— Đến đây nào!
Emma nổi bồng bềnh trong không trung, đưa một tay về phía anh. Tay kia nàng kéo từ từ cái khóa kéo của bộ áo liền quần. Pierre trồi lên tụt xuống tiến về phía nàng như một người say.
— Nhưng em điên thấy mồ rồi! Không biết có máy quay theo dõi khắp nơi à?
Thân thể của họ, một khi được giải phóng ra khỏi lực hút, bị lôi theo điệu nhảy “sarabande”[1] chông chênh, cực kỳ chậm rãi. Pierre tự nhủ là cái tên lửa chắc chắn vừa mới vào quỹ đạo. Nhưng tại sao hai người không được báo trước?
— Đến đây nào, - Emma lặp lại, bộ áo liền quần giờ đã mở tới tận hông.
Nàng bơi về phía anh và ôm anh hôn một cách hăng say. Tóc nàng vuốt ve đôi má anh, như một tấm màn cửa lay động vuốt nhẹ qua khuôn mặt họ. Nhưng mấy người bạn đồng hành đã đi đâu mất rồi? Và họ còn bao nhiêu thì giờ để sử dụng nữa? Mười phút, hay năm phút đây? Pierre biết rõ điều này: khoảnh khắc kỳ diệu nhất của chuyến đi khám phá này chỉ xảy đến khi phi thuyền ra khỏi bầu khí quyển, khi các ghế ngồi màu trắng trong ca-bin rút lại vào trong để các hành khách thử nghiệm tình trạng phi trọng lượng. Nhưng kéo dài bao lâu đây? Sự hiện diện của Emma làm anh quên phứt mọi chuyện.
Chuyến bay vòng quanh trái đất đầu tiên của anh. Những thiết bị điều khiển kỹ thuật số nhấp nháy trên bảng. Quả cầu xanh có vân trắng nhìn qua cửa cách ly. Các đám mây trên châu Mỹ. Nhưng anh chẳng thấy gì hết. Anh đang nhảy điệu “slow” trong vũ trụ.
Pierre luồn tay vào cái nịt vú trắng và làm bật ra một bầu vú nở to, dựng lên về phía mình. Anh rùng mình. Nếu nhìn quá gần cái núm vú cương lên này, anh sẽ nổ tung người vì khoái lạc, ngay đây, bây giờ.
Emma đưa tay sờ soạng và khi tìm ra khóa kéo của bộ áo liền quần của Pierre thì kéo nó xuống. Rồi nàng vội vàng đưa hai đùi kẹp anh vào giữa, mắt nhìn anh không rời. Khiêu khích. Hiếu chiến.
Pierre cảm thấy sợ trước sự cuồng nhiệt và hung tợn đẩy anh đến với nàng. Người đàn bà này làm anh phát điên vì thèm muốn.
Thân thể hai người quay tròn trong khoảng không. Anh sắp sửa vào trong người nàng, hầu như ngay lập tức đây. Anh luồn một tay qua hông Emma để giữ chặt nàng dưới mình, và tay kia thì chụp cái nịt đàn hồi treo trên vách. Anh kéo nó vòng qua hông hai người rồi siết chặt hết sức.
Các bộ áo liền quần của họ bị bỏ rơi bây giờ trôi bồng bềnh trong ca-bin.
Cả người Emma bỗng dựng đứng lên ngay khi anh vào trong nàng. Cùng lúc anh nghe tiếng cửa mở.
Pierre giật mình tỉnh giấc. Anh hốt hoảng ngồi dậy, tay chụp máy điện thoại di động để nhìn giờ. 4 giờ 30. Chưa đầy hai tiếng ngả lưng và anh chỉ ngủ chập chờn.
Anh nghe tiếng răng rắc ngoài hành lang. Ở đây, trong biệt thự Trianon, các sàn gỗ kêu cót két, các nắm cửa kêu kèn kẹt. Đúng rồi, anh có nghe rõ tiếng cửa mở mà, không chỉ trong giấc mơ đâu. Emma cũng thấy khó ngủ sao? Tuy vậy, nàng đâu cần đi ra ngoài để dùng phòng tắm: mỗi phòng đều có phòng tắm riêng như ở khách sạn. Và tiện nghi này đâu phải mới đây: Năm 1940 ngôi biệt thự đã có đến sáu phòng tắm rồi, Emma đã cho biết thế. Vào thời đó, những người láng giềng của Elsie de Wolfe nghĩ là dân Mỹ cứ tắm rửa hoài là vì mang những thứ bệnh da liễu trên người.
Pierre đứng dậy, mở hé cửa và cảm thấy bàn tay co quắp lại trên nắm cửa.
Anh đã thấy rõ.
Granier đó. Granier vừa ra khỏi phòng Emma! Không nghi ngờ gì nữa, đó chính là phòng nàng mà. Căn phòng mà anh thấy được cánh cửa ở hơi xa hơn, phía đối diện. Căn phòng có chữ “Moi” lớn khắc trên gỗ. Căn phòng rộng nhất bên cánh phải mà Dan Barett thường ở.
Anh đã ngạc nhiên khi Emma chọn ở phòng này. Nếu là anh thì hẳn là không chọn căn phòng của người chết – dù là Barett đã không qua đời tại đây. Nàng làm thế có phải để ở gần với Granier không? Nàng đã cho gã căn phòng liền kề với phòng nàng, mà ngày trước Bessie, người tình nữ của Elsie, đã từng ở. Phòng có khắc chữ Pháp “Toi”[2] đó! Và nàng đã đẩy anh xuống ở, một cách trâng tráo, tận cuối hành lang, bên cánh trái, trong dãy phòng được đặt tên “Emma”, để tưởng niệm Emma Brown, cô con gái của một ông chủ ngân hàng thường lui tới biệt thự Trianon trong những “Années folles”[3].
— Em làm nhiễu hướng tìm, - Emma mỉm cười khi đưa anh vào căn phòng mang tên nàng.
Thế mà lúc ấy nụ cười của nàng lại mang vẻ thông đồng với anh lắm đấy!
Hai người chỉ có vài phút ngắn ngủi riêng tư tại căn phòng này, trong khi Granier đến ở phòng gã. Pierre thấy vui khi quan sát người đàn bà trẻ, nàng chỉ cho anh phòng tắm, mở các cửa tủ, xoay các vòi nước để xem chúng có chảy không. Lúc ra khỏi phòng, nàng đến gần anh.
— Em chúc anh ngủ ngon đêm nay! Nói đúng hơn, ngủ ngon trong phần thời gian còn lại.
Nàng đưa má ra và ôm hôn anh một cách vụng trộm. Anh đứng im, hai tay buông thõng, chống cự nỗi ham muốn đụng đến người nàng. Hai vú nàng chạm nhẹ ngực anh.
Chưa bao giờ, anh tự nhủ sau khi nàng đi khỏi, bộ ngực một người đàn bà lại khơi dậy trong anh một nỗi thèm muốn mạnh mẽ đến thế. Vả lại, nói cho cùng, Emma cuốn hút anh có lẽ nhờ ở bộ ngực hoàn hảo này. Một ấn tượng khắc sâu trong tâm trí từ một bộ phận cơ thể kích dục, một ám ảnh còn sót lại từ thời niên thiếu. Nhưng anh gạt ngay khi mới vừa đưa ra giả thuyết này, một cách miễn cưỡng.
