Cửa Mật

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
3

❊ ❊ ❊

Ngày trước…

Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời

Ngôi Lời là Thiên Chúa

Và ta chính là Thiên Chúa[1]

Khi anh lên mười thì vua Louis XIV[2] mê hoặc anh. Lên mười hai thì Napoléon[3]. Dân Pháp giả bộ tin rằng hoàng đế của họ thì cách mạng hơn Thái Dương Vương của họ. Nhưng theo anh thì hai nhà vua này không khác nhau lắm. Thực ra, anh chỉ quan tâm đến một chuyện thôi: làm sao bằng họ. Ghi tên mình, giống như họ, vào Lịch sử. Thế nhưng, chính sự tình cờ đã đưa anh đến trước mặt cái bí mật trong sự vĩ đại của họ. Cái bí mật sẽ giúp anh khắc sâu mãi mãi vào trí nhớ của con người. Hơn thế nữa: sở hữu trí nhớ đó.

Cho tới ngày hôm nay anh là người duy nhất nắm trong tay cái sự thật phi thường này. Em, người bạn tâm tình lâu năm nhất của anh, nếu em chịu khó nghe anh tới cùng, em sẽ trở thành người được ký thác một điều bí mật vĩ đại mà bao đời vua Pháp, trong suốt ba thế kỷ, đã khư khư giữ kín như bưng. Hàng trăm người đã chết vì nó… nhưng từ nay về sau nó có thể cứu vớt hàng triệu con người. Việc này chỉ còn tùy thuộc vào em thôi.

Trong từ vựng tiếng Anh có vài thành ngữ Pháp rất phổ biến. Ví dụ như “Rendez-vous” chỉ những cuộc hẹn hò tình tứ. “Fiancée” (vợ chưa cưới) hay “Café” (quán cà phê), cũng vậy. Nhưng thành ngữ mà anh thích hơn là “Cherchez la femme” (Tìm đàn bà cho ta). Ngay mấy tên lái taxi người Porto-Rico ở New York cũng biết. Nó hiện thực ghê gớm. Ngay từ căn nguyên vạn vật bao giờ cũng thấy xuất hiện người đàn bà… Ngay cả nơi anh – một người mà đời sống riêng tư thì nền nếp và tẻ nhạt biết mấy, không hấp dẫn chút nào đối với giới truyền thông – thì chỉ cần tìm ra người đàn bà – là em đó, trong trường hợp này – để đưa anh ra ánh sáng. Bây giờ thì em biết chuyện rồi đó, bởi vì em đang đọc những dòng chữ này mà.

Mọi sự bắt đầu từ ngày 11 tháng 9 năm 2003, sắp gần hai năm rồi còn gì. Ngày tháng đó, chẳng thể nào quên được. Amelia đã phiền trách anh đã không ở Mỹ để dự buổi lễ tưởng niệm cuộc tấn công vào World Trade Center. Thiếu lòng yêu nước, nàng bảo. Anh tin rằng nàng không bao giờ hiểu được cách anh yêu và bảo vệ nước mình. Đúng là anh chẳng thích chút nào mấy thứ quốc ca, quốc thiều, mấy thứ cờ hiệu, mấy lá cờ nhỏ in hình ngôi sao mà đồng bào chúng ta thường gắn trên các camping-cars[4], hay mấy thằng khùng phất lên, phất xuống trong các sân vận động. Đó là lý do tại sao anh không thích thể thao. Ngoại trừ một chút bơi lội và chạy bộ buổi sáng.

Buổi sáng đó, chính thế, đúng buổi sáng mà mọi sự bắt đầu, anh đang chạy bộ trong công viên Versailles[5]. Anh không biết trên thế giới có một nơi đi dạo nào đẹp hơn nơi này không. Khi ta đã thấy ở đây những tia sáng mặt trời đầu tiên đến đánh thức những đài nước, những pho tượng, những cây cao bóng cả có tuổi đời trăm năm, khi ta đã thấy bóng tối bắt đầu lan dài trên Tapis vert[6] và vạch ra những đường ranh chập chờn trên các lối đi, khi ta đã thấy, khi chiều xuống, pho tượng Apollon[7] sáng rực dưới ánh mặt trời cháy đỏ, ta sẽ không bao giờ quên đâu. Ta trở lại. Mùa đông, trong sự tĩnh lặng của Hameau de la Reine[8]. Mùa hè, trong buổi vũ hội công cộng dành cho du khách ở khoảnh vườn trước hồ nước Miroir (Gương). Versailles là một thỏi nam châm. Versailles là một người tình nữ. Versailles là ma túy. Ngay cả khi bận túi bụi suốt ngày khi ở Pháp, bao giờ chẳng thế, anh vẫn dậy sớm, năm giờ sáng, để chân mình đi theo những bước chân ngày xưa của Thái Dương Vương.

Vào thời đó, bao giờ anh cũng đến ngụ trong một cụm phòng của khách sạn Trianon Palace, không để tên thật. Anh bắt buộc phải dùng tên giả như thế vì tên thật của anh hầu như quá quen thuộc, ngay ở Pháp là nơi mà đôi khi anh còn có thể đi lại không ai nhận ra. Trời hơi mát lạnh, và một làn sương mù mỏng phủ lên Grand Canal[9]. Bằng bước sải dài, anh chạy dọc theo mặt nước, bờ phía Nam.

