Đời Công Chức

Đời Công Chức

Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời dẫn

❊ ❊ ❊

Trong chốn quan trường, bạn biết những gì có thể thực sự không quan trọng, mà quan trọng là những gì bạn không biết! Bởi những thứ bạn không biết sẽ quyết định số phận của bạn hơn là những thứ bạn biết.

Đó là kinh nghiệm xương máu của nhà văn Vương Hiểu Phương. Ai cũng biết ông ấy đã có nhiều năm lăn lộn chốn quan trường, từng phải chịu lễ rửa tội không khác nào dưới hỏa ngục. Sau khi từ chức, ông ấy lập tức dùng ngòi bút để đào xoáy ý thức và linh hồn mình. Ý thức cũng như dòng máu chảy vào linh hồn, và linh hồn ông ấy lại giống con sóc nhảy nhót trong lồng. Chiếc lồng ấy do ai tạo ra? Qua quá trình tự ngộ, ông nhận thấy đó là “đạo”, rồi đem “đạo” ấy viết thành tiểu thuyết, nhưng không ngờ “đạo” thể hiện bằng tiểu thuyết lại trở thành mạng lưới các hình thức quan hệ giữa người và sự việc trong thế giới khách quan. Mỗi người vốn là một cá thể trong mạng lưới đó, điều đó chứng tỏ “đạo” chính là “mạng lưới”, như vậy trên thực tế mỗi người ai cũng là người trong đạo. Nhưng “đạo khả đạo, phi thường đạo”(1), vậy “phi thường” ở chỗ nào? Câu trả lời chỉ có thể tìm được ở chốn quan trường, bởi chỉ cái “đạo trong chốn quan trường” mới là “đạo trong đạo”, và càng là cái đạo phi thường. Nắm chắc được đạo quan trường là việc mà rất nhiều cán bộ công chức mong mỏi kiếm tìm, nhưng rốt cuộc “đạo” là gì, mọi người lại không có thời gian để tự ngộ, vì thế tất cả những điều chưa biết thường bị nhầm thành cái mình đã biết. “Đạo” cũng như một câu đố chìm vào trong những điều được cho là đã biết.

Vương Hiểu Phương luôn tự ví mình như cây sậy biết suy nghĩ, nhưng sau nhiều phen khổ tâm nghĩ ngợi, ông ấy mới nhận ra suy tư của mình đã biến mất trong đầm lau sậy. Không biết đã đánh mất mình ở đâu, vì thế ông mượn mấy câu trong kinh Phúc âm Gioan: “Thuở sơ khai có đạo, đạo tồn tại cùng thần, đạo chính là thần.” Điều khiến ông ấy không hiểu là đạo ở đây lại đã biến thành da thịt cơ thể, chả trách Faust(2) khi nghĩ về nguồn gốc của sự sống đã bất giác làm kinh động ma quỷ đang hóa thân thành con chó, chẳng lẽ thần chính là “Logos”? Không thể nào, vì Mephisto từng nói: “Mọi lý thuyết chỉ là màu xám, chỉ có cây vàng của cuộc đời mãi mãi xanh tươi.”

Từ nhỏ Vương Hiểu Phương đã giỏi trèo cây, hái quả. Trèo leo vốn là bản năng của loài người. Khi mở ra cánh cửa theo đuổi nguyện vọng chính trị, ông ấy cũng có cảm giác như khi trèo cây, tòa nhà văn phòng sừng sững trước mắt là cây đại thụ với cành lá sum sê. Điều khiến ông ấy không thể ngờ là cây đại thụ ấy, có thể ngồi hóng mát, nhưng không thể tránh mưa. Một trận mưa to gió lớn đột nhiên ập tới khiến ông như một con nhện, chỉ còn cách trốn vào kẽ vỏ cây. Đợi trận mưa gió tạnh rồi vội trốn chạy khỏi cây đại thụ, nấp vào đầm lau lách, nhưng rồi lại “trôi dạt không nơi đậu, buồn tênh một bóng hình.”