Đôi vú của Emma chỉ là phần nổi của một tảng băng trôi. Nếu ta còn có thể nói đến tảng băng trôi lúc này.
Pierre quan sát Granier đang đi hết khoảng cách vài thước giữa hai phòng mà không gây tiếng động. Bất ngờ anh thấy gã quay đầu về phía anh. Anh liền lùi lại một bước. Tên nhà văn có nhận ra anh không? Gã có thấy cửa phòng anh hé mở không? Thực tình, chẳng quan trọng gì. Gã ta chắc sẽ hài lòng phô bày cho mọi người thấy quan hệ “riêng tư” với Emma. Có lẽ gã đã cố ý làm cho sàn nhà kêu răng rắc đó.
Đồ đểu! Dĩ nhiên, từ sáng nay tên nhà văn đã tung ra các chiêu nhử mồi rồi. Và nàng lại không bao giờ chịu chỉnh gã. Có phải gã vừa ngủ với nàng không? Pierre thấy khó tin quá. Không, không thể tưởng tượng được. Emma không thể nào chấp nhận sự “cầu thân” của gã. Sau những gì mà anh và nàng vừa cùng nhau chia sẻ! Thế nhưng, anh phải nhìn ra điều hiển nhiên, đúng là Granier đã đi ra từ phòng người đàn bà Mỹ này.
Pierre siết chặt nắm tay. Thực ra, anh suýt chút nữa là tin ở phép lạ. Nụ cười sảng khoái của Emma, các cử chỉ chậm rãi, vẻ dịu dàng, sự nồng nhiệt, những tiếng rên rỉ của nàng. Nàng đã nói với anh khi rời bãi biển đêm hôm nọ là lần đầu tiên nàng thấy trái đất rúng động vì nàng. Như trong tiểu thuyết của Hemingway[4].
Giễu dở quá đi!
Anh cố gắng xua đuổi cảm giác tởm lợm đang xâm chiếm mình. Đêm nay anh nên lo chuyện khác hơn là nằm đây suy nghĩ linh tinh. Thế giới đang ở bên bờ vực hỗn loạn. Và nên biết ngay tức khắc nếu Emma có lý hay không khi đưa mọi người tới đây. Bởi vì Pierre đã hoài nghi chính mình và mục tiêu chuyến đi: đến ngôi nhà này mà không biết chỗ Barett cất giấu những hàng mật mã của ông ta – và cũng không chắc chắn là Barett đã thực sự giấu chúng ở đây nữa – có phải là khùng hết thuốc chữa không? Vẫn là ý tưởng của Emma. Anh biết nàng quá mà, nàng công chúa trong kinh doanh, được “trực giác” của mình soi sáng, được các điều xác tín dẫn dắt, các phán xét dứt khoát và các quyết định đơn phương mà triều thần của nàng phải rạp mình tuân phục. Nhưng quỷ thần ơi, tại sao anh lại lẽo đẽo đi theo nàng chứ? Anh chỉ là một tên nịnh thần nữa, sẵn lòng vâng dạ trước những đòi hỏi đồng bóng của nàng.
Sau một đêm thức trắng, anh nhìn bằng màu đen một ngày mới đang bắt đầu. Anh biết điều này. Anh hiểu bản thân mình. Ngủ ít hơn năm giờ là anh rơi vào trạng thái lo âu. Điều này nó mạnh hơn anh. Những người biết ngủ ít thì may mắn lắm đó, họ sống hai lần nhiều hơn, và có lẽ hai lần tốt hơn.
Anh mặc vội quần jean, áo sơ mi đã mặc ngày hôm qua, xỏ giày rồi đi xuống cầu thang danh dự lớn. Emma đã chỉ cho anh là tất cả các phòng – được Dan làm mới lại hoàn toàn, tám tháng sau khi mua ngôi nhà – đều được trang bị những đầu cuối kết nối với một máy chủ trung tâm. Nhưng những máy tính mà Barett dùng làm việc thì được đặt trong phòng ông và trong phòng đọc sách. Có lẽ anh có thể bắt đầu cuộc tìm kiếm trong phòng đó. Và trên đường đi đến đó, có lẽ anh sẽ kiểm tra thử xem ánh sáng mà anh nhìn thấy từ cửa sổ phòng mình thì đến từ đâu. Anh hẳn có thể cam đoan là nó đến từ một trong những căn phòng ở tầng trệt. Và ai có thể ở đó chứ? Tên gác dan thì ở trong căn nhà nhỏ, chỗ cổng ra vào. Còn Granier và Emma thì ở trên lầu… Vì họ có lý do chính đáng đấy!
Anh không thể dứt bỏ cái hình ảnh này. Emma! Nàng còn chọc ghẹo anh trước khi đi về phòng mình, ở ngưỡng cửa phòng anh.
— Cố gắng ngủ một chút đi. Anh chắc là kiệt sức lắm…
Và lúc nào cũng với nụ cười đồng lõa.
— Ta sẽ gặp lại ngày mai, lúc 7 giờ ở phòng khách lớn nghe.
Tất nhiên, anh không hình dung, dù trong khoảnh khắc, là nàng sẽ đến giường anh. Những kỷ niệm ở Colleville và ở mũi Manvieux lại lần lượt hiện về trong trí nhớ anh. Anh không lấy làm vinh dự lắm. Và chắc nàng cũng thế thôi. Nhưng từ đó mà tưởng tượng ra được là Granier sắp sửa thế chỗ anh! Không thể hiểu được.
Pierre đã xuống đến chân cầu thang và liếc nhìn xuyên qua cửa ra vào bằng kính. Lối đi được thắp sáng nhờ vài đèn chiếu đặt trên cây. Những đèn chiếu nhỏ hướng lên các ngọn cây tạo ra một quầng sáng màu vàng trên tán lá các cây sồi lớn.
Điện thoại di động của anh đột ngột phát chuông hiệu.
— Xuỵt! - anh càu nhàu.
Đáng lẽ anh phải đặt nó ở chế độ “Im lặng”. Và đây là nguyên văn tin nhắn của Clara.
Gọi lại em. Khẩn cấp. Clara.
4 giờ 45. Nhưng cái tin nhắn này được ghi ngày hôm trước. Pierre tự nhủ dù gì đi nữa mình cũng nên chờ đến giờ thích hợp hơn để gọi cho vợ. Vả lại, nếu gọi nàng bây giờ thì anh có nguy cơ mất hết phần còn lại của đêm.
Anh tin rằng mình đã phân biệt được ánh sáng đến từ đâu: phòng khiêu vũ, xây thêm vào ngôi biệt thự và che bởi một thứ vải lều có sọc màu trắng và xanh lá cây, được thắp sáng từ bên trong và tỏa ra một thứ ánh sáng dịu mắt, bên phía lối đi cũng như bên phía vườn. Lạ lùng thật. Anh hẳn có thể cam đoan rằng mọi thứ đều tắt khi anh vào giường. Anh còn nhớ chuyện này mà: anh đã nghiêng người ở cửa sổ để tìm cách nhìn ra lâu đài Versailles đang được thắp sáng.