“Hai chục cây số một giờ, bạn chạy quá nhanh, chậm lại đi nào!” Tiếng nói tổng hợp đến tai anh thông qua mảnh che tai không dây nối với đôi giày báo cho anh biết khoảng cách đã chạy qua, vận tốc trung bình… và nhất là số lượng ca-lo-ri anh đã đốt. Anh cần tiêu chúng bớt: từ mấy tuần nay Amelia cứ làm áp lực với anh. Nàng không bỏ lỡ một cơ hội nào để chỉ đám mỡ bụng của anh đang có mòi bành trướng. Dạo này nàng ưa tố anh là đã buông xuôi quá nhiều chuyện bơi lội và chạy bộ. Nàng có lý chứ không phải chơi đâu, em à.

Không khí có màu be ngả về hồng, đầy hơi nước, tỏa ra mùi cỏ ẩm ướt không hẳn là mùi của đồng quê và cũng không hẳn là mùi của phố thị. Sau khi chạy bộ được mười phút, anh qua trước bể nước Apollon, và cũng như từ trước đến nay anh thấy cầm lòng không đậu, thích thú ngưỡng mộ vóc dáng vị thần Mặt trời trẻ trung này, tay cầm cương điều khiển chiếc xe tứ mã rẽ nước mạnh mẽ, có bốn thần biển đầu người đuôi cá và thủy quái bao xung quanh. Những tác phẩm điêu khắc của Tuby[10] sáng rực dưới ánh nắng đến từ phía Đông đã lôi cuốn một số người. Anh cũng bị lôi cuốn như vậy nữa, anh thú nhận với em đó, dù anh hầu như muốn cưỡng lại.

Anh tiếp tục chạy chậm, ngược lại Grande Perspective: le Tapis vert, cái thảm cỏ dài cắt xén đều đặn với những bức tượng đặt dọc theo hai bên; bể nước Latone[11], một tác phẩm điêu khắc khổng lồ mà trên đỉnh là tượng bà mẹ danh tiếng Latone với các đứa con bám vào vạt áo đi theo. Nhìn về phía sau là một trăm bậc thang rồi tòa lâu đài nằm ngược sáng. Và khắp nơi là bóng của các vua chúa, của các hoàng hậu, của Hoàng đế, bóng của văn học và nghệ thuật. Thú vị cực kỳ! Lần nào cũng thế. Có vẻ như xa xôi lắm rồi, Thung lũng Silicon[12] với những ngôi nhà tầm thường nằm dọc theo xa lộ số 1, Manhattan[13] với những văn phòng treo trong mây, Boston với những khu vực riêng biệt tập trung chất xám, nơi mà anh đã chọn đặt hội sở cho Controlware cách đây hai mươi năm… Nước Mỹ, những thành phố thì yên bình, ít khi sinh chuyện, những khu tập trung các doanh nghiệp mà ký ức thì chỉ hai cái đĩa mềm là đã chứa đủ rồi. Nơi đây, trước cái viễn cảnh uy nghiêm và cổ lỗ, anh cảm thấy trào dâng trong người niềm vui thâm nhập vào Lịch sử. Cái lịch sử vĩ đại. Của nước Pháp, chắc thế rồi, nhưng vào một thời điểm mà nó cũng là lịch sử của thế giới nữa.

Trên khoảng vườn trước bể nước Latone, anh chạy quanh co, để tập luyện mắt cá chân, giữa những cây cam trồng trong các chậu to bằng gỗ, rồi anh ngừng để thở trước bức tượng của người vợ cưng của Jupiter[14].

“Thư giãn cổ”. Tiếng nói của ông thầy điện tử lại vang lên, ra lệnh cho anh xoay nhẹ cái đầu nhiều lần nhằm thư giãn vùng cổ. Khi tập luyện anh bao giờ cũng làm tới nơi tới chốn, còn em, thời chúng ta còn chạy bộ với nhau, thì tập qua quít thôi, giống như đối với những thứ gì mà em thấy có vẻ không hữu ích hay hiệu nghiệm tức thời. Cằm anh vừa xoay đến vòng thứ mười và anh cũng còn mười vòng như thế theo chiều ngược lại, anh chợt nhận ra anh chẳng phải một mình ở đây.

Cách anh vài thước một người đàn ông cúi gập mình, tay cầm thước đo của dân hành nghề đo đạc, đang đo đường kính của bể nước Lézards[15]. Hay nói cho chính xác hơn, bể nước phía Bắc, bởi vì trong khoảng vườn của Latone có đến hai bể nước Lézards, đặt ở hai khoảng cách bằng nhau. Người đó độ ba chục tuổi, rất cao lớn, bộ dạng lêu nghêu, với khuôn mặt nhìn nghiêng sắc sảo, tóc hoe nhạt để dài từng lọn lưa thưa xuống cổ. Anh đưa mắt quan sát hắn ta chút xíu. Bể nước thì tròn, hắn có vẻ gặp khó khi cầm thước đo những vòng cung. Kỹ thuật của hắn làm anh ngạc nhiên: hiện nay, em biết rõ mà, đã có những cách đo đạc ít sơ đẳng hơn thế. Ngay cả ở Pháp.

— Hello![16]

— Chào ông!

Người đàn ông trẻ đứng dậy, nhìn anh chằm chằm, lộ vẻ tò mò. Hắn ta đã nhận ra anh sao?

— Tôi giúp anh một tay nghe?

— Vâng, cảm ơn, cảm ơn… Ông cầm giùm tôi cái thước. Ở đầu đó, được không?

