thầy thì số hóa… Khá quê kệch, phải không? Anh đã thấy trong bếp bức tĩnh vật của Gauguin chứ? Hiển nhiên là người Mỹ đã tạo lập một cường quốc đứng đầu thế giới, người ta không thể đòi hỏi họ hơn nữa là phải có gu!
Pierre suýt chút nữa buột miệng là Barett hẳn có phương tiện mua cả năm chục bức Gauguin gốc, nhưng ông ta thích dành tài sản mình cho sự nghiệp chống đói giảm nghèo hơn. Anh suýt nói thêm: “Chứ không phải mày, đồ ngu độn, sẽ dành 30% tiền tác quyền cho người nghèo đâu.” Nhưng anh không kịp mở miệng. Máy di động đã reo lên. Clara gọi.
— Anh yêu, anh phải không? Trời đất ơi! Anh làm gì? Ở đâu thế?
— Ở Versailles.
Clara không tỏ vẻ ngạc nhiên chút nào.
— Pierre, trời đất ơi! Em chờ anh gọi lại cả hàng tiếng đồng hồ đến giờ! Anh không nhận được tin nhắn của em sao?
— Có chứ, Clara, anh có nhận được. Anh đã cố gắng gọi em nhưng bao giờ cũng chỉ nghe tiếng máy bận.
Pierre cảm thấy nàng không tin lời anh và buông ra tiếng thở dài chán nản. Anh nhìn ra cửa sổ. Bên kia bức tường là công viên Versailles trải dài dưới mắt anh. Ta nhận ra thôn Hoàng hậu và ngôi đền Amour. Barett thật là may mắn trải qua những cuối tuần ở đây, với Emma.
Giọng lanh lảnh của Clara kéo anh ra khỏi cuốn phim của mình.
— Pierre! Pierre! Anh nghe em không?
— Có, em yêu. Mọi sự ở Alès đều ổn chứ?
— Vâng, ở đây thì ổn, nhưng em rể anh, Jacques, chẳng được ổn chút nào… Em gái anh điện thoại báo: chú ấy đang nằm ở nhà thương Saint-Joseph-Saint-Luc đó!
Pierre khựng lại.
— Jacques à? Nhưng tại sao?
— Chuyện xảy ra tối hôm qua. Chú ấy cảm thấy khó ở. Uống hai viên thuốc rồi thấy đau. Nôn mửa nhiều lần rồi ngã vật xuống.
— Sao thế được chứ? Nó đang ở đâu?
— Nhà thương ở Lyon, em nói rồi mà. Họ đã khám nghiệm chú. Chắc chú ấy không phải là trường hợp duy nhất, các bác sĩ làm việc túi bụi…
— Vì sao vậy Clara? Clara, em còn nghe không?
Pierre di chuyển vài thước. Đường dây đã trở nên khó nghe.
Trong khi anh bước tới, bước lui tìm chỗ để nghe rõ hơn, Granier đi ra khỏi phòng của Barett, tay cầm cuốn sổ của mình và ra dấu là gã đi về phía các ngôi vườn. Clara tiếp tục:
— Các hệ thống ống dẫn nước có vẻ bị ô nhiễm. Ở Lyon người ta không được phép uống nước từ vòi.
Không đợi chồng phản ứng ra sao, nàng bắt đầu gào lên:
— Pierre! Pierre! A lô! Anh nghe em không? Anh có nghĩ ở đây cũng bị nguy cơ đó không? Em phải làm sao đây với mấy đứa nhỏ? Anh có nghĩ ta có thể lấy nước ở hồ tắm rồi đun sôi không?
Trong những hoàn cảnh khác, hẳn là anh sẽ nói đùa, sẽ trả lời Clara là nàng có thể, nếu điều tồi tệ nhất xảy ra, tắm rửa với nước luộc mì. Nhưng anh cũng bị nỗi kinh sợ lây sang. Hệ thống cấp nước uống được ở Lyon bị xáo trộn vì một tai nạn nào đó, đối với anh điều này có vẻ khó tin quá. Các tên khủng bố có thể đột nhập vào hệ thống tin học của những trạm lọc nước, sửa đổi các kết quả phân tích nước, thay đổi các liều lượng, để cho một số vi khuẩn sinh sôi nẩy nở.
Nhưng tại sao chúng đánh Lyon sau Hong Kong? Tại sao lại là Lyon trước Tokyo và Los Angeles? Chắc là phải chờ bọn tin tặc đưa ra các yêu sách của chúng. Nhưng tại sao chúng không làm điều này?