Tên gác dan có thắp lại các ngọn đèn trong vườn không? Nếu phải, thì tại sao? Tên thanh niên này thoạt tiên có vẻ thạo việc và chu đáo. Bằng chứng ư? Hắn nhận ra ngay tức khắc Emma trong bóng tối, khi họ mới đến. Nếu mà hắn không nhận dạng được Emma thì cả bọn đã ở ngoài đường cả đêm rồi, trước khi có thể liên hệ được với Amelia Barett bên Mỹ và được bà cho phép vào nhà. Bộ mã số cho phép mở cánh cửa chính màu lục nặng nề chỉ khởi động khi đọc các thông số về máu của vài người đã được chấp nhận trước. Chính xác là sáu người, theo lời thố lộ của tên gác dan với họ: Barett, Amelia, hai đứa con họ, tên gác dan. Và Emma. Nàng tỏ vẻ ngạc nhiên thấy mình nằm trong danh sách “sáu người” trong khi nàng không phải là người quen thuộc của ngôi nhà, như vậy nàng đã không hề sử dụng thiết bị này.
Cánh cửa bọc sắt mở ra với cùng một chiếc khóa an ninh, nhưng tên gác dan đã khử kích hoạt.
— Tôi ngắt mạch an ninh của lối vào, - hắn nói với giọng tự tin của người biết việc. - Nếu không thì các vị sẽ không ngủ được! Người đầu tiên muốn ra ngoài hít thở không khí sẽ khởi phát hệ thống báo động, cho dù không muốn. Chúc ngủ ngon!
Pierre mở cửa phòng khách và đứng lại. Đêm qua, ngay từ khi đến đây anh đã tin mình nằm mơ. Những bức tường của phòng khách lớn này được che bởi những màn trướng hồng nhạt và được trang trí bằng các đường chỉ xanh lá cây, màu sắc mà ta cũng thấy, tuy có dịu đi, ở trên trần nhà. Sự tương phản thực sự gây ấn tượng, giữa một bên là những sàn nhà bằng gỗ sồi nguyên khối, đồ bàn ghế thế kỷ XVIII, những tấm gương, những ngọn đèn chùm, những lò sưởi được trang trí tỉ mỉ, và bên kia là những màn hình, đèn báo hiệu và hệ thống điều khiển điện tử. Emma đã giải thích là Barett đã hiện đại hóa ngôi biệt thự nhưng vẫn tôn trọng những chọn lựa trước đó của Elsie de Wolfe. Anh ấy đã xem xét tỉ mỉ hàng chục phiên bản của các bản vẽ và ảnh chụp vào thời đó. Cuộc hôn phối của hai thế giới, thế giới của những đường chỉ dày cộm và những đường nét thanh lọc, của sự sơn son thếp vàng và màu thép lạnh lùng, là lạc điệu, là không hòa hợp chút nào.
Bên cạnh cái ghế bành thấp kiểu Louis XV và các ghế bành cùng phong cách là những cột màu trắng có thể lồng vào nhau hay kéo dài ra để bảo vệ các thùng loa và các màn hình plasma nhỏ. Ba màn hình phẳng treo trên tường trở nên sống động khi có một người khách bước chân vào phòng. Màn hình đầu tiên cho thấy một bức ảnh của Barett và Emma tay trong tay thời còn ở đại học. Cái thứ hai đưa ra hình ảnh các cây gậy màu sắc khác nhau được xếp thành hàng thẳng đứng một cách khác nhau. Khi thấy nó, Granier liền tỏ vẻ chán nản, theo thói quen.
— Tuyệt diệu, tác phẩm này, thật tuyệt diệu! Của ai vậy? Nó thể hiện cái gì đây?
Emma trả lời, lộ vẻ dửng dưng một cách giả tạo:
— Tôi đấy.
— Hóm hỉnh quá đi, cô bạn ơi, hóm hỉnh quá đi! Vào cái giờ này…
Câu đáp trả thì nóng bỏng:
— Vậy mà thật đó. Bức tranh này thể hiện rất chính xác chỉ dấu mã di truyền của tôi. Do một họa sĩ người California thực hiện. Đứng đầu nghệ thuật số đó.
— Và cô thấy nó đẹp à?
— Dù sao đi nữa, Dan thích nó lắm.
— Có lý do chính đáng đấy. Nó là một bức chân dung riêng tư nhất có thể làm được…
Emma cười, cắt ngang câu nói hứng khởi nhưng mờ ám của Granier. Vậy mà Pierre thấy nụ cười của nàng gượng gạo đến mức anh tự hỏi phải chăng nó cũng được dùng để ngăn chận những giọt lệ khỏi ứa ra.
Trong khi nàng giải thích bức tranh đó, những hình ảnh khác tuần tự xuất hiện trên màn hình số đầu tiên. Hình ảnh một bé gái độ bốn tuổi, tóc bím theo kiểu Sheila, mặc cái áo đầm vải kẻ ca-rô, miệng cười dòn tan, đứng trên một cái bàn ăn. Rồi cũng là cô gái đó, hơi lớn tuổi hơn, tóc hớt ca-rê, đang thổi các ngọn nến gắn trên một bánh ga-tô kem to đùng. Và cuối cùng, một cô gái trẻ độ mười bảy hay mười tám tuổi đứng chụp hình trước một chiếc thuyền buồm.
— Chắc là em đấy rồi, phải không? - Pierre hỏi.
Anh hẳn có thể trả giá đắt để mà quen biết cho được cô gái tuổi hoa đó với nụ cười dịu dàng trong bức ảnh, mặc quần soóc, tay cầm khăn tắm và tóc tung bay trong gió. Anh nhận ra đôi mắt màu lục này, những ngón tay thon dài này, và cặp đùi này, khi ấy đã dài lắm rồi. Nghĩ đến thời xa xôi mà anh còn nhớ được, anh thấy mình bao giờ cũng ganh tị với Dan Barett, và bây giờ thì anh biết rồi, không chỉ riêng về những tài năng tin học của ông ta đâu.
— Anh biết đấy, Dan không phải là loại người đem lòng sùng bái bất cứ cái gì. Những hình ảnh này không nằm ở đây một cách thường trực! Nếu anh ấy biết là các anh đến đây thì các anh cũng được dành cho mỗi người một màn hình đấy.
— Thế là thế nào?
Nàng thở dài.
— Em đã mở cửa đầu tiên. Sự trang hoàng ở phòng khách và ở những phòng khác đều đáp ứng theo những người khách đến ở. Chỉ cần đụng vào tay nắm của cửa phòng là những dấu vân tay của các anh sẽ được gửi về máy tính trung tâm, nó lập trình cho các màn hình mà. Anh tin là Amelia chịu đựng nổi khi thấy bức ảnh chân dung của em trên…
— Điều này đòi hỏi trước tiên là các vân tay phải có trong cơ sở dữ liệu, - Pierre cắt ngang.