Sở dĩ nói “không nơi đậu” là vì Vương Hiểu Phương đã vội vã rời khỏi bờ này, nhưng vẫn mông lung chưa thấy bờ kia đâu. Ông ấy tưởng tượng mình như con đại bàng đang rỉa sinh mệnh của chính mình, khi nó dang đôi cánh suy tư bay cao, lại nhận ra đó là con đường trước đây mình từng đi qua, tuy là đường chốn quan trường, nhưng có chia ra: đường rõ ràng, đường mờ ảo, thậm chí có cả đường kín đáo. Những “con đường” ấy, tựa như chưa biết, nhưng kỳ thực đều đã biết, chúng cùng ẩn trốn trong chiếc cối xay. Chiếc cối xay ấy không tiến trước, cũng chẳng lùi sau, mà cứ xoay xoay không ngừng.

Vương Hiểu Phương bỗng nhiên đại ngộ, thấy mình trước từng vướng vào chiếc cối xay, còn nay lại đang lạc vào một đầm lau sậy. Ông ấy gọi điện cho bạn cũ là Lưu Anh Vũ nói về phát hiện này của mình, Lưu Anh Vũ cười ha hả: “Hiểu Phương, cậu có biết chiếc cối xay đó gọi là gì không?”

Vương Hiểu Phương ngượng ngùng: “Tôi gọi điện cũng là muốn được thỉnh giáo ông anh đây!”

Lưu Anh Vũ nói trúng phóc: “Chiếc cối xay đó có tên là Tầm Thường.”

Có thể Lưu Anh Vũ nói hơi quá khiến Vương Hiểu Phương vô cùng chấn động. Ông ấy trầm mặc hồi lâu rồi buồn bã nói: “Ông anh à, để ông anh nói vậy, tôi thấy mình như một con sâu đáng thương bị thói hư vinh đùa cợt. Thứ tầm thường lại không thay thế được ‘vô vi’ cũng chẳng đại diện cho ‘thuận theo cuộc sống’, gần đây tôi đang nghĩ về cái nội hàm tinh thần của cuộc sống tầm thường.”

“Hiểu Phương này,” Lưu Anh Vũ hưng phấn nói: “Đây không phải vấn đề ‘vô vi’ hay ‘hữu vi’, cũng không phải vấn đề thuận theo cuộc sống hay ngược với cuộc sống, mà đó là vấn đề của ‘đạo’. Kỳ thực, cái ‘đạo’ chân chính lại ẩn giấu bên trong nội hàm tinh thần của cuộc sống tầm thường. Chẳng phải cậu vẫn thường nói, nhiệm vụ của tiểu thuyết chính là phát hiện những điều bí ẩn nhất của mỗi con người đấy sao? Thực ra, những điều bí ẩn nhất ấy chính là bản chất của con người. Cậu đã nhiều năm lăn lộn trong chốn quan trường, sau khi từ chức lại luôn dùng tiểu thuyết để suy tư về nó. Tôi nghĩ thế này, liệu cậu có thể thông qua tiểu thuyết để hé mở nội hàm tinh thần của cuộc sống tầm thường này không?”

Lưu Anh Vũ là Tổng biên tập Nhà xuất bản Tác Gia, đã nhiều năm hợp tác với Vương Hiểu Phương. Hai người không chỉ có tình bạn thân thiết, mà ngay việc lựa chọn chủ đề tác phẩm cũng thường rất tâm đầu ý hợp.

“Ông anh à,” Vương Hiểu Phương hứng thú nói: “Ý anh là viết một cuốn tiểu thuyết dài phản ánh cuộc sống thường nhật của các công chức?”

Lưu Anh Vũ không trả lời thẳng, mà hỏi lại: “Hiểu Phương này, tuy cậu luôn bận lòng về quan trường, nhưng cậu có biết hàng ngàn hàng vạn cán bộ công chức đang nghĩ gì không?”

Vương Hiểu Phương chợt thông suốt, nói: “Xem ra ông anh muốn tôi biến thành con giun chui vào bụng cán bộ công chức để làm một cuộc thám hiểm tâm hồn hả!”