Anh ngồi xổm, ấn ngón tay trỏ xuống dây băng dài của hắn. Sau này anh mới biết là hắn muốn đo khoảng cách từ đài nước Latone cho tới cuối khu rừng nhỏ có cây trồng dọc theo lối đi hoàng gia, phía bên trái, và để làm được thế, hắn phải băng qua bể nước Lézards.

— Có phải bạn là một trong những người làm vườn của lâu đài? - Anh hỏi. - Hay là thợ máy nước?

— Không hẳn thế.

— Tôi có thể hỏi bạn đang làm gì không?

Anh hỏi chuyện bằng tiếng Anh. Tất nhiên, tiếng Pháp của anh đã tiến bộ vượt bực từ ngày ở đại học. Anh nghe như em lên tiếng rồi: “Nhờ em đấy”!… Vâng, chắc vậy thôi, nhờ em, nhờ vào những “giờ xanh” của đôi ta, những khoảng thời gian trải qua để cùng uống rượu vang sau khi ân ái, là lúc em nói tiếng Pháp với anh lấy cớ rằng những lời lãng mạn đến với em một cách tự nhiên trong ngôn ngữ này… Thực ra, tiếng Pháp của anh, xin lỗi em nghe, được cải thiện nhờ ông thầy dạy kèm mà anh thuê sau khi chúng ta chia tay. Vậy thì anh cảm thấy thoải mái với thứ tiếng này, nhưng, em biết rõ anh quá mà, anh ghét chuyện chỉ nói được một cách gần gần đúng…

Người đo đạc đứng dậy, trả lời bằng tiếng Anh rất được:

— Ông tò mò thật… Người Mỹ lúc nào cũng tò mò.

Anh không nói gì. Tên này có vẻ hơi kỳ quặc và anh không có ý định ở lại đây hàng giờ. Tuy vậy, hắn thở dài trước khi chịu thỏa mãn sự tò mò của anh.

— Tôi làm gì ở đây ư? Bộ không có vẻ hiển nhiên sao? Tôi lập bảng ghi chép đo đạc.

— Bằng tay à?

— Vâng.

— Có lẽ anh là chuyên gia trùng tu? Anh đo bờ đá đài nước này trước khi sửa chữa nó?

— Nó còn hoàn hảo mà!

Hắn bắt anh phải chơi trò đánh đố đây, nhưng, như em biết, anh dễ mất kiên nhẫn lắm. Hắn nhận ra ngay.

— Tôi đo nó để… mà đo nó, - hắn nói. - Vì tôi đã đo tất cả đài nước, tất cả bể nước, tất cả lối đi, tất cả khóm cây, tất cả pho tượng! Chiều cao của chúng, chiều rộng của chúng, chiều sâu cái bệ của chúng…

Lần này, anh tự nhủ hắn không bình thường chút nào. Em mà thấy áo quần hắn mặc! Quần jean quá rộng, đôi giày bóng rổ đầy bụi bặm, áo thun ngắn tay màu đen mang cái khẩu hiệu “no future”[17] màu trắng, viết bằng tay, theo phong cách Ben – tên họa sĩ người Pháp mà em đưa anh đến gặp trong một buổi dạ hội cách đây vài năm. Đôi má hõm, và đôi mắt đen, nhỏ, tạo ra hai kẽ hở hẹp trên khuôn mặt xanh xao.

— Đo nhiều vậy chắc phải mất nhiều tuần lễ!

— Nhiều tháng, ông muốn nói thế phải không? Tôi chỉ mới bắt đầu mà. - Hắn mở to mắt, như thể hắn ngạc nhiên vì anh không hiểu ngay từ đầu. - Để làm ra một bình đồ, chứ còn gì nữa!

Lần này chính anh lại thấy lúng túng. Hắn liếc quanh một vòng rồi hạ giọng:

— Có vẻ không tin nổi nhưng thực sự là không có một bản vẽ mặt bằng nào cho những ngôi vườn Versailles.

Hắn đúng là bất bình thường rồi… Không có bình đồ nào cho mấy cái vườn này à?! Lời xác định của hắn có vẻ quá ngu xuẩn đối với anh khiến anh chẳng buồn trả lời. Bản vẽ ư? Anh đã thấy chúng quá nhiều trong những cuốn hướng dẫn du lịch hay sách viết về lâu đài Versailles, những bản phác họa có lời bình đi theo, chỉ ra từng vị trí những bể nước, tên gọi cũng như ý nghĩa của chúng… Chỉ có tên nào khùng mới quả quyết là không có bản vẽ. Vào lúc anh sắp sửa quay gót thì hắn giữ anh lại.

— Xin ông đừng đi! Chúng ta chưa giới thiệu với nhau… Tôi là Bertrand Leroux, kiến trúc sư cảnh quan. Và ông?

— Barett. Dan Barett.

— Dan Barett! - Hắn vừa nói vừa quan sát cái tai nghe không dây của anh. Anh cảm thấy ngay chút ít cái chuyện này rồi… - Ông đâu được coi trọng lắm ở Pháp, phải không? Bất kể hàng tỉ đô-la mà hiện nay ông tặng cho dân nghèo.