— Tất cả bạn bè của Dan đều được ghi vào danh mục, ngay cả những người quen biết cũng thế, những VIP[5]. Nói cho đúng hơn, ít ra là ở trong nhà anh ấy tại Cape Cod[6]. Tại đây thì em nghĩ anh ấy chỉ nhân bản cái hệ thống đó thôi. Nhưng em hình dung là cả “Tout-Paris”[7] đều nằm trong đó cả. Dan thích làm người ta ngạc nhiên và làm người ta vui thú, và…
Giọng nàng bỗng lạc đi. Granier liền dang tay về phía nàng. Rất đàn ông. Che chở. Bàn tay trên vai. Gã cũng không cần mở miệng nói tiếng nào. Emma hạ mi mắt hạ xuống, môi mấp máy lời cảm ơn, tỏ vẻ xúc động, tất nhiên rồi. Pierre hẳn cũng muốn tìm ra từ ngữ và cử chỉ thích hợp. Anh luôn luôn ghét sự thiếu nhanh trí nơi mình, đặc biệt hiển nhiên trong hoàn cảnh kiểu này. Thông thường và cực chẳng đã, anh đành bằng lòng với một kỹ thuật thô bạo hơn, dễ dàng sử dụng hơn, để ngăn cản một người đàn bà khỏi khóc: chuyển hướng suy nghĩ.
— Còn màn hình thứ ba thì sao? Nó chẳng dính dáng gì đến em…
Đó là bức chân dung của một người đàn ông trưởng thành nhưng không rõ tuổi, mặt dồi phấn, đội tóc giả và mặc áo sơ mi cổ lá sen.
— Này, đúng vậy thật. Có cái “bug” ở đây, - Emma trả lời, mặt lộ vẻ đăm chiêu. - Lần cuối cùng, theo như em nhớ, thì có bức Nu jaune (Khỏa thân vàng), một trong những bức tranh của Modigliani[8] mà em thích nhất, và vài bức của Matisse[9] được hiện lên màn hình theo chu kỳ. Còn bức tranh này thì không hợp gu em lắm đâu.
Granier bước lại gần màn hình. Rồi gã quay lại, lộ vẻ khoan khoái, dắt Emma đến ngay dưới hình ảnh đang hiện trên tường.
— Emma này, đừng cả tin nữa, bức tranh này dính dáng đến cô rất nhiều hơn cô tưởng đấy. Nào, đoán thử đi!
— Jean-Philippe, anh dễ thương lắm, nhưng làm mấy cái chuyện đoán mò này vào lúc 1 giờ 30 sáng thì…
Granier buông cánh tay Emma ra.
— Emma, thôi nào, cô không nhận ra Le Nôtre sao chứ? Đó là bức chân dung của André Le Nôtre đấy!
Mọi người đều im. Pierre gật gật đầu.
— Emma, người ta có thể nghĩ rằng em có lý đó. Dan đúng là gửi cho em một thông điệp.
— Nhưng làm sao anh ấy có thể biết được là em sẽ đến đây?
Họ thấy lúng túng, rồi đi lên lầu sau đó. Trong phòng mình, sau khi Emma đi khỏi, Pierre vội vàng mở điện thoại di động để vào tham khảo
Google Actualités[10]. Không có thảm họa mới nào được nói đến trong các bản tin, nhưng mặc dù vậy anh vẫn không cảm thấy nhẹ lòng chút nào. Tệ hơn nữa, anh đã đi ngủ với ý thức là sẽ có nguy hiểm sắp sửa xảy ra. Một sự sáng suốt lạ lùng. Anh tự nhủ, đó là sự sáng suốt nảy sinh trong khoảnh khắc yên ả mà ta biết là cơn bão sẽ ập đến ngay sau đó.
Ánh sáng tự động bật lên vào lúc Pierre bước qua cửa phòng khách lớn. Anh đâu có đụng đến công-tắc. Ba ngọn nến điện đặt bên trong bức tường đối diện lò sưởi tỏa sáng một cách êm dịu và tạo cho căn phòng một không khí giáo đường. Các màn hình trên tường bật sáng sau đó vài giây. Vì các dấu vân tay của Pierre không được ghi nhận trước đó, cái máy tính đành gửi đến các hình ảnh của ngày hôm trước. Emma và Barett hồi hai mươi tuổi. Một lần nữa, anh tự nhủ là ông chủ Controlware hầu như không thay đổi về mặt thể chất. Ngược lại, cô bạn gái của ông thì có thêm các nếp nhăn mà anh thấy cảm động, dù không muốn.
Anh lại gần bức chân dung Le Nôtre. Barett thực sự có biết, trước khi qua đời, là Emma sẽ đến đây không? Ông ta có gieo rắc các dấu hiệu trong ngôi nhà này để giúp nàng đi đúng hướng tìm ra mật mã không? Le Nôtre sẽ cứu vớt thế giới. Chính điệp khúc này của Barett là lời chỉ dẫn duy nhất đã đưa họ đến biệt thự Trianon. Hơi mỏng đấy! Và nếu họ bị sai lầm thì sao? Và nếu bức chân dung Le Nôtre này đơn giản chỉ xuất hiện khi Dan đến ở đây lần cuối cùng thì sao?
— Bọn mình đến đây làm cái quái gì nhỉ? - Anh tự lặp lại, giọng khe khẽ, mắt nhìn quanh để tìm cửa dẫn vào phòng đọc sách.
Ánh sáng soi ngôi vườn vẫn làm anh thắc mắc. Anh quay lại hành lang và mở cánh cửa cho phép đi đến gian phòng nổi tiếng được xây thêm ấy. Anh ngừng lại ở ngưỡng cửa, kinh ngạc. Nằm sau hai trụ cột bằng cẩm thạch trắng được đèn chiếu rọi lên để tăng thêm vẻ đẹp, và ba bậc cấp mà ngày xưa dẫn vào ngôi vườn, là một hồ tắm đào sâu dưới đất. Một bể nước lớn dài hai mươi thước, rộng mười thước, bằng cẩm thạch Carrare[11]. Được phản chiếu trong những tấm gương phủ kín những bức tường dưới đáy, nó hiện ra mênh mông. Pierre nghĩ, đây là do Barett cho làm ra, chứ không phải Elsie đâu.
Anh đi vòng hồ tắm để mở cánh cửa lớn bằng kính. Không thể nào được. Không có lấy một nắm tay, không có lấy một nút điều khiển. Anh đi ngược lại đường cũ, ra khỏi căn phòng và đi ngang qua hành lang thêm một lần nữa cho tới cửa ra vào ngôi nhà.
“Cửa mở tự động bằng sự dò tìm của tia hồng ngoại,” Pierre tự nhủ. “Barett đã sắp đặt trước mọi việc.”
Thực sự như thế. Đến cách cửa chừng hai thước, anh thấy nó tự mở ra, trong một chuyển động đầy đủ và lặng lẽ.
“May mà anh gác dan đã cắt hệ thống báo động”, anh còn nghĩ.
Anh hẳn là không chịu nổi cảnh Granier mặt mũi bơ phờ, còn mặc pyjama trên người, hoảng hốt lao xuống chân cầu thang.
Bên ngoài trời còn tối. Pierre bước thận trọng, ngừng một chút để cặp mắt quen dần với bóng tối rồi đi theo con đường nhỏ bên tay trái vòng quanh ngôi nhà. Anh đi dọc theo các chuồng ngựa cũ và thấy ra một cabin lạ lùng bằng bê-tông mang hình dạng một cái nồi hầm thịt với nắp vung chóp nón kiểu Ma-rốc, bên cạnh là chiếc xe mà Granier đã đậu. Một hầm trú bom được xây sau Thế chiến thứ nhất. Tất nhiên là quá trễ mất rồi, như thường lệ. Các tướng lãnh bao giờ cũng phát minh ra vũ khí để cho cuộc chiến trước đó, không bao giờ cho cuộc chiến sau đó.