Anh quay lại máy tính của Barett. Anh bắt đầu nghi ngờ là mình sẽ tìm ra cái gì ở đây. Và anh còn ít tin hơn vào khả năng phát hiện ra chìa khóa trong máy tính đặt ở phòng đọc sách. Những cái máy này dễ bị thâm nhập quá. Nếu Barett cảm thấy cần phải cất giấu các hàng mật mã của ông ta ở một nơi xa Boston cả mười ngàn cây số thì chắc không phải để chúng bừa bãi trên bàn giấy, dù là bàn của máy tính đi nữa.
Nhưng mặt khác, nếu ông ta muốn Emma tìm ra chúng thì ông ta bắt buộc để lại cho nàng các dấu hiệu. Trong trường hợp này, bức chân dung của Le Nôtre, ở dưới nhà, chắc chắn là một dấu hiệu. Và chắc phải có những cái khác nữa.
Vẻ mặt trầm tư, anh bước ra khỏi phòng của Dan. Anh đi ngang phòng mình, cửa vẫn mở nửa chừng. Ở cuối phòng có treo bức ảnh tầm thường chụp lâu đài Versailles vào lúc hoàng hôn nhìn từ các ngôi vườn. Anh bước vào căn phòng bên cạnh, vì tò mò: lại bức ảnh lâu đài, lần này thì nhìn từ sân Marble. Và ở trong phòng của Granier cũng thế: vẫn cứ lâu đài, nhìn từ máy bay. Anh đi như chạy xuống cầu thang để gặp lại Emma. Nàng vẫn còn ngồi trước máy tính trong phòng đọc sách.
— Emma này, theo thường lệ thì em ở phòng nào?
Nàng trả lời, không quay mặt lại:
— Phòng anh đấy. Nói đúng hơn, phòng của Emma Brown. Dan thấy kỳ lạ là tên thánh của em đã được viết trên cửa.
Anh nhào về phía nàng, nắm cánh tay và kéo nàng đứng lên.
— Đi nào, nhanh lên!
— Pierre, nhưng có chuyện gì thế?
— Theo anh!
Anh dẫn nàng đến trước cửa phòng “Emma” và bảo nàng tự tay mở nắm cửa. Một động tác mà nàng đã không làm hôm trước khi nàng đưa anh tới đây: bây giờ anh nhớ lại điều này, cánh cửa đã hé mở trước rồi. Emma cứ thế mà bước vào căn phòng trước anh.
Trên bức tường cuối phòng, lâu đài Versailles đã được thay bằng một bộ sưu tập ảnh chân dung trắng đen. Chân dung các con chó.
— Em yêu chó lắm à? - Pierre hỏi.
Emma quay lại.
— Thôi nào, Pierre! Ta tới đây để làm gì? Tại sao anh dẫn em vào căn phòng này? Em biết nó như lòng bàn tay! Hơn nữa, nếu anh muốn biết thì nghe này, em ghét chó lắm.
— Thật à, em không yêu chó?
— Chẳng yêu chút nào. Em bị một con chó con hung hãn cắn khi em lên năm, nó để lại cho em một vết sẹo xấu xí ở bắp chân. Hơn nữa, Dan biết rõ chuyện này. Em không hiểu tại sao anh ấy lại trang trí phòng em với các con chó.
Pierre hầu như không nghe nàng nói, anh bị thôi miên bởi những hình ảnh các con chó xù màu nâu đen tuần tự xuất hiện trên màn hình. Bức cuối cùng của loạt ảnh thể hiện một bà lớn tuổi đội cái mũ nhỏ, ở trong vườn, ôm trong tay một chú poodle. Bà hôn lên mõm nó.
— Elsie de Wolfe đó! - Emma kêu lên.
Hai người quay mặt nhìn nhau, ý thức là có cái gì đó mà họ không hiểu.
— Nghe này! Đặt tất cả mấy con chó này dưới mắt em là không phải Dan chút nào, - nàng vừa thầm thì vừa cúi đầu. - Không phải tình cờ đâu. Em hiểu ra rồi! Mấy con chó này hiện ra vì em đã để các dấu vân tay của em lên cái nắm cửa. Khi anh đặt dấu tay anh thì không có chuyện gì xảy ra. Tất cả là ở đó, trừ sự tình cờ: đây là một thông điệp của Barett.
❀ ❀ ❀
[1] Một loại chó rất to con, lông trắng và vàng hung, được đặt tên theo ngọn đèo Grand- Saint- Bernard ở núi Alpes, được huấn luyện để tìm cứu người lạc trong núi. Nghĩa bóng là vị cứu tinh.
[2] Một loại chỗ ở của người Inuit vùng Bắc cực, xây bằng các tảng băng hay tuyết.