Anh chẳng muốn bàn cãi làm gì. Người Pháp – chúng ta thường nói với nhau về họ – không coi trọng những tên tỉ phú chút nào. Ngay cả khi những người này dành cả tài sản giàu có của mình để xóa đói giảm nghèo trên thế giới. Ở xứ sở này, người ta thích chính thị Nhà nước đứng ra giúp đỡ người nghèo hơn, bằng cách trích từ nguồn thuế thu từ người giàu.

May thay, Leroux đổi đề tài.

— Đồ che tai của ông trông lạ quá… Dùng làm gì vậy?

Anh đưa món đồ này cho hắn.

— Dùng để truyền tải thông tin đến tôi từ bộ vi xử lý gắn trong đôi giày. Tuyệt lắm đó bạn! Nó chỉ cho tôi biết khoảng cách, tốc độ, cường độ, tỉ lệ axit lactic và…

Leroux đưa mắt nhìn chỗ khác, lùi vài bước rồi cầm lại cái thước đo, bất ngờ tỏ ra hờ hững với lời anh nói, với sự hiện diện của anh. Làm như mấy thứ này chỉ là một chi tiết, nơi đây, trong khu vườn của các vua chúa. Ta có phải ở Mỹ đâu… Ở đó, bất cứ tên làm vườn nào cũng đã nhanh nhẩu ấn vào tay anh tấm danh thiếp của nó để xin việc làm.

— Ông nghĩ tôi kể chuyện ngớ ngẩn phải không? - Hắn thình lình buột miệng. - Ông đúng đó, có cả đống bản đồ, bản vẽ các ngôi vườn… Người ta còn phát không cho du khách ở cổng vào mà. Đúng là ai cũng biết tỏng cách thức các pho tượng, các khóm cây được bố trí ra sao, cái này thì tương quan với cái kia ra sao. Và cũng có những tranh khắc gỗ thời đó, những bản vẽ chi tiết và những bản vẽ tổng thể!

— Thôi nào! Vậy thì bạn đang làm cái quái gì ở đây?

Bộ tai nghe của anh cho biết cơ thể anh đang hạ nhiệt.

Lần này hắn đặt cái thước đo xuống đất.

— Điều mà ông không biết, - hắn nói có vẻ hăng lên, - là tất cả những bản vẽ này đều do mấy tên nghệ sĩ vẽ ra, chứ không phải do mấy nhà kỹ thuật! Hay là, ngày nay thì do mấy tên hành nghề tiếp thị đó! Ai nấy cũng nhào vô để phô trương những thứ có vẻ quan trọng đối với mình. Những tỉ lệ đúng đắn ư? Những đường vẽ chính xác ư? Quên cha nó đi thì tốt hơn! Này, ông thử đặt chồng lên nhau tất cả mấy cái bản vẽ này, thì ông sẽ thấy là chúng chẳng bao giờ vừa vặn, khít khao với nhau chút nào. Nhiệm vụ bất khả thi mà. Và tin tôi đi, không có một bản vẽ chi tiết và đầy đủ nào, chính xác đến từng tấc, theo đúng hiện trạng của cái công viên này.

— Vậy bộ anh tưởng là không có hình ảnh chụp từ vệ tinh sao? Một khi ta có những tấm ảnh này thì làm ra mấy bản vẽ mấy hồi!

— Chắc chắn thế rồi. Nhưng mấy ông bảo quản lâu đài Versailles lại không làm. Ông có thể tin tôi, tôi đã lục lọi kho lưu trữ của họ mà!

— Được rồi. Cứ cho là họ không lập ra các bản vẽ hay là họ không muốn đưa chúng ra cho ông thấy… Nhưng ông đâu cần mấy cha bảo quản này để có trong tay ảnh vệ tinh. Chỉ cần nhờ đến Shadows Local World là đủ rồi. Anh có thể phóng to hay thu nhỏ bất cứ lùm cây bụi cỏ nào, rồi đo đạc và…

— Shadows Local World? Được thôi… Nhưng ông đi tin cái thứ này à?

Với bàn tay hất lên, hắn làm anh hiểu là mạng Internet này, do Controlware phát triển ra, chẳng đáng quan tâm đến. Cái dân Pháp này thực là lạ lùng… rất ít khi nào chịu tiếp nhận các công nghệ mới. Nhất là khi chúng đến từ Mỹ! Có lẽ, anh tự nhủ khi nhìn hắn kéo cái thước đo, đó là biểu hiện lòng ganh tị của họ đối với đất nước anh. Một nước đã lấy mất đi niềm kiêu hãnh mà họ sở hữu, niềm kiêu hãnh chính ta là người khởi xướng chính trị và văn hóa của thế giới đây. Mấy anh Pháp này lạ thật đó! Lúc nào cũng sẵn sàng tố cáo chủ nghĩa đế quốc văn hóa của chúng ta, vậy mà lại dám gắn Bắc đẩu bội tinh cho Steven Spielberg![18] Đã xa lắm rồi thời hai nước chúng ta ngưỡng mộ lẫn nhau vô điều kiện! Thời mà hầu tước de La Fayette[19] là một anh hùng ở nước anh. Hay thời mà Benjamin Franklin[20] được yêu thích ở các phòng khách thính tại kinh thành Paris. Hay là thời Thomas Jefferson[21] được mời đến trước Quốc hội lập hiến Pháp[22]…

Anh tưởng hắn sắp nói rằng những hình ảnh của chúng ta không đủ chính xác hay những tấm ảnh chụp từ vệ tinh không cho phép đo được chiều cao hay thể tích. Nhưng không, câu trả lời lẹ làng, so với tuổi hắn, khiến anh ngạc nhiên không ít.