Tiếng sỏi nhỏ lạo xạo trên lối đi làm sợ hãi vài con chim ngủ trên cây, và chúng đập cánh bay đi. Ngạc nhiên, Pierre ngước mắt nhìn chúng bỏ trốn và ngay lúc đó chân anh va phải một khối kim loại. Anh vấp mạnh đến nỗi té nhào xuống đất. Một tiếng rú inh ỏi phát ra vang dội, như tiếng còi hụ của xe cảnh sát. Ngay lập tức một đám khói dày bao phủ anh. Anh bắt đầu hắt hơi, chảy nước mắt. Anh co rúm mình, chờ hết hắt hơi rồi đứng dậy, đi loạng choạng về ngôi nhà, vừa ho, vừa nấc cụt, đôi mắt cay xè.
Tên gác dan, tay cầm súng, đã đến ngay trước cửa và nhìn anh với vẻ mặt sửng sốt.
— A! Ông đấy à? Nhưng trời đất, ông làm gì bên ngoài vào giờ này chứ?
Pierre, người gập làm đôi, khạc đờm ở cổ họng rồi nhổ xuống đất.
— Tôi thấy có ánh sáng trong…
— Ông đi vào đi. Ta vào tránh hẳn trong này. Xin ông đừng hốt hoảng. Chỉ là chuyện Kagébé làm công việc của nó.
Gã thanh niên cặp cánh tay Pierre, dìu anh đến phòng khách, đặt anh ngồi lên chiếc ghế bành thấp kiểu Louis XV đối diện lò sưởi.
— Tôi sẽ mang cho ông ly nước. Chẳng sao đâu. Tôi đã cho ngừng cái còi hụ. Một chút ga làm chảy nước mắt, chỉ vậy thôi mà. Trong chốc lát ông sẽ không cảm thấy gì nữa.
Pierre nhắm mắt lại và cố gắng tìm lại bình tĩnh bằng cách hít vào rất sâu rồi thở ra rất chậm. Anh vừa mới thấy đầu óc tỉnh táo lại thì nghe tiếng Emma.
— Pierre ơi? Anh có đó không?
— Ổn rồi. Anh ở đây, trong phòng khách.
Emma chạy tới.
— Nhưng chuyện gì xảy ra thế này? Nghe tiếng còi hụ, em vội vàng chạy ra. Em thấy cửa phòng anh mở và anh không còn có đó. Anh đã làm gì rồi?
— Ông đây đã đánh thức Kagébé, chỉ đơn giản thế. Rõ ràng là con chó đó không thích lắm.
Tên gác dan đã quay lại với ly nước. Hắn cười.
— Kagébé hoạt động được lắm, có thể nói như vậy. Trong hai năm mà nó trở nên giỏi hơn. Ồ, nói thật ra là lúc đầu chúng tôi có nhiều vấn đề. Nó cứ réo lên mỗi khi có con thỏ chạy qua vườn. Bây giờ thì tuyệt vời. Rất hữu hiệu. Dù gì đi nữa, tôi xin lỗi đã quên tắt nó. Bà Shannon, bà muốn uống gì không? Tôi pha cà phê cho bà nhé?
— Ơ… không, cảm ơn Terry. Nhưng trà thì được, tôi xin.
Tên gác dan rời đi về phía nhà bếp. Emma có vẻ bối rối. Pierre ngước mắt nhìn nàng. Nàng không mặc lại chiếc váy màu be mà mặc quần dài đen, giản dị, với áo sơ mi trắng. Hai hạt nút ở phần trên để mở. Và nàng không dành thì giờ để mang áo ngực. Phần trên của đôi vú thì để ta hình dung thêm, tròn trĩnh, êm ái và mượt mà. Nhưng bộ mặt nàng thì xanh xao và hốc hác. Có thể là nàng đã thực sự không ngủ trong đêm này. Về phần Granier thì gã chắc ngủ say đến nỗi còi hụ cũng không đánh thức gã lúc này.
Pierre cắn răng, bị cơn ghen dày vò. Như thể trả thù, anh tự nhủ là, trong hai mươi năm tới, Emma sẽ mang bộ mặt đó, tàn tạ một chút, và không chỉ vào buổi sáng khi thức dậy. Nhưng anh không thể không nghĩ là dù sao anh vẫn sẵn lòng thức dậy bên cạnh nàng.
Anh thấy đôi môi Emma nghiêng về phía mình.
— Pierre, có đỡ chút nào không?
— Đỡ hơn rồi, cảm ơn.
Anh chống tay đứng dậy từ chiếc tràng kỷ và rời xa nàng. Anh phát chán với sự ân cần của nàng, phát chán bị coi như mắt xích yếu đuối của nhóm.
— Tên gác dan – Terry phải không?
— Vâng.
— Hắn nói đến KGB[12], hay là anh nằm mơ? Hắn muốn nói gì thế?
— Kagébé, Pierre ơi. Có sáu chữ. Đó là một con chó. Một con chó-rô bốt… Nó đi ngang, đi dọc trong vườn, và ngay khi nó dò thấy một chuyển động khả nghi, nó liền gửi trực tiếp hình ảnh vidéo đến PC của bộ phận an ninh. Dan đã làm ngay cả các thử nghiệm để mà hình ảnh khả nghi đó có thể được gởi thẳng đến điện thoại di động của người gác dan. Nhưng vào thời đó, không có gì chạy cả.
— Và cái chức năng “cắn”, họ có thử không?
Emma nhếch mép cười nhẹ. Pierre cũng vậy. Nhưng hẳn là cười gằn. Kagébé, một cái tên ngu xuẩn quá sức, Pierre nghĩ. Như thể thiên hạ còn ở thời chiến tranh lạnh vậy. Khi mà một cuộc chiến tranh mới, chiến tranh điện tử, đã bắt đầu. Chỉ một lần này, Barett đã tỏ ra lạc hậu.
Emma nói tiếp, giọng nhẹ nhàng:
— Sẽ là phiên bản 2.0 đó anh. Nhưng giữa chúng ta, Pierre này, anh làm gì ngoài đó vào giờ mà Kagébé đi tuần?
— Anh không ngủ được.
Emma im lặng một lát.
— Đâu chỉ có mình anh không ngủ được.
Pierre nhếch mép cười gượng, cay đắng.
— Khi người ta làm những việc rồ dại với thân xác mình…
Emma nhíu mày:
— Xin lỗi, anh nói gì?
Anh khoát tay, cắt ngang câu chuyện. Xét cho cùng thì nàng làm những gì nàng muốn trong những đêm của mình, đó là vấn đề của Brad, chứ không phải của một đối tác tình dục đột xuất.
— Đi nào! - Anh càu nhàu. - Ta mất khá nhiều thì giờ rồi đó. Anh không biết làm sao ta sẽ tìm ra cái mà em đi tìm trong ngôi biệt thự trống này, nhưng nếu ta không bắt đầu…
Emma không có thì giờ trả lời. Terry đến, tay bưng một cái khay. Mùi cà phê và mùi trà đen quen thuộc bốc ra từ hai bình thép mạ crôm. Tên gác dan đặt chúng trên cái nhỏ nhất trong ba cái bàn lồng được vào nhau. Pierre thấy ra là cái bàn ở giữa được dùng làm máy TV khi Terry bấm nút trên thiết bị điều khiển từ xa. Các hình ảnh của CNN hiện ra dưới chân họ.