Lưu Anh Vũ nghe xong cười ha hả: “Hiểu Phương, vừa hay ngày mai tôi đi Thẩm Dương khảo sát thị trường sách, đến lúc ấy chúng ta cùng bàn bạc kỹ. Tôi hy vọng cậu có thể thông qua tác phẩm này xâm nhập thành công vào ‘pháo đài’, lôi hết những bí mật trong đó ra ngoài ánh sáng.”

“Ông anh,” Vương Hiểu Phương thích thú nói: “Đây là chuyến du hành mạo hiểm vào tâm hồn, gặp nguy hiểm chúng ta dù có biến thành bọ cánh cứng, anh cũng phải đồng hành với tôi đấy nhé!”

“Hiểu Phương,” Lưu Anh Vũ nói thản nhiên mà khôi hài: “Du hành vào tâm hồn phải tiến vào rừng rậm tối tăm, nhưng tôi không phải Virgil(3), có thể xuyên qua địa ngục để đến tịnh giới hay có thể rời khỏi tịnh giới để gặp được Beatrice(4) hay không, đều dựa vào cậu, tôi chỉ có thể làm một đốm ma trơi dẫn đường thôi.” Lưu Anh Vũ nói xong cười sảng khoái.

Gác điện thoại, Vương Hiểu Phương chìm vào trầm tư, ông ấy nhận thấy căn phòng vô cùng tĩnh lặng, bên ngoài thi thoảng có tiếng còi ô tô vẳng lại, lấp loáng một luồng sáng xẹt qua, đủ để Hiểu Phương còn có thể cảm thấy được mình đang tồn tại. Từ chức mười năm rồi, ông ấy đã trở thành một tác giả tên tuổi. Ngồi đọc sách trên sofa trong nhà, nhưng ông vẫn ngỡ như đang ngồi đọc báo trong phòng làm việc của chính quyền. Cái nỗi ám ảnh là công chức ấy thi thoảng lại giày vò, khiến ông ấy không thể sống chung được với sự thật trần trụi vốn có của nó.

Từ trong sâu thẳm, Vương Hiểu Phương rất ngưỡng mộ Henry David Thoreau(5) đã tự dựng cho mình một căn nhà gỗ bên hồ Walden. Nhưng đến khi thực sự kiếm tìm hồ Walden trong thế giới tinh thần, ông đã bất ngờ phát hiện ra căn nhà gỗ nhỏ đã biến thành một đại pháo đài, hồ Walden cũng biến thành một đại dương mênh mông. Trên bãi biển, người đến người đi, giữa đám người đông đúc rất khó có thể tìm thấy Henry David Thoreau, ông đã trở thành “người trên bãi biển” nổi danh.

Vương Hiểu Phương nghĩ đến Hutte – nhân vật trong tiểu thuyết của Patrick Modiano – từng nhấn mạnh rằng: “Thực ra chúng ta đều là những người trên bãi biển”, suy rộng từ câu đó thì “dấu chân của chúng ta trên bãi biển, chỉ có thể giữ được trong mấy giây”. Khi ấy, cuốn Hồ Walden trong tay Vương Hiểu Phương đã biến thành một bức ảnh cũ, ông bỗng nhận ra cảm giác mà đám công chức không thể xua đuổi được sinh ra từ tòa pháo đài đó, cuộc sống không thể đảo ngược mà bước sang thế giới của Kafka. Trong lòng ông không ngừng tự truy vấn chất thơ của cuộc sống đang ở đâu? Ông nhận ra cảm giác công chức đã thành chất thơ duy nhất của mình. Xem ra chất thơ đó rất lãng mạn, nhưng lại được quy định rất chuẩn mực. Đứng trước chất thơ theo quy định, quyền được thể hiện tâm tình của các nhà thơ là bình đẳng, nhưng không phải tất cả mọi người đều có thể là nhà thơ.