— Ông biết không, trong cuộc sống ta thường phải chịu cực để được việc. Ta phải làm việc theo kiểu Stakhanov[23]. Chỉ khi nào ta đã làm việc, tìm tòi, đổ mồ hôi sôi nước mắt, để khám phá sự việc thì nó mới hiện ra. Và vài sự vật chỉ nhìn được bằng mắt trần. Các sử gia không hiểu những điều này. Họ tìm cách dựng lại hiện thực từ các văn bản. Còn chúng tôi, những người tạo cảnh cho công viên, thì đi từ những cái gì thấy được, đo lường được, từ không gian có thực! Và khi nào còn những thứ kích thích trí tò mò, còn chưa xem đi xét lại tất cả cho kỹ càng, chúng tôi chưa ngừng tay đâu. Nhưng thôi, tôi chắc chắn là gần xong chuyện đo đạc rồi.

— Thế à? Và cái gì thì kích thích óc tò mò nơi bạn?

Để hai tay chống nạnh, hai chân căng, anh tập thư giãn lần nữa. Hắn cúi người lấy cái thước đo rồi ngước mắt nhìn lên anh.

— Ồ! Chẳng có bí mật gì đâu, - hắn nói với cái bĩu môi của người đã tỉnh ngộ. - Chỉ là những “lạc đà”. Công viên này thì đầy “lạc đà”.

— “Lạc đà” à? Camels?[24]

Hắn cười.

— Không, không phải mấy con camels đâu, không phải lạc đà hai bướu đâu… Không! Chính những cái bướu đó mà! Những cái bất thường! Người ta gọi chúng như thế, những cái kỳ quặc ở trong lòng một tổng thể ngăn nắp. Những cái không mạch lạc, nếu ông thích nói thế hơn, mà chúng tôi nhận ra trong ngôi vườn, cần nói thêm là về mặt khác, phong cách của ngôi vườn thì hài hòa lắm. Những chi tiết lạc điệu, những cái không hòa hợp với những thứ còn lại, ông thấy chứ? Tới hôm nay người ta đã nhận dạng được mười ba cái đó.

Anh quay người về phía mặt tiền lâu đài. Các bể nước, Latone, Lézards, các bậc tam cấp đi xuống Grande Perspective… Tất cả những thứ này, đối với anh, đúng là có vẻ hoàn toàn ngăn nắp, cân đối, được tính toán kỹ. Vậy thì cái thằng cha tạo cảnh vườn ngu xuẩn này tìm đâu ra những chi tiết khập khiễng chứ?

— Một ngôi vườn như Versailles đây không phải là một ngôi vườn, thưa ông Barett: đó là một palimpseste![25] - Hắn vừa nói tiếp, vừa đi vài bước về hướng Tapis vert. - Versailles là một loại giấy da mà trên đó người này, người nọ đã viết xen vào, và nói sao đây, hết lớp cặn này lắng đọng thì đến lớp cặn khác. Từ lúc ban đầu, đó là sự can thiệp từ ông làm vườn cảnh của vua Louis XIII, rồi từ Le Nôtre[26], các việc ông này làm thì quan trọng lắm, hơn xa việc các ông khác, để phục vụ vua Louis XIV đó, và cuối cùng là từ những người kế tục: Hardouin-Mansart, đúng thế, rồi sau đó là những người tạo cảnh của các vua Louis XV, Louis XVI hay Napoléon. Tất cả các ông này đều muốn nhúng tay mình vào đây.

Hắn vung tay chỉ cái viễn cảnh nhìn xuống tận Grand Canal. Nhưng rút cục hắn muốn gì cơ chứ? Có liên hệ gì với chuyện “lạc đà”? Đoán được là anh đang lúng túng, hắn xăn tay áo thun lên và dang tay chỉ một khoảng đất lờ mờ về hướng Tapis vert.

— Ông thấy pho tượng và cái vạc này không, đằng kia kìa?

— Ừ… thấy…

— Và ông thấy gì giữa hai cái đó? Một lối đi, phải không?

— Phải.

— Thế thì nó đấy! Một “lạc đà” đấy! Vào thời vua Louis XIV và Le Nôtre, chỗ bắt đầu lối đi bao giờ cũng đặt hai pho tượng hai bên. Chứ không phải một cái vạc và một pho tượng. Vậy thì, từ khởi thủy, lối đi này chắc là nằm cao hơn, ông thấy chứ, giữa hai pho tượng, đàng kia kìa, chỗ mà ngày nay chẳng còn gì hết.

— Trừ trường hợp ai đó đã di chuyển mấy pho tượng trong khoảng thời gian đó.

Leroux nhìn anh chằm chằm, rõ ràng là hắn ngạc nhiên nghe anh đáp trả nhanh lẹ đến thế.

— Chẳng có pho tượng nào di chuyển trong lịch sử cả. Chính cái lối đi mới bị dời chỗ…

Anh thấy cái trò này bỗng dưng hấp dẫn.

— Cho tôi xin lỗi nghe, nhưng tôi vẫn chưa hiểu được. Ai đã dời lối đi sang chỗ khác? Để làm gì chứ?

Bertrand Leroux đưa hai tay chống nạnh.