— Tiện lợi, cái bàn-màn hình này, phải không? Terry buột miệng, ra vẻ thích thú được dịp phô bày sự thông thạo về các trang thiết bị kỹ thuật của ngôi biệt thự, dù là vào 5 giờ sáng. Nếu ông muốn nó ngừng, chỉ nói đơn giản “ngừng”. Nó tuân lệnh qua tiếng nói, giống như nhiều thứ trong nhà này. Nhưng bà Shannon biết rành chuyện này mà! Lần cuối cùng đó, bà nhớ không? Bà kêu cứu tôi. Bà muốn xem CNN nhưng hệ thống này lại chuyển sang kênh Canal Plus đang chiếu phim. Và không phải bất cứ phim nào đâu nhé, phải không nào? Bà đang ở trong phòng “Toi”, và phòng này thì trước đó có một đấng nam nhi ở, tôi sẽ không nói là ai…
Bổn phận giữ gìn ý tứ mà!
Hắn ra vẻ bí mật, gây bực mình.
— Tôi đặt Kagébé canh tuần trước cửa chính, như thế thì nó không làm phiền ông nữa, - hắn nói tiếp về phía Pierre. - Dù gì thì tôi cũng thực sự thấy vui là nó hoạt động được, cái con chó này. Ông Barett thích là…
Hắn bỗng lộ vẻ nhớ ra là ông chủ của hắn đã không còn ở trên cõi đời này nữa. Nhưng điều này không có vẻ làm hắn xúc động quá mức. Cho dù Amelia có bán lại ngôi nhà đi nữa, hắn sẽ biết cách tự bán cho chủ mới. Những tên gác dan công nghệ cao, không phải cứ ra đường là tìm được họ ngay.
Pierre lảng sang chuyện khác.
— Terry này, hãy nói tôi nghe: hồi nãy, trước khi làm quen với… Kagébé của anh, tôi tin rằng đã thấy ánh sáng ở hồ tắm và ở trong vườn.
— Vào lúc mấy giờ?
— Cách đây gần như một tiếng, tôi nghĩ có lẽ là 4 giờ 30.
— 4 giờ 30, thảo nào! Đáng lẽ tôi phải báo trước cho ông! Nhưng ông đến đây quá muộn đêm nay. Đó là hệ thống điện tử của ông Barett. Vào lúc 4 giờ 45, mỗi sáng, ông ấy bơi lội nửa giờ. Vì vậy mà khi trong nhà có người, đèn đuốc và máy sưởi tự động bật lên lúc 4 giờ 30 ở hồ bơi.
— Nhưng phòng khách, nó tự bật sáng khi có người đi vào phải không?
— Đúng vậy. Về phần hồ bơi thì ông Barett thấy ấm cúng hơn khi nó được thắp sáng và sưởi nóng khi ông bước xuống. Nhưng lát nữa tôi sẽ sửa đổi các bộ điều chỉnh. Như vậy ông sẽ không bị làm phiền nữa.
Emma hớp một ngụm trà, rồi hướng về Pierre, nói:
— Phần mềm của việc bật sáng tự động là do một lập trình viên trẻ người Ấn Độ thuộc Controlware phát minh ra đấy. Hơn nữa, con chó-rô bốt cũng vậy.
“Tất cả mấy thứ này tóm lại là ít đắt tiền hơn là đi thuê một tên gác dan làm việc ban đêm với giá lương Pháp”, Pierre tự nhủ. Barett, như thường lệ, đã tính toán kỹ.
— Ta đi đến đó chứ? - Anh đề nghị đột ngột.
— Nếu anh khỏe rồi, OK.
Emma kéo tóc ra đằng sau và xoa bóp màng tang, như thể nàng muốn làm nhẵn các nếp nhăn của mình. Rõ ràng là nàng hẳn là thích lên lại phòng để trang điểm. Pierre suýt chút nữa buột miệng nói với nàng là anh thấy nàng khá gợi tình như thế này. Nhưng anh cúi đầu xuống và chợt thấy các hình ảnh trên đài CNN.
— Chờ đã, nhìn này!
Anh chỉ ngón trỏ vào màn hình TV đang phát ra các hình ảnh Trung Quốc. Trên thanh ngang nằm phía dưới màn hình, ta có thể đọc: CNN.
Special Report. Environmental disaster in Hong Kong[13].
— Bật tiếng lên được không? Cái điều khiển đâu rồi? - Anh vừa hỏi, vừa quỳ xuống trước màn hình.
Nhưng Terry đã đi ra khỏi phòng trước đó rồi.
— TV! Âm thanh! Tăng lên! - Emma nói, rõ ràng từng âm tiết một.
Một màn hình thứ hai, gắn trên tường, bật lên với âm lượng hoàn hảo; nó phát những hình ảnh giống như ở cái bàn thấp. Đặc phái viên của CNN ở Hong Kong được thu hình từ hải cảng vắng vẻ. Anh ta giải thích là sự ô nhiễm trong hệ thống phân phối đã làm cho cư dân thành phố này không có nước sạch. Các quan chức Tàu, như thường lệ, tìm cách làm nhẹ bớt tác động của cái tin này. Họ nói đến một tai nạn công nghiệp giới hạn ở phía Bắc thành phố thôi. Một vài ca rối loạn đường ruột được nêu lên. Nhưng nhà báo CNN đề cập đến bản tin không chính thức. Khắp cả vùng Hong Kong đều bị nạn. Ba trăm triệu[14] người có nguy cơ bị nhiễm. Hệ thống phân phối nước sạch đã bị tê liệt từ nhiều tuần lễ nay. Và cuối cùng, giả thuyết một cuộc mưu hại khủng bố. Dù rằng, ở điểm này, CNN tỏ ra thận trọng. Những hệ thống cấp nước sạch ở Trung Quốc, thực vậy, trong tình trạng bình thường, là đã bị ô nhiễm rồi, đến mức người ta không thể gạt bỏ giả thuyết là sự ô nhiễm sẵn có bị trầm trọng thêm một cách ngẫu nhiên.
Pierre, phần anh, thì than ôi không còn hoài nghi gì nữa. Các tên khủng bố đã nắm lấy việc kiểm soát hệ thống cấp nước và gây xáo trộn để làm sinh sôi nảy nở tràn lan một con vi khuẩn trong các ống nước. Chỉ đơn giản một con escherichia coli[15] là đủ gây ra thiệt hại nặng nề. Anh hiểu ngay lập tức là kỹ thuật này có thể áp dụng trong bất cứ thành phố nào trên thế giới. Rùng rợn thật! Ta cũng có thể tự hỏi tại sao New York hay Los Angeles chưa bị đụng đến.