Vương Hiểu Phương nhận thấy mình trở thành một người không có chất thơ. Dường như việc ấy đã từng xảy ra ở một đất nước nào đó, suy đi nghĩ lại, ông ấy mới nhớ ra là ở “nước Kakani”, đó là một đất nước phù hợp cho những thiên tài phát triển. Ở đây, chỉ có thiên tài bị cho là kẻ thô thiển, chứ chưa từng xảy ra chuyện giống những nơi khác, đó là kẻ thô thiển được cho là thiên tài. Càng khác biệt hơn, đứng trước pháp luật tất cả công dân đều bình đẳng, nhưng lại không phải tất cả đều là công dân. Tất nhiên trong số những người không phải công dân, trừ cha mẹ và thân thích của công dân ra còn có các thiên tài. Ước mơ của Vương Hiểu Phương trên thực tế chính là được trở thành một thiên tài như vậy, ước mơ ấy dường như bẩm sinh đã có. Nhưng ở nước Kakani, những thiên tài như vậy lại không có cá tính. May mà Vương Hiểu Phương không sinh ra và lớn lên ở một đất nước như thế, do đó mới không bị mất đi chút chất thơ còn sót lại, dù chất thơ đó đã được quy định rõ ràng, nhưng cuối cùng lại bị nhấn chìm trong đống tơ rối của cuộc đời, nên ông đành phải trở thành quan liêu trong cuộc sống của mình.

Đến Thẩm Dương, Lưu Anh Vũ ở một khách sạn ba sao trông như pháo đài đá hình tròn. Mười giờ sáng, theo lời mời, khi đến sảnh lớn của khách sạn có hình giống như cái ống khói, trong đầu Vương Hiểu Phương lại hiện lên bao nhiêu trải nghiệm cuộc sống đã từng bị chôn vùi. Những trải nghiệm ấy giống như cuộn chỉ của Ariadne(6) tìm không ra đầu mối khiến ông ấy chợt có ý muốn được trở về trong “bụng mẹ”, nhưng rồi lại phải vội vã chạy vào thang máy.

Trong khi thang máy đi lên, Vương Hiểu Phương chợt hiểu ra một đạo lý, thực ra mỗi con người từ sau khi chui ra khỏi bụng mẹ đã bị lạc đường, cả cuộc đời đều đang tìm lại chính mình, tìm đường về nhà. Lưu Anh Vũ ở phòng số 2002, khi Vương Hiểu Phương ấn chuông cửa, ông ấy buột miệng nói nhỏ: “Số 2, Số 2 phố Hộp đêm.”

Khi ra mở cửa, Lưu Anh Vũ vẫn đang cạo râu. Ông ta có dáng vóc cao lớn khỏe mạnh, ánh mắt sáng quắc, toàn thân toát lên vẻ tinh anh lão luyện. Ông vồn vã mời Vương Hiểu Phương vào phòng, thích thú nói: “Hiểu Phương, thấy khách sạn tôi ở có giống pháo đài không?”

“Ông anh,” Vương Hiểu Phương phụ họa thêm: “Nếu anh thay dao cạo râu điện kia là bát nước xà phòng, trên bát đặt chiếc gương và một con dao cạo thì với vóc dáng của anh, giống Mulligan(7) dưới ngòi bút của James Joyce lắm đấy?”

“Hiểu Phương này.” Lưu Anh Vũ nói vẻ hào sảng: “Nói như vậy là cậu vào ‘thánh đàn của Thiên Chúa’ sao?” Hai người cùng nhìn nhau cười phá lên.

Căn phòng của Lưu Anh Vũ là phòng đơn, rất hẹp. Trừ chiếc giường đơn chỉ có một chiếc sofa, bên cạnh chiếc bàn viết nhỏ là một cái ghế tựa. Lưu Anh Vũ kéo chiếc ghế cho Vương Hiểu Phương ngồi. Sau khi yên vị, Vương Hiểu Phương nhấp ngụm trà rồi mỉm cười bảo: “Anh à, xem ra lần này anh đến chỉ là để cùng tôi bàn bạc về ‘Chân dung một công chức’ phải không?”

“Hiểu Phương này,” Lưu Anh Vũ suy nghĩ nói: “Không phải ‘Chân dung một công chức’, mà là ‘Tâm hồn một công chức’.”

“Anh ạ, một tâm hồn không nói rõ được gì. Anh phải biết rằng, mỗi người đều có hai tâm hồn, khi gặp phải vấn đề nào đó, hai tâm hồn ấy luôn tranh đấu với nhau, và vì thế chúng trở thành đồng lõa với nhục thể. Bởi vậy, nếu muốn viết phải viết về canh bạc giữa hai linh hồn.” Vương Hiểu Phương nói vẻ đầy tự tin.