— Ông thấy đấy, vào thời vua Louis XVI, người ta thích những đường chéo lớn. Thế là họ dời những khóm cây của vua Louis XIV đi chỗ khác, đẩy lùi những lối đi, thay đổi các viễn cảnh… Ví dụ như ông hãy nhìn khóm cây của Dauphin[27] này. Khi Le Nôtre sắp đặt, tạo dựng nó vào năm 1664, nó mang tên khóm cây Bắc. Năm 1669, nó bị đổi tên là khóm cây Dauphin. Rồi một thế kỷ sau, để mở ra một cảnh quan nhìn từ xa, vua Louis XVI lại biến đổi nó, gọi nó là Quinconce du Nord[28] và mấy ông tạo cảnh bắt buộc phải vẽ ra, thay vì lối đi thì làm ra một thứ trông như lưỡi lê, lồi ra thụt vào – nói cho gọn, họ đã làm ra một “lạc đà”.

Anh chẳng hiểu gì hết ba cái chuyện này.

— Nhưng rút cục, khóm cây Dauphin đó, nó hiện hữu chứ. Tôi biết nó mà, ở đằng kia kìa! - Anh vừa đáp trả, vừa dang tay chỉ về phía bên phải.

— Vâng, nhưng vì vào năm 2001, người ta lại một lần nữa biến đổi Quinconce du Nord thành khóm cây Dauphin…

Anh ngồi xuống bờ đá bể nước, thấy bối rối vì mấy lời nói rối rắm của anh chàng trắc địa này. Đâu là mục đích cơ chứ? Một anh tạo cảnh vườn, dù đam mê đến mấy đi nữa, có thể nào hy sinh ngày giờ đi làm cái việc lỗi thời này của một tên đạc điền sao? Mà làm thế thì ít nhất phải có cái gì được thua chứ – cái được thua đó còn quan trọng hơn rất nhiều việc làm ra một bản vẽ các ngôi vườn chính xác hơn những cái trước.

Cuối cùng là anh cũng đặt ra câu hỏi.

— Nhưng rút cục thì bạn muốn chứng minh điều gì với tất cả số liệu đo đạc này?

Leroux chống tay bên hông nhìn anh chòng chọc.

— Chứng minh à? Còn nhiều thứ ở Versailles cần chứng minh lắm, thưa ông Barett. Nhiều thứ mà ta không biết về nguồn gốc những ngôi vườn này. Ông biết không, Versailles thì đầy những điều bí mật.

Hắn ngừng để đánh giá hiệu quả lời nói. Cái thứ thái độ vừa khó hiểu, vừa trịch thượng này khiến anh phát tức.

— Những bí mật ở Versailles à?! Bạn làm tôi mắc cười đấy! - Anh kêu lên, quay người về phía lâu đài. - Không lẽ bạn định nói với tôi là bạn đã khám phá ra chúng. Luận án về những bí mật ở Versailles thì chất đống trong văn phòng các quản đốc bảo tàng. Rồi trên Internet nữa, đầy ứ ra đó!

— Internet! Internet! Chỉ có Internet thôi sao! Có những cái mà máy tính không thể nào biết được.

Chỉ là vấn đề thời gian thôi, anh suýt chút nữa buột miệng.

Nhưng Leroux đã tiếp tục:

— Ông nhìn kìa, đàng kia đó, cái mặt tiền của lâu đài?

— Gần phòng của hoàng hậu phải không?

— Vâng. Ngày xưa có một cầu thang ở đó, nó được khám phá ra vào năm 1983 khi người ta đào đắp, sửa sang lại đất đai trước hội nghị G7[29]. Trước đó thì nó bị vùi lấp. Không một sử gia nào, không một nhà nghiên cứu nào đoán chừng được sự hiện hữu của nó. Trừ tôi, hay đúng hơn là trừ thầy tôi, ông thầy già ở trường dạy nghề tạo cảnh vườn, người đã chỉ ra cho tôi thấy mười ba cái “lạc đà” trong công viên này. Ông ấy đã tìm ra, chỉ nhờ vào cuốn sổ con và cái thước đo, là một cái cầu thang chắc phải hiện hữu ở mặt tiền Bắc, một cầu thang hình lục giác. Chẳng nhờ máy tính gì đâu, ông Barett ạ. Mà cũng không cần bằng cấp của “Monuments historiques”[30] gì ráo! Có lẽ chính vì thế mà chẳng ai muốn tin ông ấy về chuyện này cả…

Leroux quan sát vẻ mặt thận trọng của anh rồi nói tiếp để củng cố lời lẽ của mình:

— Ông hãy nhìn các mặt tiền kia! Tôi chắc rằng ông không bao giờ nhận ra cái gì hết. Cái đó không thấy được từ chỗ này đâu. Nhưng tôi đã đo rồi. Cánh Nam, phía tay phải ông, dài một trăm sáu mươi hai mét rưỡi. Và cánh Bắc, đúng một trăm năm mươi chín mét hai mươi chín centimét! Tại sao lại khác nhau vậy, ông không biết hả? Câu trả lời đâu có nằm sẵn trên Internet!

Hắn làm anh phát bực, vậy mà anh vẫn thích nghe hắn nói. Anh đã đọc nhiều luận án về Versailles nhưng chuyện này thực là…

— Lâu đài Versailles không có đối xứng, ông Barett ạ! Đơn giản thế thôi. Người ta đã làm nó méo đi, từng lanh tô[31] một, điều chỉnh nó cho hợp với các ngôi vườn!

Anh chàng tạo cảnh vườn bây giờ đang “bốc” giọng khoa trương kiểu thầy giáo giảng bài.