Pierre đổi sang đài TF1. Những phim hoạt hình thường phát vào sáng thứ bảy đã nhường chỗ cho một bản tin ngắn đặc biệt. Ở Thụy Sĩ, nơi mà vài ca tiêu chảy không hiểu từ đâu ra đã được chẩn đoán, chính phủ kêu gọi dân chúng không tiêu thụ nước máy nữa và nên tích trữ nước uống được. Ở nước Anh, Quốc hội đã họp khẩn cấp để tranh luận về chuyện này. Ở Paris, người phát ngôn của chính phủ xác định là trong nước Pháp các hệ thống cấp nước vẫn nằm trong vòng kiểm soát và tất cả những biện pháp an toàn đã được áp dụng.
— Chẳng đáng tin chút nào! - Pierre kêu lên. - Chúng làm lại cú Tchernobyl[16] để chơi ta.
Người đọc tin loan tiếp là các bộ trưởng Môi trường của nhóm G8 sẽ được triệu tập đến Bruxelles cho một cuộc họp thượng đỉnh đặc biệt.
— Em muốn họ quyết định gì chứ? - Pierre bực tức buột miệng. - Họ không thể làm được gì đâu, tuyệt đối không.
— Nhưng chúng ta thì được đó.
Với một ngón tay vuốt nhẹ mặt bàn, Emma đột ngột tắt TV. Sắc giọng của nàng khi buột miệng thì hàm ý không chấp nhận để ai bàn thêm. Cùng lúc ánh mắt nàng hỏi han Pierre, như thể nàng muốn anh làm nàng yên tâm.
Anh đứng dậy.
— Không nên phí ngay cả một phút. Nhưng Emma này, ta bắt đầu từ đâu đây? Từ đâu? Dưới sàn nhà à? Sau các bức tường à? - Anh vừa nói, vừa chỉ tay quanh phòng.
Hôm trước, trong xe, Granier đã đặt ra câu hỏi này:
— Chúng ta sắp tìm chính xác cái gì đây? Và ở đâu?
— Chúng ta tìm vài hàng, hay có lẽ toàn bộ các trang chứa đựng những hướng dẫn về lập trình, hay văn tự tin học, nếu anh thích hơn, - Emma đã trả lời.
— Vậy thì tìm nó trên một miếng giấy trong một cuốn vở à?
— Và tại sao không trên giấy da? Jean-Philippe, đừng ngớ ngẩn thế! Biệt thự Trianon, chính là giấc mơ của Dan đó! Một ngôi nhà không giấy!
— Ngay cả trong các phòng vệ sinh? - Granier cười nhạo.
Câu nói đùa của gã không làm ai cười, nhưng gã có lý: khó khăn nằm ở đó. Các hàng mật mã chắc có lẽ cất giấu trong một tệp tin học, nhưng tìm nó ở đâu? Trong một máy tính, dĩa CD-Rom, hay cái USB?
Pierre đứng dậy và đưa tay chống nạnh.
— Có lẽ ta phải hỏi Kagébé có ý gì không.
Đến lượt mình, anh cũng rơi vào sự trơ trẽn. Và nỗi lo âu nơi anh lớn dần. Ở đâu mà tìm ra cho được dấu vết của Le Nôtre trong cái khung cảnh lạ lùng này, giàu sang và tối giản cùng lúc, nơi ngự trị của tính trật tự, sự sạch sẽ và sự tổ chức? Tại đây, mỗi đồ vật đều có chỗ của mình, như trong một phần mềm. Đã biến mất những thứ choán chỗ trong tủ rộng, trên giá kệ, trong những ngôi nhà xưa ở Pháp. Tại đây, không có những ngăn kéo chứa đồ bí mật, những rương hòm bí ẩn, những tủ bàn giấy bị mối mọt, những thứ mà đơn giản chỉ qua sự hiện diện của chúng, tiết lộ ký ức của một nơi chốn. Nếu có ký ức thì chắc nó được che giấu, như những thứ còn lại khác, trong hệ thống dày đặc những dây cáp và những thiết bị thăm dò này, chúng cấu tạo ngôi biệt thự như một kiến trúc thứ hai, như một bộ xương thứ hai. Pierre cảm thấy điều đó: Barett đã xây dựng thành công, ngay trên khung cốt của ngôi biệt thự lịch sử đẹp đẽ của Elsie de Wolfe, một bộ sườn nhà cho riêng mình, làm bằng sợi và sóng vô hình, qua đó bộc lộ ra, trong nơi chốn lịch sử này, cái thói gàn cổ điển của người làm tin học: ngụy trang sức mạnh cực kỳ trong cái đơn giản cực kỳ – và sự tìm kiếm ám ảnh của riêng ông, Dan Barett: thực hiện cuộc phối ngẫu, trong cùng một sáng tạo, giữa cái cũ và cái mới, giữa lịch sử và tương lai, giữa nguyên thủy và chung cuộc. Như Thượng đế vậy, vào buổi hừng đông của ngày đầu tiên.
— Em chắc chắn là mật mã được cất giấu trong một máy tính, - Emma nói. - Em sẽ bắt đầu từ PC của Dan trong phòng anh ấy. Em đã muốn thử tìm tối hôm qua nhưng em không thể…
— Em rất bận mà, anh biết, - Pierre cắt ngang.
Emma không nói gì một lúc. Nàng đã hiểu anh rút cục muốn gì, cũng như câu hỏi mà anh đã dằn lòng không nói ra khi nãy.
— Anh đã thấy Jean-Philippe ra khỏi phòng em, đúng như vậy không? - Nàng kêu lên.
Pierre nhìn nàng chằm chằm, ánh mắt tối sầm lại.
— Đó không phải là chuyện như anh tưởng đâu. Anh có thể tin em ít nhất là một lần chứ?
Anh không trả lời.
— Em không xứng đáng để anh tin sao? - Nàng nài nỉ.
Nhưng lần này thì có chút gì đó bực dọc trong giọng nói của nàng.
— Khi một người đàn ông và một người đàn bà cùng qua đêm với nhau, - Pierre phun ra, - đó không bao giờ là cái gì mà người ta tin!
— Em không qua đêm với anh ta! Pierre này, em không thể giải thích cho anh ngay bây giờ, nhưng anh phải tin lời em, em thề với anh là…
Anh cắt ngang lời nàng, gần như ngoài ý muốn.
— Nghe này Emma, thẳng thắn mà nói, có giải thích thì cũng vô ích thôi. Anh bất cần mà.
— Ôi! Như cứt! Anh có lý đó, ta không nên mất thì giờ!
Giọng nàng đứt quãng như gỗ khô bị gãy.
— Vả lại, em đâu cần phải biện minh với anh, - nàng thêm rồi quay lưng.
Căn phòng của Barett được bày biện giống như phần còn lại của ngôi nhà. Sàn bằng gỗ sồi, sáng loáng. Một cái giường rất rộng. Một cái bàn màn hình. Hai ghế bành, một cái là ghế bập bênh, đặt trước lò sưởi. Phía trên lò ống khói, một màn hình phẳng gắn lên tường, to hơn những cái khác trong phòng khách, trên đó hiện ra bức ảnh của Amelia và hai đứa con chụp trước các kim tự tháp ở Ai Cập.
Dan hẳn đã có thể chuyển đổi cách trang trí cho thích hợp với Emma, ngay cả trong phòng riêng của mình. Nếu ông không làm thế thì có thể là nàng xem như không đặt chân vào đó. Nhưng ý nghĩ này không cản nàng tự ý đi thẳng đến cái giường, ngồi lên và quay mặt về bức tường.