“Điều đó không hề dễ, nếu biến cây bút thành dao mổ, mà chỉ để giải phẫu ý thức thì vẫn chưa đủ, cần phải đào sâu vào tiềm thức nữa. Cậu đã suy nghĩ cần phải viết thế nào chưa?” Lưu Anh Vũ hỏi.

“Tôi thường nghĩ, phía sau cuộc sống yên ổn thường ngày, đằng sau tâm linh tươi đẹp rạng rỡ, luôn ẩn giấu cuồng phong bạo vũ, luôn mở sẵn vực sâu không đáy. Cuộc chiến giữa thượng đế và ma quỷ luôn ẩn nấp ở nơi sâu nhất trong tâm hồn con người.” Giọng Vương Hiểu Phương đã hơi xúc động.

“Đó là vấn đề bản tính con người,” Lưu Anh Vũ suy tư rồi hỏi: “Hiểu Phương này, cậu thấy bản tính con người là lý tính hay phi lý tính?”

“Về điểm này trong cuốn Bút ký dưới hầm, Dostoevsky đã trả lời rồi. Nhân vật chính nói, phải biết rằng, mọi việc mà con người làm dường như chỉ là để chứng minh họ là người chứ không phải cái đinh vít. Khi sự việc đã đến giai đoạn tính toán và bảng biểu, chỉ còn hai nhân hai bằng bốn, thì còn ý chí cá nhân nào đáng nói nữa. Phải biết rằng, khi đến giai đoạn hai nhân hai bằng bốn tức là đã không còn tính đến sinh mệnh nữa, mà đã trở thành khởi nguyên của cái chết. Điều ấy chứng tỏ gì? Nó chứng tỏ số phận của con người tuyệt đối không phải được xây dựng trên chân lý hai nhân hai bằng bốn như thế. Nhưng trong cuộc sống của chúng ta, những chân lý như vậy lại luôn luôn đúng, nhất là trong cuộc sống của công chức. Bản tính của con người sao có thể thuần túy lý tính được? Xã hội của con người đâu phải là tổ ong, trong xã hội luôn tồn tại những nhân tố phi lý tính, những nhân tố này mới là nguồn mạch của sự sống và động lực cho tiến bộ xã hội.”

“Nhưng chúng ta thường bị nhét vào những khuôn mẫu lý tính, cuộc sống bị xếp đặt thành bảng biểu giống như những chiếc lon khiến mọi người chỉ có thể hành động lặp đi lặp lại trong cuộc sống.” Lưu Anh Vũ buồn bã nói.

“Cuộc sống kiểu chiếc lon ấy, dù hạnh phúc đến đâu thì cũng chỉ là hạnh phúc gượng ép, con người chẳng bao giờ chấp nhận biến thành ‘những phím đàn piano’ hay ‘một cái đinh vít’.” Vương Hiểu Phương vung mạnh tay nói.

“Hiểu Phương, đây là một thế giới phục tùng, mà phục tùng là một trong những quy tắc bất biến của chính trị học.” Lưu Anh Vũ cảm khái nói.

“Và quy tắc đó đã định rõ sự tầm thường cho thế giới quan chức,” Vương Hiểu Phương quyết liệt nói: “Anh đừng quên, cách an toàn nhất để chế ngự quyền lực chính là không làm gì, chính là Tầm Thường.”

“Nhưng phải chịu muôn vàn vất vả khổ sở mới chen lên được cây cầu độc mộc, ai lại cam chịu là người tầm thường?” Lưu Anh Vũ hỏi ngược lại.

“Ông anh, trong chốn quan trường, không cam chịu là nguy hiểm nhất. Trong mọi thứ truy cầu của con người, truy cầu quyền lực là cực đoan nhất. Quan hệ giao thiệp là ‘sự nghiệp’ mà công chức phải dốc toàn tâm toàn ý, mỗi người đều sống trong một ‘trạng thái điên cuồng’ bình tĩnh.” Vương Hiểu Phương nói đúng vào điểm yếu.