— Tất cả mọi người đều tin rằng quả tim của Versailles, kim tự tháp của nó, cột trụ của nó, viên đá khóa vòm của nó, chính là lâu đài này. Ông cũng vậy, phải không? Này, cho ông biết, thật là sai lầm đấy. Quả tim của Versailles, không phải nơi ăn, chốn ở này của vua đâu, mà các ngôi vườn của ông ta đấy. Tại đây, vườn là số một, lâu đài chỉ việc đáp ứng theo vườn mà thôi.

Leroux ngừng để đánh giá hiệu quả lời nói.

— Nhưng không thể thế được, - anh trả lời hắn mà trong bụng lại hơi dao động. - Lâu đài của vua Louis XIII xây trước rất lâu các ngôi vườn của vua Louis XIV mà…

— Chắc thế rồi, thưa ông Barett. Thực sự thế! Louis XIV đã xây dựng lâu đài của mình bằng cách ghép lên nhà trạm săn bắn của bố mình với một vỏ bọc bằng đá. Nhưng ông ta bắt đầu xây vào năm 1668. Vào thời điểm này, công việc xây vườn, tạo cảnh đã bắt đầu từ sáu năm trước đó rồi.

Leroux bây giờ nở một nụ cười đắc thắng.

— Ngôi vườn này là một công trình do con người làm ra đã đạt tới mức gần như hoàn hảo nhất mà tôi được biết. Vì thế mà tôi chưa ngừng trước khi hiểu hết mọi thứ trong việc xây dựng nó. Kể cả mấy cái bất thường đó. Ngay cả cái bất thường mà chẳng ai muốn nghe nói đến, cái không dính dáng gì đến dân làm nghề tạo cảnh vườn cả, thật tình mà nói…

— Thế à? Còn một “lạc đà” nữa à? - Anh buột miệng.

— Không, tôi nói về điều bí mật mà từ mấy thế kỷ nay thiên hạ vò đầu bứt trán tìm không ra! Điều bí mật liên quan đến trọng tâm của ngôi vườn.

— Anh muốn nói đến bể nước Latone à?

Hắn mỉm cười độ lượng, như một ông thầy đứng trước thằng học trò xứng đáng nhưng còn phạm đôi ba lỗi gì đó.

— Ông Barett à… Ông biết rành Versailles, nhưng không đủ. Ông chạy bộ tới bây giờ vẫn chưa đủ đâu! Latone, thưa ông Barett, là chấn tâm của Petit Parc[32]. Nhưng trọng tâm thực sự của Versailles chính là bể nước Apollon nằm dưới chân Grand Canal!

Anh xoay người về phía cái bể nước mà anh thích nhất, cách đó độ một trăm mét, phía dưới thấp. Thần Mặt trời, mà vua Louis XIV từng muốn đồng nhất với mình biết bao, có vẻ đang phi nước đại, uy nghiêm, hướng về phía bọn anh, tay cầm chặt dây cương các con ngựa như sắp sửa bay lên.

— Thế rồi sao? Có cái bất thường đây sao? Có con lạc đà kéo cỗ xe ngựa à? - Tính hài hước của anh bỗng thấy nhạt nhẽo.

— Ông Barett ơi, ông làm tôi ngạc nhiên ở chỗ này, Leroux nói một cách miễn cưỡng. Ông chẳng thấy gì cả sao? Ông có bao giờ để ý rằng cỗ xe ngựa của Apollon không ở đúng vị trí của nó không?

Anh thấy chán cứ phải học bài với thằng cha này, nhưng tính ham hiểu biết còn mạnh hơn nữa. Anh nghe tiếp.

— Mặt trời mọc từ phương Đông, sau lưng lâu đài. Nó đi lên, bay chậm qua các khu vườn phía trên con đường hoàng gia rồi lặn xuống ở phương Tây, phía cuối Grand Canal. Apollon được xem như đi theo mặt trời trong hướng di chuyển này bởi vì chính chàng ta là Mặt trời mà. Vậy mà, ông thấy đó, cỗ xe của chàng ta lại theo hướng từ Tây sang Đông. Nó chạy về phía lâu đài trong khi mặt trời lại rời xa chỗ đó. Khi mặt trời lên đến trên cỗ xe theo chiều thẳng đứng, lúc chính ngọ, thì nó chỉ gặp cỗ xe thôi thay vì đi cùng.

Anh chàng tạo cảnh nhấn mạnh thêm, vì sợ anh không hiểu.

— Apollon lẽ ra phải quay lưng về phía chúng ta; vậy mà chàng nhìn chúng ta!

Anh đành câm miệng. Rõ ràng quá rồi. Một điều hiển nhiên mà anh đã không thấy. Chính anh, chứ không phải ai khác. Anh, người đã từng nhiều lần đi dọc, đi quanh và ngắm nghía cái bể nước này! Làm sao mà anh đã không nhận ra được điều bất thường này? Trong các ngôi vườn hoàn hảo này, trong công viên này, được coi như đẹp nhất thế gian, chính đáng thôi, Le Nôtre và các đồng sự đã phạm một sai lầm thô thiển.

Cỗ xe ngựa Apollon bị đặt ngược hướng!

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên văn trong truyện: Au commencement était le Verbe – Le Verbe était Dieu – Et moi, j’étais le Verbe. (Phúc Âm theo Thánh Jean 1.1).