“Bàn đầu giường. Mở ra.”
Một tấm đỡ lúc lắc chầm chậm ở cạnh giường, mở ra cho thấy một cái tủ nhỏ gắn sâu trong tường. Một đồ vật phẳng, màu xám, đặt ở đáy. Một laptop mốt mới nhất.
— Nó đó. Nhìn xem!
Pierre ngồi xuống giường. Lúc này, Emma giữ thế ngồi thẳng, tỏ ý muốn giữ khoảng cách với anh. Chỗ này, nghịch lý thay, lại tạo thuận lợi cho việc này. Pierre đã thấy từ trước cái loại living bed[17] này trong Wired, một tạp chí anh ưa thích. Màu đỏ tươi, rộng ít nhất năm thước vuông, gần như tạo ra một căn phòng cho riêng nó. Đồ phủ giường được trang bị bộ nhớ về hình dạng nên khi có ai ngồi hay nằm thì nó tạo ra một vị thế lý tưởng cho cơ thể người đó. Và cái giường trở lại hình dạng ban đầu, không lõm, không lồi, không nếp gấp, khi người đó rời nó. Những bộ vi xử lý và những thùng loa được đưa vào bên trong giát giường. Một màn hình plasma, có thể di dời, mở ra từ chân giường bên trái. Một cái tủ nhỏ, bên phải, đựng một máy pha cà phê nghe lệnh qua giọng nói.
Pierre khởi động laptop.
— Phải có mật khẩu chứ. Dấu vân tay? Tròng đen con mắt? Bản sao y ADN của Barett? Lần này, ông ta còn phát minh ra cái gì nữa, ông bạn Dan của em?
Pierre tìm cách làm không khí bớt căng thẳng. Anh thấy hối tiếc đã nói ra những lời lẽ khó nghe. Phản ứng phủ nhận của Emma khi nãy thì có vẻ thành thật. Đáng lẽ anh nên tin ở nàng, chấp nhận cho nàng hoãn lại lời giải thích. Và bây giờ thì nàng ngồi đó, bên cạnh anh, trên giường của Barett…
— Không phải thế đâu, - nàng trả lời mà không để ý đến vẻ mỉa mai của anh, - nhìn này! Mật khẩu. Chỉ cần gõ ra một cái. Có lẽ anh ấy để lại cái cũ.
— Cái cũ nào?
— Cái mật khẩu cũ đó. Cái mà anh ấy thường dùng ở nhà, trước khi anh ấy cho gắn các thiết bị thăm dò và sự nhận dạng sinh trắc.
Emma gõ các chữ trên bàn phím. Bảy. Viết hoa. APOLLON.
— Chạy rồi! Nhìn này…
Các biểu tượng bây giờ hiện lên trên màn hình. Giữa chúng là vài chữ tượng hình màu vàng. Chắc chắn đó là những hồ sơ của Barett.
— “Trianon”, “Controlware”, “Gia đình”… và “Le Nôtre”! Đây rồi, em chắc chắn nó đây rồi!
Pierre nhìn bàn tay Emma đang kéo con trỏ đến hồ sơ “Le Nôtre”. “Tất cả mấy thứ này đơn giản quá đi”, anh tự nhủ. Thật vậy. Hồ sơ này chứa đựng nhiều tập tin về Le Nôtre, tiểu sử, các công trình của ông, các sách và luận án viết về ông. Hai người mở ra tất cả và họ có thể đọc lướt qua.
Nhưng, ở bên trong thì không có gì cả. Chí ít là không có cái gì giống như những hàng mật mã.
Gần 6 giờ sáng rồi, và khi đụng đến tập tin cuối cùng, họ thấy là nó không chịu mở ra. Nó mang tên “Vườn”.
— Ồ không! Cái này được bảo vệ, mỗi khi có ai tìm cách vào! - Emma kêu lên.
— Đúng vậy, và anh không biết làm cách nào…
— Chờ chút!
Emma nói to về phía máy tính:
— Le Nôtre.
Không chút phản ứng.
— Em tưởng người ta mở được một tài liệu dễ như thế à?! - Pierre kêu lên.
Nàng lặp lại, to hơn:
— Le Nôtre!
Chẳng có gì động đậy trên màn hình máy tính. Nhưng một tiếng rít vang lên phía trên lò sưởi. Emma sửng sốt hét lên:
— Cái màn hình, trên đó! Pierre! Nhìn kìa!
❀ ❀ ❀
[1] Điệu nhảy gốc Tây Ban Nha cho một cặp đôi, lúc đầu nhanh sau chậm lại, thịnh hành ở Pháp nhất là vào thế kỷ XVII và XVIII.
[2] Ở đây có nghĩa là “Em” hay “Anh” (xưng hô tình cảm)
[3] Nghĩa đen là “Những năm điên cuồng”, chỉ giai đoạn từ 1918 (Thế chiến thứ nhất vừa chấm dứt) đến 1929 (cuộc Đại suy thoái kinh tế bắt đầu) với các nét tiêu biểu là ảnh hưởng văn hóa Mỹ lan tràn và sáng tạo nghệ thuật sôi động mà Paris là trung tâm.
[4] Ernest Hemingway (1899-1961), nhà báo, nhà văn Mỹ, giải Nobel văn học năm 1954. Tự sát.
[5] Viết tắt các từ tiếng Anh: “Very Important Person” (Người rất quan trọng).
[6] Một vùng biển nổi tiếng về du lịch mùa hè, thuộc bang Massachusetts (Mỹ).
[7] Từ chỉ chung giới thượng lưu và những người nổi tiếng, hay có vai vế trong xã hội ở Paris.
[8] (1884-1920), danh họa người Ý, thuộc trường phái Paris.
[9] (1869-1954), danh họa người Pháp, bậc thầy của trường phái dã thú (fauvisme).
[10] “Google Thời sự”
[11] Đến từ thành phố Carrara nước Ý, cẩm thạch ở đây nổi tiếng thế giới là đẹp và đắt.
[12] Viết tắt các từ tiếng Nga “Komitet Gossoudarstvennoi Bezopasnosti” (Ủy ban An ninh Nhà nước); là tên (từ năm 1954 đến 1991) của các cơ quan phụ trách tình báo và phản gián bên trong và bên ngoài Liên Xô.
[13] Có nghĩa “CNN. Bản tường thuật đặc biệt. Tai họa môi trường ở Hong Kong.”
[14] Không biết tác giả có nhầm lẫn không, chứ dân số Hong Kong chỉ khoảng 7 triệu người (năm 2009), và nếu tính cả tỉnh Quảng Đông sát bên cạnh (110 triệu ) thì cũng không thể lên đến con số ba trăm triệu người như tác giả viết.
[15] Thường được viết tắt là E.coli, là một loại vi khuẩn nằm trong đường ruột, do một bác sĩ người Đức, Theodor Escherich, khám phá ra vào năm 1885, nên nó được đặt theo tên ông.
[16] Một thảm họa xảy ra ở nhà máy điện nguyên tử Tchernobyl (nước Ukraina hiện nay) vào ngày 26-4-1986 khiến 336 ngàn người phải sơ tán và tái định cư.
[17] Có nghĩa “giường sinh hoạt”.