“Cái ‘trạng thái điên cuồng’ bình tĩnh ấy nhất định đòi hỏi phải có bản tính tinh thần sâu kín, cậu thể hiện nó thế nào?” Lưu Anh Vũ vội hỏi.

“Tôi nghĩ kỹ rồi, hình thức bút ký là cách nhìn thấu tâm hồn dễ nhất.” Ánh mắt Vương Hiểu Phương chợt sáng lên, nói một cách dứt khoát.

“Ý cậu là viết một cuốn bút ký về đời công chức?” Lưu Anh Vũ hỏi như chợt hiểu ra.

“Đúng.” Vương Hiểu Phương nói không do dự.

“Hay!” Lưu Anh Vũ hứng thú nói: “Ý kiến này hay đấy, nay số người đăng ký thi tuyển công chức mỗi năm lại đông thêm, có thể nói là thiên binh vạn mã tranh nhau chiếm một cây cầu độc mộc, đây đúng là ‘học nhi ưu tắc sĩ’(8). Theo lý mà nói, thời đại lấy việc làm quan là con đường duy nhất để giương danh với đời đã không còn tồn tại, vậy vì sao con người ta lại đắm đuối với việc làm quan nặng nề đến vậy?”

“Việc này có liên quan đến tôn giáo bản địa của chúng ta.” Vương Hiểu Phương lại nhấp một ngụm trà đáp.

“Tôn giáo bản địa?” Lưu Anh Vũ không hiểu.

“Đúng, trong đầu tôi thường xuất hiện một bức tranh thủy mặc, có đề là: ‘Cầu độc mộc ồn ã; Mộng Nam Kha vẫn nồng.’ Vương Hiểu Phương nói.

“Này, tôi vẫn chưa hiểu vì sao dân ta trọng quyền lực mà không trọng sáng tạo. Họ đâu biết thành công có hai loại: một là thành công tầm thường; hai là thành công cao thượng. Thành công tầm thường nhờ vào địa vị, tiền tài, thành công cao thượng dựa ở sáng tạo, nhưng sao một số người lại chỉ say mê thứ thành công tầm thường?” Lưu Anh Vũ hỏi với vẻ khó hiểu.

“Vấn đề này, anh đọc cuốn Người Trung Quốc xấu xí của Bách Dương là rõ ngay. Ông ấy nói, tự kiêu, tự ti chính là không có tự tôn, thiếu kỹ năng tư duy độc lập. Càng sợ tư duy độc lập càng không rõ đúng sai, chỉ biết té nước theo mưa, cuối cùng đều trở thành ba phải.” Vương Hiểu Phương nhìn Lưu Anh Vũ, thâm trầm nói.

“Tôi cảm thấy những điều Bách Dương nói mới chỉ là hiện tượng, chưa phải căn nguyên của vấn đề. Nhưng ông ấy đã chỉ ra được người Trung Quốc thiếu kỹ năng tư duy độc lập, sợ tư duy độc lập, nói cách khác cũng chính là chỉ ra một trong những nguyên nhân khiến dân ta không coi trọng sáng tạo.” Lưu Anh Vũ nói vẻ đầy cảm khái.

“Ông anh ạ,” Vương Hiểu Phương vuốt tóc nói: “Ông Bách Dương mới chỉ ra hiện tượng mà đã phải ngồi tù mười năm. Nếu lại còn chỉ ra căn nguyên, e rằng đã bị chém đầu rồi. Anh có biết tại sao chúng ta sợ tư duy độc lập không? Bởi tư duy độc lập tất sẽ nảy sinh tư tưởng! Mao Trạch Đông nói, một đốm lửa nhỏ có thể thiêu rụi cả cánh đồng, nếu trong đầu mỗi người đều có một tư tưởng độc lập thì đạo Nho của Khổng Phu Tử đã chẳng thể độc tôn!”

“Đúng vậy,” Lưu Anh Vũ thở dài đáp: “Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, điều đó đã quy định rõ ràng, bản chất nó chính là không cho phép anh có kỹ năng tư duy độc lập, không thể tư duy, cũng không dám tư duy, giống như đem rau quả đóng vào lon hộp, nhìn thì rất tươi ngon nhưng đã không còn tươi sống nữa.”