[2] Louis XIV hay Louis le Grand (Louis Đại Vương) (1638-1715), một ông vua lớn của nước Pháp, còn gọi là Le Roi- Soleil (Thái Dương Vương) thuộc triều đại Bourbon, lên ngôi từ nhỏ (1643) và trị vì cho đến khi chết ở Versailles.

[3] Napoléon đệ nhất (1769-1821), hoàng đế Pháp (từ 1804 đến 1814 rồi “100 ngày” năm 1815).

[4] Xe hơi tư nhân được trang bị để chở theo đồ cắm trại đi nghỉ hè.

[5] Versailles cách thủ đô Pháp Paris độ 14 cây số, phía Tây Nam.

[6] Le Tapis vert (Thảm xanh) là tên khác của Allée royale (Lối đi hoàng gia), một thảm cỏ hình chữ nhật rất đẹp, nằm trong công viên Versailles, giáp mặt phía Tây của lâu đài Versailles.

[7] Apollon (tên khác là Phébus): theo thần thoại Hy Lạp, là thần của cái Đẹp, Ánh sáng, Nghệ thuật và Thuật số.

[8] Thôn Hoàng hậu: Hoàng hậu Pháp Marie-Antoinette (1755-1793), vợ vua Louis XVI, thường đến đây ở; bà bị lên đoạn đầu đài tháng 10-1793 (thời Đại Cách mạng Pháp).

[9] Con Kinh Lớn (trong công viên Versailles) rộng 23 héc ta.

[10] Jean-Baptiste Tuby (hay Tubi) (1635-1700): nhà điêu khắc Pháp gốc Ý, nổi tiếng với nhóm tượng “Apollon sur son char” (Apollon cưỡi xe ngựa) đặt ở bể nước Apollon (Versailles).

[11] Latone: tên La tinh của nữ thần Hy Lạp Léto, mẹ của Apollon (theo thần thoại Hy Lạp).

[12] Nằm ở phía Bắc bang California, được xem là thủ đô công nghệ điện tử của nước Mỹ.

[13] Khu vực trung tâm của thành phố New York, nơi tập trung rất nhiều nhà chọc trời, kể cả Tháp đôi World Trade Center.

[14] Jupiter: theo thần thoại La Mã, là thần Trời, Ánh sáng, Sấm và Sét, ban phát của cải trần thế, bảo hộ cho đô thị và Nhà nước La Mã. Tương tự như thần Zeus trong thần thoại Hy Lạp.

[15] Con thằn lằn.

[16] Chào bạn, ông, bà….

[17] “Không tương lai”.

[18] Một đạo diễn điện ảnh Mỹ nổi tiếng.

[19] 1757-1834, tướng lãnh và chính trị gia Pháp, tích cực tham gia vào cuộc chiến giành Độc lập của người Mỹ từ năm 1777.

[20] 1706-1790, chính trị gia Mỹ, tham gia vào việc thảo bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (1776), đến Versailles thương thuyết về liên minh Pháp-Mỹ (1778). Cũng là nhà vật lý, phát minh ra cột thu lôi (1752).

[21] 1743-1826, chính trị gia Mỹ, tác giả chính của bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (1776), trở thành Tổng thống (1801-1809).

[22] Được thành lập ngày 9 tháng 7 năm 1789, trong cuộc Đại Cách mạng Pháp 1789.

[23] Tên của một thợ mỏ Liên Xô. Chỉ một phương pháp làm tăng năng suất lao động thông qua sự thi đua giữa những người lao động, được áp dụng ở Liên Xô từ năm 1930 đến 1950.

[24] Tiếng Anh, có nghĩa là con lạc đà.

[25] Bản thảo trên giấy da (parchemin, thường bằng da cừu hay da dê) mà bản viết đầu tiên đã bị chùi hay cạo đi và một bản mới được viết lại trên đó.

[26] André Le Nôtre (1613-1700): kiến trúc sư và nhà thiết kế vườn người Pháp nổi tiếng, đã tạo dựng nên danh hiệu “vườn kiểu Pháp”. Các tác phẩm của ông ở Versailles, Vaux-le-Vicomte, Sceaux… vẫn được người đời sau ngưỡng mộ.

[27] Hay là Louis de France (1661-1711), còn gọi là Le Grand Dauphin, con trai kế nghiệp của vua Louis XIV.

[28] Chỗ đi dạo có cây cối được sắp xếp theo ngũ điểm (bốn điểm ở bốn góc, và một điểm ở chính giữa).

[29] G7: viết tắt của “Group of Seven”, gồm bảy nước công nghiệp phát triển trên thế giới: Mỹ, Canada, Anh, Đức, Pháp, Ý và Nhật Bản.

[30] Chỉ cơ quan phụ trách việc bảo tồn, trùng tu những “Công trình kiến trúc lịch sử” đã được Nhà nước Pháp công nhận và xếp hạng.

[31] Tiếng Pháp “linteau”, là cái đà gánh phần tường ở trên cửa sổ, cửa ra vào…

[32] “Tiểu Công viên”.

hà băng, quản lý các cổ phần đầu tư của mình bằng Internet, sưu tầm các phao cứu đắm và những cuộc đi chơi xa ở công viên quốc gia Yosemite, và đôi khi… Tất nhiên họ vẫn xuất hiện như một cặp đôi mỗi khi có thể. Nhưng chỉ mỗi khi có thể thô
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Christine Kerdellant - Éric Meyer

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.