“Không có năng lực tư duy và tưởng tượng, tất nhiên sẽ chẳng thể nói đến chuyện sáng tạo. Nhưng tiểu thuyết không phải cái lon, cũng chẳng phải tổ ong, tổ kiến. Tiểu thuyết là để thí nghiệm tinh thần với con người. Tiểu thuyết gia phải như một người thợ lặn, lặn vào nội tâm con người, mở ra những vực sâu không đáy, khai quật những dòng dung nham ẩn giấu, tìm trăm phương ngàn kế để dung nham ấy phun trào.” Vương Hiểu Phương có vẻ hơi kích động.

“Hay lắm,” Lưu Anh Vũ hứng khởi nói: “Thế giới lon hộp là cỗ máy lý tính, tôi hy vọng thông qua tư duy trong bút ký Đời công chức cậu có thể mở được chiếc lon hộp ấy, dù đồ ở bên trong có ôi có thiu thì nó cũng là một trạng thái tự do. Thử chọc vào tổ ong, mới hy vọng có được mật ong thiên nhiên.”

“Ông anh không sợ tôi bị ong đốt sao?” Vương Hiểu Phương hỏi một cách hóm hỉnh.

“Người anh em, không vào hang cọp sao bắt được cọp con, cậu đã chọn nghề văn là chọn phải chịu khổ rồi. Nhân vật chính trong Bút ký dưới hầm(9) từng nói: “Khổ ải là chất xúc tác duy nhất của ý thức.” Lưu Anh Vũ nhìn đồng hồ rồi đứng dậy nói: “Lần này tôi đến đây, chủ yếu là để tiễn cậu bước vào chuyến thám hiểm tâm hồn vất vả này. Hai anh em ta lâu rồi chưa cùng say một trận, đi, trưa nay tôi mời cậu một trận say khướt mới được.”

Khi Vương Hiểu Phương rời khách sạn đã là ba giờ chiều, về đến nhà vẫn còn ngà ngà say. Trước nay ông ấy vốn không thích viết lách trên bàn làm việc trong thư phòng, mà thích nằm dài trên sofa trong phòng khách để viết. Trên sofa phòng khách sách chất đống, nó biến thành bàn viết và giường của ông. Hiểu Phương ngất ngưởng nghiêng người dựa vào sofa, mệt mỏi gác hai chân lên cái ghế vải thấp phía trước. Ông nhắm mắt, cảm thấy mặt nóng bừng, mí mắt nặng trĩu, từ từ đi vào giấc ngủ. Ông thấy linh hồn từ chốn tối đen biến thành đàn ong mật, kêu vo vo bay đến một vườn hoa. Biển hoa muôn màu rực rỡ, ông biết đó là thế giới mới, một thế giới tự do. Khắp chốn nơi đây đều là bờ bên kia, trong khi ông ấy đang hạnh phúc quên cả muốn về thì bị một tràng tiếng chó sủa làm giật mình tỉnh giấc.

Đó là tiếng con chó béc-giê lông vàng nhà hàng xóm ở tầng một, ban ngày nó được buộc ở gốc cây trước cửa, mỗi khi phát hiện ra mèo, nó lại sủa ầm ỹ. Vương Hiểu Phương chậm rãi mở to hai mắt, ánh nắng chiều còn sót lại chiếu qua ô kính cửa sổ rọi vào, thật ấm áp, ông ấy thầm rủa một câu: “Mephisto đáng chết, tên ma quỷ xấu xa trong địa ngục nhà ngươi!” Ông vươn vai, tiện tay cầm cuốn Faust, nhưng trong đầu lại nghĩ đến việc bắt đầu cuốn bút ký Đời công chức. Khi vô tình giở đến chương Hoàng hôn thì cơn buồn nôn ập đến, ông vứt vội cuốn sách trong tay, chạy vào nhà vệ sinh rửa mặt để đầu óc tỉnh táo đôi chút. Vừa rửa mặt ông vừa nghĩ: “Trái tim ngươi sao nặng nề đến vậy hả Vương Hiểu Phương đáng thương? Ta không còn nhận ra mi nữa rồi!”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.